Bài tổng quan
Thái Dương Thủ Mệnh: Sáng Tối Mặt Trời Và Cổ Quyết Bát Hỉ Sao Lâu
Hai người cùng có Thái Dương độc tọa, một người ở cung Ngọ hưởng cảnh Nhật lệ trung thiên, một người ở cung Tí thì mặt trời mất sáng, nội tâm nhiều đau khổ, lúc còn bé khó được cha che chở. Ở cung Dần, cùng Cự Môn, là mặt trời mới mọc, tiền trình cao xa nhưng chậm được chậm phát; ở cung Mão, cùng Thiên Lương, là Nhật chiếu lôi môn; ở Thìn là Nhật Nguyệt tịnh minh, sang Tuất lại thành Nhật Nguyệt phản bối. Cổ quyết hứa người sinh năm Canh, Tân, Đinh, Kỉ có Thái Dương ở Ngọ phú quý song toàn, nhưng cũng cảnh báo Thái Dương Hóa Kị thì thị phi, mắt còn bị thương tật, và Thái Dương, Thái Âm rất ngại phản bối. Cùng một vầng mặt trời, giờ mọc hay giờ lặn quyết định bao nhiêu phần một đời người?
Mục lục · 8 phần
Thái Dương Độc Tọa Cung Mệnh Tí Ngọ
Thái Dương ở cung Tí hay cung Ngọ đều là độc tọa; nhưng ở cung Tí thì lạc hãm, mất sáng; ở cung Ngọ thì "Nhật lệ trung thiên", cho nên tính chất của hai cung khác nhau.
Thái Dương ở cung Tí, sức khoan dung nhẫn nhịn khá lớn; nhưng vì mất sáng nên ánh sáng và nhiệt đều không đủ để hóa giải tính chất cô độc và hình khắc của Thiên Lương ở đối cung; cũng không đủ để hóa giải ảnh hưởng của ám tinh Cự Môn ở cung sự nghiệp; do đó nội tâm nhiều đau khổ, lúc còn bé càng khó được cha che chở. Nhưng do có thể khoan dung nhẫn nhịn, nên lúc hội chiếu sao cát, vẫn chủ về sự nghiệp có thành tựu, có thể dựa vào sự nâng đỡ của mọi người mà được danh lợi. Đặc biệt là lúc Thái Dương Hóa Lộc, Hóa Quyền, hay Hóa Khoa, sẽ tăng thu nhập, hoặc có thể phát huy quyền lãnh đạo; hoặc nhờ phục vụ công chúng mà được danh dự; nếu gặp thêm các sao phụ tá thì có thể lấy sự nghiệp để bù đắp cho nỗi đau thầm kín trong lòng.
Nhưng nếu Thái Dương Hóa Kị ở cung Tí, lại gặp thêm sát tinh, thì mắt dễ bị tổn hại.
Nữ mệnh Thái Dương ở cung Tí, tình cảm chất chứa trong tâm, không bao giờ lộ ra. Nếu nỗi đau khổ của nội tâm (ví dụ như cảnh ngộ bất hạnh lúc còn bé, tình cảm gãy đổ...) mà để người ta biết được, sẽ làm tình cảm tan nát, dễ bị người ta thừa cơ, vì vậy nên cẩn thận phòng tránh.
Khi Thái Dương ở cung Ngọ, ánh sáng rất mạnh mẽ, đủ để hóa giải tính chất quấy rối, hình khắc của Thiên Lương và Cự Môn. Nhưng bất kể nam nữ, lúc nhỏ vẫn bất lợi về cha, không có duyên với cha, hoặc không được cha che chở, hoặc cha bị tai nạn bệnh tật, mất sớm; phải xét kĩ tính chất và mức độ nhiều ít của các sao sát, kị, hình hội hợp để định.
