Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Tam Hợp Phái

Bài tổng quan

Thiên Lương, Thiên Phủ Hóa Khoa: an toàn kiểu cao quý, kiểu kho tiền

Tử Vi Nam Phái - Tam Hợp Phái26/09/202613 phút đọc5 lượt đọc
Thiên Lương, Thiên Phủ Hóa Khoa: an toàn kiểu cao quý, kiểu kho tiền

Thiên Lương Hóa Khoa biết lui vào một mình để tiêu tai giải nạn, dù có gặp tai ách cũng dễ chịu đựng hơn và chuyển nguy thành an nhẹ nhàng hơn, thích hợp với những nghề nghiệp tiêu tai giải khó cho người khác như y học, công tác xã hội. Thiên Phủ Hóa Khoa lại đi theo lối hoàn toàn khác, biến một kho tiền vốn dễ gian xảo thành nơi giữ chữ tín, chỉ cần có uy tín là thu hút được lòng tin của người khác, dù bản thân từng thuộc loại "kho lộ", "kho trống". Cùng một chữ Khoa nhưng một sao chọn cách ẩn mình để yên thân, một sao chọn cách gây dựng thanh danh bằng sự đáng tin, vậy đâu là ranh giới thật sự giữa hai lối an toàn tưởng như giống nhau này?


Thiên Lương Hóa Khoa: tiêu tai giải nạn nhẹ nhàng hơn

Thiên Lương là sao cao quý, Hóa Khoa khá hợp với khí chất của nó. Vì vậy có thể làm mạnh thêm tính chất hành động một mình, tuyệt đối không chịu bị cuốn theo dòng nước.

Thiên Lương Hóa Khoa còn có thể làm tăng trí tuệ, khiến khả năng lãnh ngộ tăng lên, do đó cũng làm tăng năng lực quan sát, cho nên cũng lợi về thi cử, nhất là phạm vi thi cử chuyên nghiệp.

Nhưng sau khi Thiên Lương Hóa Khoa, lại có nguy cơ tự sùng bái mình, vì vậy chẳng thể mang lại lợi ích thực tế, hoặc chỉ thu được lợi ích một cách giới hạn.

Thiên Lương vốn có bản chất tiêu tai giải nạn, sau khi Hóa Khoa, bản chất này càng rõ nét, có thể chuyển nguy thành an khiến cho vấn đề được giải quyết tận gốc, từ đó quét sạch những phiền phức kéo dài lâu nay. Ví dụ như người hay bị đau dạ dày, vì bị xuất huyết nên được trị liệu triệt để, nhờ vậy không còn bị đau dạ dày nữa.

Lúc Thiên Lương tiêu tai giải nạn, thường thường khó tránh phải dùng biện pháp mạnh, khiến cho người ta cảm thấy đau khổ. Nhưng sau khi Hóa Khoa, biện pháp sẽ ôn hòa hơn, đau khổ cũng ít hơn.

Người Thiên Lương Hóa Khoa thủ mệnh thích hợp với các nghề nghiệp về y học trị liệu, công tác xã hội; đây là mưu sinh bằng cách tiêu tai giải khó cho người khác, nhờ vậy cũng giảm bớt khó khăn của bản thân.

Thiên Lương Hóa Khoa ở Tí, Ngọ

Người Thiên Lương Hóa Khoa thủ mệnh ở hai cung Tí hoặc Ngọ, có Thái Dương vây chiếu; cung tam hợp là Thiên Đồng độc tọa và "Thiên Cơ, Thái Âm". Thiên Lương ắt sẽ có Lộc Tồn đồng độ hoặc vây chiếu, vì vậy có thể thành cách cục "Dương Lương Xương Lộc".

Người thành cách "Dương Lương Xương Lộc", do Thiên Lương Hóa Khoa, sẽ làm mạnh thêm bản chất "Dương Lương Xương Lộc". Cho nên lợi về thi cử, cạnh tranh. Dù không gặp Văn Xương, Văn Khúc mà không thành cách, thì vẫn lợi về thi cử, cạnh tranh, nhưng mức độ không bằng người thành cách "Dương Lương Xương Lộc".

Tinh hệ này cũng thuộc cách cục "Cơ Nguyệt Đồng Lương", người Thiên Lương Hóa Khoa thủ mệnh vốn đã có bản chất phục vụ, một khi có địa vị xã hội cao tất nhiên sẽ rất quý danh dự, chỉ ngại là xử sự quá nguyên tắc.

Thiên Lương độc tọa ở Sửu, Mùi

Thiên Lương độc tọa, Hóa Khoa ở hai cung Sửu hoặc Mùi; đối nhau với Thiên Cơ; cung tam phương là Thái Âm độc tọa và Thái Dương độc tọa. Cung độ của Thiên Lương ắt sẽ gặp Kình Dương.

