Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Tam Hợp Phái

Bài tổng quan

Thiên Phủ ở Tị Hợi và Thiên Đồng Thái Âm ở Tí Ngọ

Tử Vi Nam Phái - Tam Hợp Phái21/09/202618 phút đọc3 lượt đọc
Thiên Phủ ở Tị Hợi và Thiên Đồng Thái Âm ở Tí Ngọ

Người thì bề ngoài chẳng thấy thành tích gì mà trong vô tình đã dựng được cơ nghiệp, người thì xoay xở suốt đời rốt cuộc tay trắng. Kho báu của Nam Đẩu chia hai nẻo như thế, còn cặp sao mềm mại nhất Đẩu Số lại nhờ một lưỡi kiếm bên cạnh mà nên chuyện.


CÓ NGƯỜI CẢ ĐỜI NHÌN VÀO THÌ CHẲNG THÀNH TÍCH GÌ ĐÁNG KỂ, NHƯNG BÊN TRONG VÔ SỰ; LẠI CÓ NGƯỜI THAY ĐỔI LIÊN MIÊN MÀ RỐT CUỘC KHÔNG ĐƯỢC GÌ. Đó là hai nẻo của Thiên Phủ độc tọa ở Tị Hợi. Sang tinh hệ kế bên, "Thiên Đồng, Thái Âm" ở Tí Ngọ cũng chia hai, nhưng lần này ranh giới nằm ở chỗ có chịu tôi luyện hay không, và cổ nhân đặt cho nó cái tên "ngựa ở đầu thành mang kiếm".

Thiên Phủ độc tọa ở hai cung Tị hoặc Hợi

Thiên Phủ độc tọa ở hai cung Tị hoặc Hợi, đối cung là "Tử Vi, Thất Sát", cung tam hợp là Thiên Tướng độc tọa và mượn "Vũ Khúc, Tham Lang". Các sao hội hợp phần nhiều là sao quyền lực và dục vọng, vì vậy mà tính bảo thủ của Thiên Phủ độc tọa cũng ít hơn. Muốn phân biệt tính chất của Thiên Phủ ở hai cung này, cần phải xem nó thuộc loại "tường hòa" hay "quyền biến".

Thiên Phủ thuộc loại "tường hòa" bề ngoài thấy như không có thành tích lớn lao gì, nhưng thực ra trong vô tình đã lập nên thành tích; Thiên Phủ thuộc loại "quyền biến" thì cuộc đời nhiều thay đổi, nhưng rốt cuộc không được gì. Cho nên cuộc đời của Thiên Phủ thuộc loại "tường hòa" khá ổn định, còn cuộc đời của Thiên Phủ thuộc loại "quyền biến" thì nhiều lo lắng, buồn rầu.

Tường hòa hay quyền biến

Thiên Tướng nếu bị "Hình kị giáp ấn", Kình Dương và Đà La giáp cung, hoặc Hỏa Tinh và Linh Tinh giáp cung, đều chủ về nhiều lo lắng, buồn rầu. Bị lưỡng trùng giáp cung thì càng ảnh hưởng đến tính chất của Thiên Phủ, biến thành nhiều lo nghĩ, toan tính mà không cách nào giải quyết vấn đề, được thì ít mà mất thiếu nhiều.

Nếu Thiên Tướng được "Tài ấm giáp ấn", có Tả Phụ, Hữu Bật hội, và Thiên Khôi, Thiên Việt hội, thì ảnh hưởng đến khí chất của Thiên Phủ, khiến Thiên Phủ thành "tường hòa", hiểu biết mà còn có hành động thiết thực, vì vậy mà sự phát triển cũng lớn.

Lấy bản thân Thiên Phủ để nói, hội Hóa Lộc, hoặc ở cung hội hợp có Lộc Tồn, sẽ mất khí chất "tường hòa"; bản thân Thiên Phủ ở can Canh Hóa Khoa cũng vậy. Nếu Thiên Phủ là "kho lộ", "kho trống", thì thành tính chất "quyền biến". Thiên Phủ đồng độ với Lộc Tồn, tuy "tường hòa" nhưng khí phách không lớn, vì đồng thời sẽ có Kình Dương, Đà La giáp cung; nếu là Hỏa Tinh, Linh Tinh giáp cung, thì tính chất chuyển thành "quyền biến".