Thái Dương ở cung Ngọ không có sức khoan dung nhẫn nhịn, nhưng những tao ngộ không như ý trong cuộc đời sẽ thành lực kích phát, làm cho tính khai sáng có sức mạnh cực kì lớn. Nếu gặp Thái Dương Hóa Lộc, tuy thuở nhỏ không được hưởng phúc của cha hoặc bản thân nhiều nạn tai bệnh tật, nhưng vẫn chủ về tiền bạc dồi dào, có thể phú quý. Nếu Thái Dương Hóa Quyền thì dễ quý hiển, dù gặp sát tinh cũng có thể làm lãnh đạo trong một cục diện nhỏ, có điều, Thái Dương ở cung Ngọ là đã quá mạnh, sau khi Hóa Quyền thì càng mạnh thêm tính chủ quan. Nếu Thái Dương Hóa Lộc, tuy có danh dự, tiếng tăm nhưng lại kị quá lộ tài, e rằng sẽ dẫn đến tị hiềm đố kị.
Nếu Thái Dương Hóa Kị ở cung Ngọ, lúc nhỏ vô duyên với cha mẹ, bản thân cũng nhiều nạn tai bệnh tật, nhưng nhờ lực của Thiên Lương mà "phùng hung hóa cát".
Thái Dương ở cung Ngọ hiểm vì ánh sáng quá mãnh liệt, nên cũng chủ về có bệnh tật ở mắt, như cận thị, loạn thị, mắt lòa. Lúc già nên đề phòng huyết áp và bệnh tim mạch, nhất là người có đại hạn đi thuận (tức dương nam, âm nữ).
Nữ mệnh Thái Dương ở cung Ngọ, có khí khái đàn ông, tính tình trinh liệt, tuy bất lợi về chồng, nhưng bản thân lại có thể tạo ra mệnh vận của mình. Nếu gặp các sao sát, hình, kị và Địa Không, Địa Kiếp, trái lại sẽ kích phát tính cứng rắn kiên trinh. Nếu có sao cát hội hợp, có thể sáng lập sự nghiệp như đàn ông.
Cung mệnh của đại hạn hoặc lưu niên là Thái Dương ở cung Tí, làm việc phần nhiều không có thực chất, gặp sát tinh là chuốc họa quấy rối của tiểu nhân. Nếu Thái Dương Hóa Lộc, trái lại sẽ chủ về sức khỏe có vấn đề, dễ đau đầu, đầu choáng.
Cung mệnh của đại hạn hoặc lưu niên có Thái Dương ở cung Ngọ, gặp cát tinh thì hoạn lộ thênh thang, kết hôn sinh con trai; gặp sát tinh thì nhiều vất vả, cũng dễ mắc bệnh đau đầu, đầu choáng; gặp Hóa Kị, có tật bệnh ở mắt.
Thái Dương, Thái Âm Đồng Cung Mệnh
"Thái Dương, Thái Âm" đồng độ ở hai cung Sửu hoặc Mùi. Thái Dương lạc hãm ở cung Sửu, Thái Âm lạc hãm ở cung Mùi; hai cung đều có chính diệu bị lạc hãm. Cho nên, tuy cổ nhân có cách cục "Nhật Nguyệt tịnh minh", thực ra không phải nói tình huống "Thái Dương, Thái Âm" đồng cung ở Sửu hay Mùi, mà là nói Thái Dương ở Mão hội hợp với Thái Âm ở Hợi.
Lúc "Thái Dương, Thái Âm" đồng độ, tính chất cơ bản nhất là có biểu hiện lúc âm lúc dương, rất mâu thuẫn.
Nói cụ thể hơn, đối với người thì thái độ lúc nóng lúc lạnh, đối với sự nghiệp thì lúc tiêu cực lúc tích cực, đối với tiền tài thì lúc rộng rãi lúc keo kiệt, bủn xỉn.