Thiên Lương bị ảnh hưởng của Thiên Cơ ở đối cung, tâm trạng vốn không ổn định, sau khi Hóa Khoa tâm trạng sẽ biến thành ổn định.

Do Thái Âm và Thái Dương cùng chiếu, có lúc sẽ khiến Thiên Lương biến thành do dự.

Nhưng vì ảnh hưởng của Kình Dương, Thiên Lương Hóa Khoa nhiều khi sẽ biến thành không câu nệ nguyên tắc, cho nên không tốt bằng Thiên Lương Hóa Khoa ở hai cung Tí hoặc Ngọ.

Thiên Đồng, Thiên Lương ở Dần, Thân

"Thiên Đồng, Thiên Lương" đồng độ ở hai cung Dần hoặc Thân, Thiên Lương Hóa Khoa, hội Thiên Cơ độc tọa. Đây là cách cục thuần túy "Cơ Nguyệt Đồng Lương". Ở cung Dần được hội Lộc Tồn.

Do đồng độ với Thiên Đồng, khiến Thiên Lương Hóa Khoa tăng phong cách cá nhân, hoặc có phong thái tiêu sái của bậc danh sĩ, cho nên rất thích hợp làm cố vấn, có địa vị mà không cần phải phụ trách công tác thực tế, hoặc thích hợp với những nghề nghiệp tự do có tính chuyên nghiệp.

Nếu gặp Văn Khúc Hóa Kị cùng bay đến, có thể là văn sĩ giang hồ hay "hào môn thanh khách" (kẻ sĩ làm khách của nhà giàu thời xưa).

Thái Dương, Thiên Lương ở Mão, Dậu

"Thái Dương, Thiên Lương" đồng độ ở hai cung Mão hoặc Dậu, Thiên Lương Hóa Khoa; cung tam hợp là Thái Âm độc tọa và mượn "Thiên Đồng, Cự Môn"; nhưng tam phương tứ chính đều gặp sát tinh. Tinh hệ này không cần thành cách cục "Dương Lương Xương Lộc" đã có tính chất cạnh tranh, đồng thời do Thiên Lương sau khi Hóa Khoa đã giảm bớt tính chất "cô độc và hình khắc", vì vậy sức mạnh của Thái Dương càng được phát huy, giúp tăng thanh danh và sự biểu hiện bản thân.

Tinh hệ này thích hợp nghiên cứu học thuật, bởi vì bản thân "Thái Âm, Thiên Lương" có sắc thái giữ nguyên tắc, nghiên cứu học thuật tức là xác lập nguyên tắc hoặc định nghĩa. Cho nên "Thái Dương, Thiên Lương" không thiên về văn nghệ, dù gặp Văn Xương cũng chỉ nâng cao năng lực lí giải và khảo cứu.

Nếu có Văn Khúc Hóa Kị đồng độ, thì nên nghiên cứu học thuật một cách khách quan, nếu không ắt sẽ có nhiều tranh luận.

Thiên Cơ, Thiên Lương ở Thìn, Tuất

"Thiên Cơ, Thiên Lương" đồng độ ở hai cung Thìn hoặc Tuất (ở cung Tuất được hội Lộc Tồn), Thiên Lương Hóa Khoa, tương hội "Thiên Đồng, Thái Âm" và mượn "Thái Dương, Cự Môn" để hội hợp.

Do đồng độ với Thiên Cơ, có tính chất do dự, không ổn định, cho nên tinh hệ này trái ngược với tinh hệ "Thái Dương, Thiên Lương", hướng ngoại mà không hướng nội. Vì vậy thích hợp với các ngành nghề như quảng bá, quan hệ công cộng, ngoại vụ, v.v... Hóa Khoa chủ về có danh khí, giúp có biểu hiện trong công việc.

Nếu theo các ngành nghề nội vụ, quản lí, thiết kế, v.v... thì cần phải phát huy phong cách cá nhân một cách đầy đủ mới có thành tựu.

Thiên Lương độc tọa ở Tị, Hợi

Thiên Lương độc tọa, Hóa Khoa ở hai cung Tị hoặc Hợi; đối nhau với Thiên Đồng; cung tam hợp là "Thái Âm, Thái Dương", và mượn "Thiên Cơ, Cự Môn"; cung mệnh ắt sẽ gặp Đà La.

Tinh hệ này có kết cấu phức tạp, cho nên sắc thái quảng bá và văn nghệ giảm nhiều; tính chất của Thiên Lương nhuyễn hóa thành mạo hiểm. Hóa Khoa chỉ làm tăng danh vọng trong nội bộ, không nên dương danh ở bên ngoài, nếu không ắt sẽ mang lại nạn tai và nguy hiểm.

Nhưng do Hóa Khoa, nên dù có tai ách cũng dễ chịu đựng, còn có thể chuyển nguy thành an.