Thiên Phủ ở can Nhâm Hóa Khoa cũng vậy, vì đồng thời Vũ Khúc sẽ Hóa Kị đến hội. Thiên Phủ ở cung Hợi đồng độ với Lộc Tồn, nhưng bị Kình Dương và Đà La giáp cung, cần phải được nhiều sao phụ, tá hội hợp mới là "tường hòa", nếu không vẫn chủ về "quyền biến"; không có cát tinh mà gặp sát tinh thì càng đúng. Vũ Khúc Hóa Lộc hoặc Tham Lang Hóa Lộc đều lợi cho Thiên Phủ thành "tường hòa", Tham Lang Hóa Kị ảnh hưởng nhỏ, rất kị Vũ Khúc Hóa Kị. Nhưng nếu Vũ Khúc Hóa Lộc, Tham Lang Hóa Quyền, mà Văn Khúc Hóa Kị ở cung mệnh, thì Thiên Phủ tuy "tường hòa" nhưng vẫn có chút "quyền biến".

Các cung hạn của Thiên Phủ ở Tị Hợi

Cung hạn "Thiên Đồng, Thái Âm" đồng độ, được cát hóa và có sao cát, thì lợi cho Thiên Phủ thuộc loại "tường hòa" đến, chủ về hưởng thụ; Thiên Phủ thuộc loại "quyền biến" tuy cũng có hưởng thụ, nhưng trong vận hạn vẫn gặp trắc trở. Nếu cung hạn gặp các sao sát, kị, Thiên Phủ thuộc loại "tường hòa" đến sẽ chủ về vất vả, khổ sở; còn Thiên Phủ thuộc loại "quyền biến" đến thì đời người nhiều biến cố nghiêm trọng. Xét ở phương diện khác, "Thiên Đồng, Thái Âm" còn chủ về tự lập, cho nên thông thường sẽ bất lợi cho Thiên Phủ, nếu ở đại vận lúc nhỏ, cần phải xem kĩ cung phụ mẫu để định cát hung. Ở lưu niên, cũng lợi cho Thiên Phủ thuộc loại "tường hòa" mà bất lợi cho loại "quyền biến"; loại "quyền biến" đến cung hạn này dễ bị phản kích, hoặc gây ảnh hưởng xấu rất sâu xa.

Cung hạn "Vũ Khúc, Tham Lang" đồng độ, nếu có Hỏa Tinh, Linh Tinh đồng độ, Thiên Phủ thuộc loại "tường hòa" đến thường thường là vận hạn phát đạt; còn Thiên Phủ thuộc loại "quyền biến" đến, bất quá là tốt nhất thời. Nếu cung hạn có cát hóa, sao cát hội hợp, Thiên Phủ thuộc loại "tường hòa" đến sẽ chủ về được đề bạt, hoặc đột nhiên gặp cơ hội tiến thân, từ đó đặt nền tảng cho sự nghiệp; nhưng Thiên Phủ thuộc loại "quyền biến" thì dễ sinh lòng thay đổi, làm lung lay sự nghiệp. Nếu cung hạn gặp các sao sát, kị, hình, Thiên Phủ thuộc loại "tường hòa" đến bất quá chỉ chủ về không được như ý, vất vả, khổ sở; nhưng Thiên Phủ thuộc loại "quyền biến" mà đến, thì thường vì lạm quyền mà chuốc tai họa. Ở lưu niên cũng có tính chất thuật ở trên.

Cung hạn "Thái Dương, Cự Môn" đồng độ, Thái Dương nhập miếu nên thích hợp với Thiên Phủ; Thái Dương lạc hãm thì không thích hợp. Lúc Thái Dương lạc hãm, Thiên Phủ thuộc loại "quyền biến" đến cung hạn này sẽ dễ chuốc oán. Nếu Thái Dương hoặc Cự Môn lại Hóa Kị, Thiên Phủ thuộc loại "tường hòa" đến cung hạn này bất quá chỉ chủ về vất vả và nói năng; nhưng Thiên Phủ thuộc loại "quyền biến" mà đến cung hạn này là nguồn cơn gây ra họa. Nếu cung hạn "Thái Dương, Cự Môn" có cát tinh và cát hóa, có cát hóa của đại hạn hoặc lưu niên xung hội, Thiên Phủ thuộc loại "tường hòa" đến thì sự nghiệp sẽ biến thành to tát; Thiên Phủ thuộc loại "quyền biến" cũng có thể được vận trình tốt nhất thời, tài lộc tăng.