So sánh hai cung, cung Sửu do Thái Dương mất sáng, hào quang của Thái Âm không chiếu sáng Thái Dương được; nhưng ở cung Mùi, Thái Âm mất sáng lại có thể nhờ Thái Dương chiếu ứng. Vì vậy, thông thường cung Sửu không bằng cung Mùi. Người an mệnh ở cung Sửu dễ có những hành vi mang sắc thái rất trôi nổi; còn khi an mệnh ở cung Mùi, về cơ bản là có tính tình phóng khoáng. Nhưng lúc có sát tinh hội chiếu thì an mệnh ở hai cung đều là keo kiệt, bủn xỉn.
Giả dụ như Thái Dương Hóa Kị, có thể lúc bé thiếu duyên phận với cha mẹ, bản thân thì nhiều phen hú vía hoặc bệnh tật triền miên. Nếu Thái Âm Hóa Kị thì hay lo nghĩ, đời người cũng gian khổ.
Thái Dương Hóa Lộc, Hóa Quyền, hoặc Hóa Khoa ở cung Sửu, có thể tăng sức mạnh của Thái Dương, được Thái Âm nhập miếu làm quân bình, nhờ đó tính tình cởi mở hơn khi không được hóa diệu, cảnh ngộ cuộc đời cũng thuận lợi hơn, theo những ngành nghề có tính phục vụ hoặc giáo dục có thể thành tựu. Ưa nhất là có Văn Xương, Văn Khúc ở hai cung Tị và Dậu đến hội, không những có thể tăng địa vị xã hội, đồng thời còn tăng năng lực lãnh đạo. Đây là sắc thái đặc biệt chủ về "quý" của Thái Dương.
Thái Dương Hóa Lộc, Hóa Quyền, hay Hóa Khoa ở cung Mùi sẽ khiến cho Thái Dương vốn đã đắc địa càng thêm sáng, cho nên tính tình khá thiên về hướng tích cực, nhưng lại mất đi vẻ yên tĩnh, lạnh lẽo của Thái Âm. Đồng thời đặc tính chủ về quý mà không chủ về phú của Thái Dương cũng sẽ phát huy triệt để, chủ về người có địa vị mà tiền của thì chưa chắc dồi dào. Nếu có Văn Xương, Văn Khúc ở hai cung Mão hoặc Hợi đến hội hợp, thì Thái Dương của cung Mùi càng xuất sắc.
Thái Âm Hóa Lộc, Hóa Quyền, hoặc Hóa Khoa ở hai cung Sửu hoặc Mùi sẽ không bằng Thái Dương được hóa diệu. Thái Âm Hóa Lộc thông thường sẽ bất lợi về tình cảm, mà còn bị nhiều điều tiếng thị phi; Thái Âm Hóa Quyền thì dễ cảm thấy lực bất tòng tâm, không cách nào khai triển sự nghiệp; Thái Âm Hóa Khoa thì chủ về được hư danh mà thiếu thực tế.
Thái Âm và Thái Dương ở hai cung này cũng không nên gặp tứ sát Hỏa Tinh, Linh Tinh, Kình Dương, Đà La; nữ mệnh kị nhất là có Hỏa Tinh đồng cung, tuy bụng không có ý gì, nhưng dễ xử sự bằng tình cảm.
Cung mệnh của đại hạn hoặc lưu niên gặp "Thái Dương, Thái Âm", nên đề phòng cách xử sự thiếu tính toán, và lại không nên đòi hỏi quá lí tưởng.
Thái Dương, Cự Môn Đồng Cung Mệnh
"Thái Dương, Cự Môn" đồng độ ở hai cung Dần hoặc Thân. Cự Môn là ám tinh, cần phải có hào quang của Thái Dương chiếu sáng mới giải được mờ ám của nó. Ở cung Dần, Thái Dương là mặt trời mọc ở phương đông; ở cung Thân, Thái Dương là mặt trời lặn gần về tây, cho nên tinh hệ của hai cung có tính chất khác nhau.