Thiên Lương tiêu tai bằng cách lui vào một mình, còn Thiên Phủ giữ của bằng chữ tín; hai lối "cao quý" và "kho tiền" cùng gặp một chữ Khoa lại thành hai câu chuyện an toàn khác hẳn nhau.

Thiên Phủ Hóa Khoa: kho tiền thêm uy tín, bớt gian xảo

Phái Trung Châu Vương Đình Chi định Thiên Phủ Hóa Khoa. Còn các phái khác thì Thái Dương và Thiên Phủ không Hóa Khoa, mà thay vào đó là Tả Phụ, Hữu Bật. Sự truyền thụ nào cũng có nguồn gốc lịch sử của nó, do đó tốt nhất là giải quyết theo cách để cả hai thuyết cùng lưu truyền tùy theo môn phái.

Thiên Phủ Hóa Khoa có uy tín như ngân hàng, uy tín là điều tối trọng yếu của ngân hàng, cho nên phái Trung Châu Vương Đình Chi cho rằng Thiên Phủ có Hóa Khoa cũng không phải là vô lí.

Do đó ý nghĩa của Thiên Phủ Hóa Khoa cực kì đơn giản, nó chẳng giống các sao khác, thông thường sau khi Hóa Khoa sẽ có bản chất lưỡng trùng, vừa cải thiện khuyết điểm, vừa làm tăng sự biểu hiện. Bản chất của Thiên Phủ Hóa Khoa chỉ có một, đó là làm tăng uy tín. Thực ra ở đây cũng đã bao gồm bản chất lưỡng trùng thuật ở trên. Bởi vì "kho tiền" mà có uy tín thì đương nhiên phải ít khuyết điểm; đồng thời phải có biểu hiện tốt mới tạo dựng được uy tín.

Cho nên Thiên Phủ thuộc loại "kho trống", "kho lộ" vốn chủ về gian xảo, nhưng sau khi Hóa Khoa thì dù là "kho lộ", "kho trống", cũng biến thành không gian xảo.

Vũ Khúc, Thiên Phủ ở Tí, Ngọ

"Vũ Khúc, Thiên Phủ" đồng độ ở hai cung Tí hoặc Ngọ, Thiên Phủ Hóa Khoa thì Vũ Khúc ắt sẽ Hóa Quyền; phần Vũ Khúc Hóa Quyền đã nói rõ sắc thái riêng của Vũ Khúc, ở đây chỉ cần biết thêm là Thiên Phủ Hóa Khoa cùng chiếu tới.

Thiên Phủ độc tọa ở Sửu, Mùi

Thiên Phủ độc tọa, Hóa Khoa ở hai cung Sửu hoặc Mùi; đối cung là "Liêm Trinh, Thất Sát"; cung tam hợp là Thiên Tướng độc tọa, và mượn "Tử Vi, Tham Lang". "Vũ Khúc, Thiên Phủ" ở cung Sửu Thiên Phủ ắt sẽ bị Kình Dương, Đà La chiếu xạ; ở cung Mùi thì có Đà La đồng độ, lại không gặp Lộc Tồn, Hóa Lộc, là "kho lộ", "kho trống".

Nhưng Thiên Phủ Hóa Khoa nên tinh hệ này vẫn chủ về tốt lành. Do ảnh hưởng của "Tử Vi, Tham Lang" ở cung phúc đức, nên có lúc xảy ra mâu thuẫn. Có chí tiến thủ, chịu tiêu xài thích đáng trong giao tế, nhưng vẫn giữ tác phong bảo thủ, nhất là xem trọng chữ tín.

Chọn lựa quyết định rất là quan trọng, thường thường sẽ biểu hiện lúc đến các cung hạn như "Tử Vi, Tham Lang", "Vũ Khúc, Phá Quân", "Liêm Trinh, Thất Sát", hành động thuộc hậu thiên vào lúc này có thể ảnh hưởng đến tình huống diễn biến thực tế.

Ở đại vận hoặc lưu niên mà gặp tinh hệ này thì không có bản chất thuật ở trên, chỉ chủ về là vận thế thuận lợi toại ý mà bảo thủ.

Tử Vi, Thiên Phủ ở Dần, Thân

"Tử Vi, Thiên Phủ" đồng độ ở hai cung Dần hoặc Thân, Thiên Phủ Hóa Khoa, ắt sẽ có Lộc Tồn đồng độ hoặc vây chiếu; đối cung là Thất Sát; cung tam hợp là Vũ Khúc độc tọa Hóa Quyền, và "Liêm Trinh, Thiên Tướng".