Cung hạn Thiên Tướng độc tọa rất dễ luận đoán cát hung. Trong tình hình thông thường, cung hạn Thiên Tướng độc tọa chỉ lợi cho Thiên Phủ thuộc loại "tường hòa"; bất kể có sao cát và cát hóa hay không, Thiên Phủ thuộc loại "quyền biến" đến đều dễ chuốc thị phi, đây là vì tính chất của Thiên Tướng bất lợi cho Thiên Phủ loại "quyền biến". Nếu có Văn Khúc hoặc Văn Khúc Hóa Kị cùng bay đến cung hạn thì lại chủ về vì quyền biến, thủ đoạn mà gây ra phiền phức. Thiên Phủ đến cung hạn Thiên Tướng, không nên ở vị trí tối cao, nếu không sẽ bị bài xích, chèn ép; ở lưu niên cũng có tính chất này, nếu được cát hóa và có sao cát cũng không giúp được gì.

Cung hạn "Thiên Cơ, Thiên Lương" đồng độ, tuy chủ về mưu lược kế hoạch, nhưng bất lợi cho Thiên Phủ thuộc loại "quyền biến". Vì vậy, Thiên Phủ thuộc loại "tường hòa" mà đến cung hạn này, ở bản cung còn gặp các sao sát, kị, thì nên lui về phòng thủ thì có thể tránh họa; nhưng Thiên Phủ thuộc loại "quyền biến" thì hay khéo quá mà thành vụng, dẫn đến bị gây lụy. Thiên Cơ Hóa Kị bất lợi hơn đối với Thiên Phủ thuộc loại "quyền biến", chủ về gây ra sự phản kích, hoặc bị nói xấu, gièm pha; nếu lại gặp Kình Dương, Thiên Hình, sẽ chủ về phạm pháp, kiện cáo, ở lưu niên cũng vậy. Thiên Lương Hóa Khoa thì Thiên Phủ thuộc loại "tường hòa" ưa đến, ở lưu niên cũng chủ về được trọng dụng, mến tài; nhưng nếu Thiên Lương Hóa Lộc mà gặp các sao sát, hình, sẽ chủ về bị người ta bài xích, chèn ép.

Cung hạn "Tử Vi, Thất Sát" đồng độ mâu thuẫn với tính chất của Thiên Phủ, cho nên thông thường Thiên Phủ không ưa đến, dù ở lưu niên cũng không phải là vận tốt. Nếu cung hạn gặp cát tinh và cát hóa tụ tập, Thiên Phủ thuộc loại "tường hòa" đến sẽ chủ về nắm được quyền lực, nhưng không nên độc đoán, nếu không sẽ bị người ta công kích, khiến nội tâm rối rắm bất an; Thiên Phủ thuộc loại "quyền biến" đến cung hạn này chỉ chủ về có bề ngoài vẻ vang, nhưng trong thực tế thì tinh thần mệt mỏi. Nếu cung hạn gặp các sao sát, kị, hình tụ tập, dù Thiên Phủ thuộc loại "tường hòa" cũng dễ bị phá tài, nạn tai, bệnh tật; ở lưu niên tính chất này nhẹ hơn. "Tử Vi, Thất Sát" quá nặng uy quyền thì bất lợi cho Thiên Phủ, thông thường là sức khỏe bị hao tổn; nếu uy quyền bình hòa thì Thiên Phủ thuộc loại "tường hòa" đến sẽ chủ về có hư danh.

Một lá số Thiên Phủ ở cung phu thê

Có một lá số cung mệnh là "Vũ Khúc, Tham Lang", người sinh năm Kỉ nên Vũ Khúc Hóa Lộc, Tham Lang Hóa Quyền, còn có Hỏa Tinh đồng độ; nếu có Tả Phụ, Hữu Bật đồng cung thì kết cấu của cung mệnh rất tốt. Nhưng cung phu thê là Thiên Phủ độc tọa ở cung Hợi, có Thiên Mã đồng độ; đối cung là "Tử Vi, Thất Sát", có Đà La đồng độ, hội Thiên Tướng có Văn Khúc Hóa Kị và Thiên Lương Hóa Khoa giáp cung, và mượn "Vũ Khúc, Tham Lang" để hội hợp, là các sao của cung mệnh. Vì vậy Thiên Phủ của cung phu thê không phải là "tường hòa".