Ở cung Dần, ánh sáng của Thái Dương mới lộ, nên tuy tiền trình cao xa, nhưng lại khó tránh phải trải qua một phen gắng gượng; nhất là bị ảnh hưởng của Cự Môn, lợi ích, danh dự, và sự nghiệp đều có hiện tượng chậm được chậm phát, vãn cảnh khá yếu.
Ở cung Thân, ánh sáng của Thái Dương đã bắt đầu yếu, bị ảnh hưởng của Cự Môn càng khó tránh hiện tượng "được mất" đi liền với nhau, nên đời người tuy cũng có lúc huy hoàng, nhưng cần phải nỗ lực không ngừng, lưu ý làm cách nào để duy trì thành quả.
Xét ở phương diện tính cách, người có "Thái Dương, Cự Môn" an mệnh ở cung Dần là người có phách lực, xử sự vững vàng, có lí tưởng, hơn nữa có thể vì lí tưởng mà nỗ lực; người có "Thái Dương, Cự Môn" an mệnh ở cung Thân thì có đầu mà không đuôi, thiếu nghị lực, nhưng dễ vì người khác mà hòa theo, về tình cảm cũng khá chân thật. Vì vậy người có "Thái Dương, Cự Môn" an mệnh ở cung Dần thích hợp theo các ngành nghề liên quan đến pháp luật, chính trị, hoặc nghiên cứu học thuật; còn người có "Thái Dương, Cự Môn" an mệnh ở cung Thân thì thích hợp theo các ngành nghề về quan hệ công cộng, quảng bá, bán hàng, chào hàng, và công tác giáo dục.
Bất kể ở cung Dần hay cung Thân, đều ưa Thái Dương Hóa Lộc; ở cung Thân thì tuy khá vất vả, nhưng vẫn chủ về tiền bạc hanh thông, lợi nhất là dùng tài ăn nói để cầu tài.
Thái Dương Hóa Khoa thì chủ về tiếng tăm rõ ràng, ở cung Dần có lợi hơn so với ở cung Thân. Cự Môn Hóa Quyền có thể làm tăng tính quyền uy của lời nói.
Thái Dương Hóa Kị và Cự Môn Hóa Kị thì lại chủ về người ưa phạm thượng, bất hòa với người thân phái nam hoặc thượng cấp. Nếu có thêm tứ sát, lại chủ về điều tiếng thị phi; nhất là lúc hội hợp với Thiên Hình, Kình Dương, e rằng dính dáng đến kiện tụng.
Nữ mệnh có "Thái Dương, Cự Môn" ở hai cung Dần hoặc Thân đều dễ bị trở ngại về tình cảm, nhất là khi tọa cung Thân có khả năng sa chân lỡ bước, kết hôn muộn thì tốt hơn.
"Thái Dương, Cự Môn" ở cung mệnh của đại hạn hoặc lưu niên, gặp sao cát thì sự nghiệp phát triển, gặp sao hung thì lí tưởng không thành hiện thực.
Thái Dương, Thiên Lương Đồng Cung Mệnh
"Thái Dương, Thiên Lương" đồng độ ở hai cung Mão hoặc Dậu, tính chất cơ bản của hai cung lại có sự khác biệt về tên gọi.
Ở cung Mão, gọi là "Nhật chiếu lôi môn". Đây là lúc mặt trời mọc, ánh sáng mới lộ. Gọi "Lôi Môn", là chỉ cung Chấn ở phương Đông. Nhưng Thái Dương của cung này, ánh sáng và nhiệt lại chưa đủ để giải trừ tính chất cô độc và hình khắc của Thiên Lương, bởi vì ánh sáng của Thái Dương mới lộ, tiến trình tuy cao xa, nhưng ánh sáng và nhiệt đều có hạn, nên người có mệnh "Thái Dương, Thiên Lương" ở cung vị này tất sẽ phải trải qua gian nan và hiểm trở trước rồi mới có thành tựu về sự nghiệp. Nhưng các sao của bản cung là chủ về quý mà không chủ về phú, vì vậy cũng nên theo các ngành nghề phục vụ công chúng; giả dụ có gặp văn tinh, thì thích hợp nghiên cứu học thuật, hoặc làm giáo chức.