Lúc "Tử Vi, Thiên Phủ" đồng độ, sức mạnh của Thiên Phủ thường khó phát huy, có lúc biến thành gây lụy. Nhưng trong tinh hệ này lực của Thiên Phủ khá mạnh, tức có sao lộc mà còn Hóa Khoa, có thể ảnh hưởng đến năng lực quyết đoán và chí tiến thủ của Tử Vi, tuy bị giảm thấp nhưng lại có thể tiến bộ trong sự phát triển ổn định; hơn nữa, còn sở trường về bàn luận binh pháp, phát huy sức mạnh của Vũ Khúc Hóa Quyền.

Nhưng tinh hệ này bất lợi về hôn nhân, chủ về không hợp tính cách với người phối ngẫu, nhưng bề ngoài vẫn duy trì mối quan hệ hôn nhân, tạo thành nỗi đau khổ thầm kín.

Ở đại vận hoặc lưu niên mà gặp tinh hệ này, cũng chủ về được tăng quyền lực một cách âm thầm, lợi ích cũng nhờ đó mà tăng lên.

Thiên Phủ độc tọa ở Mão, Dậu

Thiên Phủ độc tọa, Hóa Khoa ở hai cung Mão hoặc Dậu, gặp sát tinh; đối cung là "Vũ Khúc, Thất Sát", mà Vũ Khúc Hóa Quyền; cung tam hợp là Thiên Tướng độc tọa, và mượn "Liêm Trinh, Tham Lang".

Nhóm tinh hệ này chủ về rời khỏi quê hương mới phát triển tốt, dễ gặp vận trình tốt có tính phát đột ngột. Nếu cố thủ ở nơi sinh ra, thì uy tín chỉ đạt được trong một phạm vi hạn chế, sự nghiệp phát triển nhỏ hơn, có thể vì có tiếng tăm trong một địa phương quá nhỏ nên bị ép phải tham gia những cuộc thù tạc giao tế mà bản thân không thích, thậm chí cần phải hao tổn, do đó tạo thành những phiền phức khó xử trong lòng.

Ở lưu niên hay đại vận mà gặp tinh hệ này, chủ về vận trình tăng thêm vẻ vang.

Liêm Trinh, Thiên Phủ ở Thìn, Tuất

"Liêm Trinh, Thiên Phủ" đồng độ ở hai cung Thìn hoặc Tuất, Thiên Phủ Hóa Khoa (ở cung Thìn thì có Lộc Tồn hội chiếu); đối cung là Thất Sát; cung tam hợp là "Vũ Khúc, Thiên Tướng", mà Vũ Khúc Hóa Quyền, còn hội Tử Vi độc tọa.

Đặc điểm của tinh hệ này là hành động bảo thủ, mà còn giỏi đánh giá người khác, nhưng do Thiên Phủ Hóa Khoa nên về phương diện xoay chuyển tài chính rất là thuận lợi, thường được người khác tin tưởng. Có biểu hiện của một thương nhân giỏi giang, hoặc thích hợp đảm nhiệm nghiệp vụ xử lí về ủy thác tài chính.

Về phương diện xử lí tiền bạc, chú ý giữ gìn sinh hoạt sung túc mà có lễ tiết, là đặc điểm lớn nhất của mệnh cục này.

Ở đại vận hoặc lưu niên mà gặp tinh hệ này, cần chú ý cơ hội được nắm quyền tài chính, cơ hội loại này thông thường chỉ làm tăng địa vị xã hội.

Thiên Phủ độc tọa ở Tị, Hợi

Thiên Phủ độc tọa, Hóa Khoa ở hai cung Tị hoặc Hợi, ắt sẽ gặp Kình Dương hoặc Đà La; đối cung là "Tử Vi, Thất Sát"; cung tam hợp là Thiên Tướng độc tọa, và mượn "Vũ Khúc, Tham Lang", mà Vũ Khúc Hóa Quyền. Nhóm tinh hệ có kết cấu dạng này cần lưu tâm ý quyền lực của "Tử Vi, Thất Sát".

Do các sao quyền lực khá nặng, sắc thái đặc biệt của tinh hệ này là giỏi vận dụng tiền bạc. Thiên Phủ Hóa Khoa thì không sợ thiếu nguồn tiền tài, vì vậy mà làm mạnh thêm cơ hội gặp vận may.

Tổ hợp tinh hệ này có sở trường quản lí tài chính, do đó chí tiến thủ cũng không tệ. Nếu tinh hệ "Vũ Khúc, Tham Lang" lại có Hỏa Tinh, Linh Tinh đồng độ, ắt sẽ chủ về phát đột ngột, và khó suy sụp một cách nhanh chóng, đây là do Thiên Phủ Hóa Khoa.

Ở đại vận hoặc lưu niên mà gặp tinh hệ này, cũng là cơ hội thu nhập tiền bạc tăng tiến.

Nguồn: Vương Đình Chi, Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư (Trung Châu phái).

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Tam Hợp Phái