Đến đại vận Mậu Thìn, cung phu thê là "Thái Dương, Cự Môn", tuy Thái Dương Hóa Khoa, nhưng đồng độ với Văn Khúc Hóa Kị, lại mượn "Thiên Cơ, Thiên Lương" Hóa Kị xung khởi, còn có các sao đào hoa tụ tập đủ, lại có Linh Tinh ở đối cung xung hội, thế là vợ chồng li dị. Nếu Thiên Phủ ở cung phu thê của nguyên cục thuộc loại "tường hòa", thì các sao ở cung phu thê của đại vận không đủ để dẫn đến li dị. Năm Giáp Tí có bạn trai mới, là năm cung phu thê của lưu niên mượn "Thiên Cơ, Thiên Lương" hội "Thái Dương, Cự Môn", mà Thái Dương Hóa Kị, đoạn nhân duyên này cũng không thấy tốt.

"Thiên Đồng, Thái Âm" ở hai cung Tí hoặc Ngọ

Ở trục Tí Ngọ, hai sao mềm mại nhất của Đẩu Số ngồi chung một chỗ, và điều quyết định lại là một sao sát đứng bên cạnh.

"Thiên Đồng, Thái Âm" đồng độ ở hai cung Tí hoặc Ngọ, đối cung vô chính diệu, cung tam hợp là "Thiên Cơ, Thiên Lương" và mượn "Thái Dương, Cự Môn". Muốn luận đoán đặc tính của tinh hệ này, cần phải phân biệt chúng thuộc loại "tích cực" hay "tiêu cực", cổ nhân gọi là "chí cao" và "chí thấp".

Tích cực hay tiêu cực

"Thiên Đồng, Thái Âm" ở cung Ngọ khá tích cực, cho nên ưa Kình Dương đồng độ, gọi là "Mã đầu đới kiếm", chủ về trải qua phấn đấu mà thành phú quý. Ở cung Tí thì không ưa Kình Dương đồng độ, vì "Thiên Đồng, Thái Âm" ở cung Tí khá "tiêu cực", đời người không trải qua tôi luyện.

Thiên Đồng được cát hóa là chủ về tích cực, Thái Âm cát hóa là kế đó. Nếu Thiên Đồng hoặc Thái Âm Hóa Kị thì chủ về "tiêu cực", cũng không thành cách cục "Mã đầu đới kiếm". Thiên Đồng ưa hội hợp với Tả Phụ, Hữu Bật, sẽ tích cực hơn lúc hội hợp với Văn Xương, Văn Khúc.

"Thiên Đồng, Thái Âm" thuộc loại "tích cực" là có các sao phụ, tá hội hợp, còn có Kình Dương hội hợp, chủ về được kích phát; nhưng không nên đồng độ với sao không, nếu không, tuy "tích cực" nhưng nhiều không tưởng. "Thiên Đồng, Thái Âm" thuộc loại "tiêu cực" là cát tinh nhẹ mà sát tinh nặng; rất ghét Hỏa Tinh, Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp đồng độ. Nếu có các sao đào hoa tụ tập thì càng dễ rơi vào trăng gió, đời người do đó cũng thành "tiêu cực".

Hai sao "Thiên Cơ, Thiên Lương" hội hợp, trường hợp Thiên Cơ Hóa Quyền hay Hóa Khoa là tốt, Hóa Lộc thì không nên gặp đào hoa; trường hợp Thiên Lương Hóa Khoa là tốt, Hóa Lộc hay Hóa Quyền cũng không nên gặp đào hoa, chủ về sau khi phát đạt dễ vì ham mê hưởng thụ tửu sắc mà dẫn đến thất bại. Hai sao "Thái Dương, Cự Môn" hội hợp, nếu Hóa Lộc hay Hóa Quyền thì chủ về được người ngoại quốc hay người ở phương xa xem trọng. Cổ nhân nói "uy trấn biên cương" là có ý vị này: cách "Mã đầu đới kiếm" người sinh năm Mậu thì "Thái Dương, Cự Môn" ắt sẽ ở cung Thân, Thái Dương Hóa Lộc ở đại vận; người sinh năm Bính tuy phú quý nhưng ít ý vị "uy trấn biên cương" hơn, đây cũng là điểm để phân biệt, cho nên ảnh hưởng thành "tích cực".

Nếu "Thái Dương, Cự Môn" Hóa Kị, cũng ảnh hưởng khiến "Thiên Đồng, Thái Âm" thành "tiêu cực".