Nếu cung mệnh có Lộc Tồn và Văn Xương đồng độ, thì gọi là cách cục "Dương Lương Xương Lộc". Cổ nhân nói: "Dương Lương Xương Lộc, tên truyền đứng đầu bảng" (阳梁昌禄,传胪第一名 Dương Lương Xương Lộc, truyền lư đệ nhất danh); nên người có cung mệnh thuộc cách cục này rất có lợi về việc tham dự các kì thi quốc gia, hoặc tham gia các cuộc thi tuyển quan trọng. Nếu tham gia thi cử để có học vị thì càng dễ thành công. Bất kể tham dự loại thi cử nào cũng đều có thành tích cao. Theo bí truyền của phái Trung Châu Vương Đình Chi, Thái Dương thủ mệnh ở cung Mão, chủ về đa tài đa nghệ, hiển danh giàu có.
Giả dụ an mệnh ở cung Dậu, cung mệnh vô chính diệu, phải mượn "Thái Dương, Thiên Lương" của cung Mão để an sao, các sao hội hợp sẽ là Thiên Đồng, Cự Môn và Thiên Cơ; như vậy không bằng ở cung Mão được hội hợp với "Thiên Đồng, Cự Môn" và Thái Âm của cung Hợi. Bởi vì Thái Dương của cung Mão được Thái Âm hội hợp, chủ về vừa phú lại vừa quý; còn người mượn sao nhập cung Dậu thì vì có Thiên Lương, Thiên Cơ hội hợp, nên ngoài việc liên quan đến tài nói năng có lí lẽ, còn đặc biệt thích hợp nghiên cứu học thuật, cũng nên làm việc có liên quan đến công tác pháp luật, nhưng dù địa vị xã hội cao, giàu có, thì cũng không bằng người an mệnh ở cung Mão.
"Thái Dương, Thiên Lương" thủ mệnh ở cung Dậu, tuy tổ hợp các sao tương đồng với ở cung Mão, nhưng do Thái Dương của cung Dậu là mặt trời đã lặn về tây, cảnh xế chiều tuy đẹp, chỉ đáng tiếc là hoàng hôn đã gần kề. Nên người an mệnh ở bản cung, mệnh vận thường không bằng người an mệnh ở cung Mão, dù cùng là cách cục "Dương Lương Xương Lộc", nhưng thành tựu cũng có chỗ không bằng. Về đại thể, do cảnh xế chiều khá cô độc, nên lúc trung niên sáng lập sự nghiệp và có thanh danh rồi, cần chú ý tích lũy; sau trung niên, nên nghiên cứu triết lí để kí thác thân tâm.
Giả dụ cung Mão vô chính diệu, phải mượn "Thái Dương, Thiên Lương" của cung Dậu để an sao, thì cũng nên làm công việc nghiên cứu học thuật hay công tác pháp luật, hoặc các ngành nghề có tính phục vụ xã hội.
Thái Dương có Thiên Lương đồng cung, nên không ưa Hóa Lộc. Nếu Thái Dương Hóa Lộc, bất luận an mệnh ở cung Mão hay cung Dậu, đều dễ chuốc vào người những tình huống phải bối rối khó xử, cũng dễ bị người ta chỉ trích, hễ được tài lợi thì bị quấy rối trước; nhưng làm công việc nghiên cứu học thuật hoặc sáng tác văn nghệ thì không sao. Bởi vì những công việc này phải hao tổn tinh thần trước rồi mới có được danh lợi, tính chất sự nghiệp phù hợp tính chất của các sao.
Thái Dương ở hai cung Mão hoặc Dậu rất ưa Hóa Quyền, có thể làm tăng quyền uy; nếu hội hợp với các sao Thiên Khôi, Thiên Việt, Ân Quang, Thiên Quý, Tam Thai, Bát Tọa, thì nên suy tính việc theo ngành chính trị, hoặc làm nhân viên quản lí cao cấp của công ti lớn.
Thái Dương của cung Mão không sợ Hóa Kị, đây gọi là "biến cảnh"; nhưng Hóa Kị ở cung Dậu thì rất là không nên, nếu lại gặp các sao sát, hình thì chủ về có tai họa lao ngục; chỉ có trường hợp Thiên Lương đồng cung mới có thể "phùng hung hóa cát".
Nữ mệnh "Thái Dương, Thiên Lương" ở cung Mão, chủ về có sóng gió, trắc trở trước hôn nhân. Còn nữ mệnh "Thái Dương, Thiên Lương" ở cung Dậu thì gặp nhiều tình huống bối rối khó xử, có sóng gió, trắc trở sau hôn nhân; nên kết hôn muộn.
Cung mệnh của đại hạn hoặc lưu niên gặp "Thái Dương, Thiên Lương", nếu gặp sao văn, trong niên hạn lợi về tham gia thi cử, thi tuyển, hoặc dễ thắng lợi trong cạnh tranh sự nghiệp. Nếu có các sao phụ tá cùng chiếu, chủ về hoạn lộ thênh thang. Ở cung mệnh của lưu niên, dù Thái Dương Hóa Quyền hay Hóa Khoa, năm đó ắt cũng sẽ có tiến bộ hay phát một cách đột ngột. Nếu có Hỏa Tinh, Linh Tinh, Kình Dương, Đà La và sao kị cùng chiếu, thì bị tiểu nhân xâm hại, bị rắc rối bất ngờ, hoặc phá tài; sau trung niên cần chú ý huyết áp.
Thái Dương Độc Tọa Cung Mệnh Thìn Tuất
Thái Dương an mệnh ở cung Thìn, đối cung là Thái Âm, cả hai sao đều nhập cung vượng, là cách cục "Nhật Nguyệt tịnh minh" điển hình. Nhưng nếu ở cung Tuất, thì Thái Âm và Thái Dương đều ở cung hãm, lại là cách cục "Nhật Nguyệt phản bối" điển hình.
"Nhật Nguyệt tịnh minh" thông thường chủ về tuổi trẻ đắc chí, là người chính trực, hơn nữa còn từng trải, xử trí nhanh, tháo vát; nếu gặp các sao phụ tá Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, càng chủ về quý hiển. Nhưng nếu cát tinh và sát tinh cùng chiếu, thì nên làm công tác pháp luật, hoặc đảm nhận chức vụ giám sát, cũng có thể làm công việc quảng bá. Nếu có sao văn đồng thời nhập cung mệnh, thì nên theo ngành giáo dục, công tác văn hóa.
"Nhật Nguyệt phản bối", cổ nhân cho rằng không có duyên với cha mẹ. Nhưng xã hội hiện đại xem trọng gia đình nhỏ, việc rời xa quê hương đã không còn là vấn đề, nên biểu hiện cụ thể của "không có duyên với cha mẹ" chẳng còn nghiêm trọng như thời cổ đại. Về phương diện sự nghiệp, thì chủ về thanh danh khó hiển đạt, nhưng lúc có sao cát hội chiếu, đặc biệt là Thái Dương Hóa Lộc, thì có thể thành cự phú, nhưng phải trải qua một phen gian khổ và gắng gượng. Tính chất "không có duyên với cha mẹ" cũng sẽ thành "phải tay trắng lập nên sự nghiệp, khó được cha che chở". Thích hợp có nghề chuyên môn trong tay, ở cung Thìn cũng vậy.