Các cung hạn của "Thiên Đồng, Thái Âm"

Cung hạn "Vũ Khúc, Tham Lang" đồng độ thông thường thích hợp với "Thiên Đồng, Thái Âm" thuộc loại "tích cực", chủ về trải qua rắc rối, khó khăn trước mới lập nên nền tảng sự nghiệp; "Thiên Đồng, Thái Âm" thuộc loại "tiêu cực" đến thì cũng có hưởng thụ nhưng lại dễ thất chí. Nếu cung hạn có cát hóa và hội sao cát, loại "tiêu cực" đến thì nên nâng cao lí tưởng; còn đối với loại "tích cực" thì đây là vận có tính tiến thủ, bất kể là đại vận hay lưu niên đều như vậy. Nếu cung hạn có các sao sát, kị, hình, là vận trình tôi luyện của loại "tích cực"; loại "tiêu cực" đến thì nhiều nạn tai, ở lưu niên cũng vậy. Cung hạn "Vũ Khúc, Tham Lang" rất ưa có Thiên Khôi, Thiên Việt vây chiếu, bất kể thuộc tính chất nào cũng đều được người ta trọng dụng, đề bạt; nếu cung hạn gặp các sao sát, kị là làm để bạt chỉ giảm bớt mà thôi. Cung hạn có Hỏa Tinh, Linh Tinh đồng độ, loại "tích cực" đến dễ giữ vững vận thế, còn loại "tiêu cực" đến thì hưng phát nhưng không được lâu.

Cung hạn "Thái Dương, Cự Môn" đồng độ mà Thái Dương cát hóa, đối với loại "tích cực" thường thường đây là đại vận hoặc lưu niên chủ về hưng phát; loại "tiêu cực" đến cũng nhiều thuận lợi toại ý. Nếu Thái Dương Hóa Khoa, loại "tiêu cực" đến chỉ được hư danh, còn loại "tích cực" đến thì lợi lộc nhờ danh tiếng mà có, ở lưu niên thì mức độ giảm bớt. Thái Dương Hóa Kị thì không nên đồng độ với Thiên Hình kèm có sát tinh, nếu không sẽ chủ về phạm pháp, hoặc bị gây lụy mà bị giáng chức. Trong các tình hình thông thường, cung hạn này ưa gặp các sao phụ, tá; bất kể lưu niên hay đại vận đều cát, loại "tiêu cực" đến cũng tốt nhưng mức độ không bằng loại "tích cực".

Cung hạn Thiên Tướng độc tọa bị "Hình kị giáp ấn", dù loại "tích cực" đến cũng chỉ là vận thế ổn định mà không phát triển, còn loại "tiêu cực" đến thì dễ bị áp lực. Nếu cung hạn có Hỏa Tinh, Linh Tinh hội hợp, còn gặp thêm Kình Dương, Đà La hội hợp, loại "tích cực" đến chủ về chuốc thị phi, không được như ý; loại "tiêu cực" đến sẽ dễ vì phẫn nộ mà phạm pháp, bị trắc trở. Thông thường, đối với "Thiên Đồng, Thái Âm" thì Thiên Tướng là cung yếu, chỉ nên im lìm, không nên cố tiến tới, ở lưu niên cũng như vậy.

Cung hạn "Thiên Cơ, Thiên Lương" đồng độ thích hợp cho "Thiên Đồng, Thái Âm" đến. Nếu cung hạn được cát hóa và có sao cát, đối với loại "tích cực" đây là vận hạn thu hoạch; đối với loại "tiêu cực" thì mức độ ít hơn, ở lưu niên cũng có ý vị này. Nếu Thiên Cơ Hóa Kị ở đại vận, đối với loại "tích cực" thì không được danh cao thì bị nói xấu; đối với loại "tiêu cực" thì phần nhiều chủ về kế hoạch thất bại, ở lưu niên cũng vậy. Cung hạn này rất kị Thiên Lương Hóa Lộc và Thiên Cơ Hóa Kị, bất kể "Thiên Đồng, Thái Âm" thuộc tính chất nào cũng đều nên đề phòng vì tài lộc mà chuốc thị phi; nếu lại gặp các sao sát, hình thì sóng gió không nhỏ.

Cung hạn "Tử Vi, Thất Sát" đồng độ, nếu quá nặng uy quyền thì loại "tích cực" cũng không ưa đến, e rằng sẽ bị cô lập; đối với loại "tiêu cực" thì phần nhiều đều cảm khái đời người là hư ảo. Nhưng ở lưu niên thì đây là cơ hội được hưng phát của loại "tích cực", còn loại "tiêu cực" nên nắm chắc cơ hội. Nếu cung hạn có các sao sát, hình quá nặng, thì bất kể thuộc tính chất nào cũng đều là vận chủ về nạn tai, bệnh tật; ở lưu niên thì mức độ giảm bớt.

Cung hạn "Liêm Trinh, Phá Quân" đồng độ mà Phá Quân Hóa Lộc thì rất cát lợi, loại "tích cực" đến có thể sáng lập sự nghiệp; ngay cả loại "tiêu cực" đến thì cũng có cơ hội đột phá. Cung hạn này rất nên gặp các sao phụ, tá, chủ về ít mất sức cho những toan tính, mà còn có thể nâng cao địa vị. Nếu cung hạn gặp các sao sát, kị, đối với loại "tiêu cực" sẽ gặp nhiều thị phi, trở ngại; gặp thêm các sao hình, hao, chủ về phạm pháp. Loại "tích cực" đến cung hạn này cũng nên giữ yên tĩnh mà không nên tiến thủ, ở lưu niên cũng như vậy. "Liêm Trinh, Phá Quân" rất kị có Hỏa Tinh, Linh Tinh cùng bay đến, chủ về vì tiền bạc mà chuốc họa; loại "tiêu cực" đến thì càng nặng.

Cung hạn Thiên Phủ độc tọa thông thường không thích hợp với "Thiên Đồng, Thái Âm", chủ về đình trệ, không tiến bộ; nếu Thiên Phủ là "kho lộ", "kho trống", thì càng vất vả, khổ sở. Nếu cung hạn được cát hóa, lại gặp "Tài ấm giáp ấn" đến hội, sẽ chủ về hưởng thụ phúc ấm, nhưng đồng thời cũng ngấm ngầm hao tổn; loại "tiêu cực" đến cung hạn này thì càng nặng. Đại vận gặp Thiên Phủ "sung mãn", đối với loại "tích cực" là vận trình chủ về kiếm tiền, còn đối với loại "tiêu cực" thì chủ về hưởng thụ. Nếu gặp Thiên Phủ thuộc loại "kho lộ", "kho trống", loại "tích cực" đến cung hạn này thì chủ về không kiếm được tiền, loại "tiêu cực" đến thì chủ về phá tài, nhất là phá tán tổ nghiệp; ở lưu niên cũng có ý vị như vậy.

Một lá số "Thiên Đồng, Thái Âm" ở cung tài bạch

Có một lá số an mệnh ở cung Thìn, vô chính diệu, mượn "Thiên Cơ, Thiên Lương" nhập cung, người sinh năm Mậu nên Thiên Cơ Hóa Kị, cung mệnh có Đà La; cung tài bạch cũng vô chính diệu, mượn "Thiên Đồng, Thái Âm" của cung Ngọ, mà Thái Âm Hóa Quyền, đồng độ với Kình Dương, đương nhiên cũng hội "Thiên Cơ, Thiên Lương" và "Thái Dương, Cự Môn". Cung tài bạch là cách cục "Mã đầu đới kiếm", cho nên thuở nhỏ nghèo khó, sau trung niên đến đại vận Mậu Ngọ, tài vận mới hưng phát.

Lúc này cung tài bạch của đại vận mượn "Thái Dương, Cự Môn" nhập cung, mà Thái Dương Hóa Khoa, cho nên công việc có tiếng tăm; nhưng cũng hội Thiên Cơ song Hóa Kị, may mà cung tài bạch có các sao tích cực, cho nên không sao, chỉ chủ về gian khổ, đồng thời bị đồng nghiệp đố kị. Đến đại hạn Kỉ Mùi, cung tài bạch là "Liêm Trinh, Phá Quân" bị Hỏa Tinh, Linh Tinh chiếu xạ, chủ về không nên tiến thủ; kết quả trong vận đã tự kinh doanh, nhưng tổn thất rất nặng. "Liêm Trinh, Phá Quân" thích hợp với "Thiên Đồng, Thái Âm" yên tịnh, vì vậy không ứng mở rộng sự nghiệp.

Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tam Hợp Phái

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Tam Hợp Phái