Thái Dương Hóa Lộc ở hai cung Thìn hoặc Tuất, đều có tiền bạc dồi dào; nếu Hóa Quyền ở cung Thìn thì chủ về tăng quyền lực; Hóa Quyền ở cung Tuất, tuy có quyền lực nhưng lại mạnh thêm tính chủ quan. Nếu gặp sát tinh, trái lại sẽ chuốc tị hiềm, đố kị, thị phi, nên chú ý tu dưỡng bản thân.
Thái Dương Hóa Khoa ở hai cung Thìn hoặc Tuất, cả hai trường hợp danh tiếng đều hiển đạt, nhưng ở cung Tuất thì không nên cầu danh, vì danh càng lớn thì thị phi càng nhiều.
Nếu Thái Dương Hóa Kị ở cung Thìn thì nên chú ý mối quan hệ với bậc tôn trưởng phái nam, bao gồm thượng cấp, ông chủ. Nếu Thái Dương Hóa Kị ở cung Tuất, ngoại trừ phải chú ý mối quan hệ giao tế với những người chung quanh, còn phải phòng bệnh tật ở mắt. Nếu gặp thêm Kình Dương, Thiên Hình thì chủ về phạm pháp.
Nữ mệnh "Nhật Nguyệt tịnh minh", cổ nhân cho rằng có thể "kết hôn sớm, gặp chồng hiền" (早配贤夫 tảo phối hiền phu). Đây là vì ở thời cổ đại phụ nữ vốn không có sự nghiệp riêng; nếu ở thời hiện đại, thì cũng chủ về bản thân có thể phát triển sự nghiệp. Nhưng nếu gặp "Nhật Nguyệt phản bối" thì nên kết hôn muộn. Cung mệnh mà có thêm Hỏa Tinh, Linh Tinh đồng độ, kết hôn sớm sẽ sai lầm, không những lỡ bước sa chân, mà còn vất vả, quan hệ giao tế kém.
Cung mệnh của đại hạn hoặc lưu niên ở cung Thìn hoặc Tuất, gặp sao cát là chủ về hỉ khánh (chuyện mừng); nếu các sao sát, kị cùng hội hợp, thì nên phòng tổn thất, phá tài bất ngờ.
Thái Dương Độc Tọa Cung Mệnh Tị Hợi
Thái Dương ở hai cung Tị hoặc Hợi, đối cung ắt phải là Cự Môn. Cự Môn "che mờ" cần phải nhờ Thái Dương hóa giải, do đó người an mệnh ở cung Tị lấy Thái Dương ở cung vượng để hóa giải sức mạnh của Cự Môn, đương nhiên tốt hơn so với Thái Dương lạc hãm ở cung Hợi.
Vì vậy người an mệnh ở cung Tị tuổi trẻ dễ đắc chí, hoặc được hưởng phúc ấm của cha mẹ, nhưng rất ngại sau khi đắc chí biến thành tâm cao khí ngạo, quá lộ tài năng. Nếu có thể kín đáo, hoặc sau khi gặp trở ngại vì cao ngạo mà vẫn không buông bỏ sự nghiệp, thì vẫn chủ về danh cao hiển đạt.
Người an mệnh ở cung Hợi, lúc nhỏ bất lợi về cha. Nếu có các sao sát, kị cùng chiếu, chủ về làm con nuôi người khác, nên phòng bệnh tật ở mắt; nhưng người này có tư tưởng đặc biệt, nếu phấn đấu thì sẽ thành tựu; có điều, tư tưởng và hành vi của người này người thường khó mà hiểu được.
Thái Dương Hóa Lộc, ưa gặp Thiên Mã, có thể giàu có. Hóa Quyền, Hóa Khoa, càng dễ chuốc đố kị, nhưng quyền lực tiếng tăm đều tăng; nếu Hóa Kị thì tuổi trẻ bất lợi, còn có tính khó phục tùng thượng cấp.
Nữ mệnh ở hai cung Tị hoặc Hợi đều không nên gặp các sao sát, kị; chủ về vất vả và hay gây nên thị phi; đây là chỗ xấu của trường hợp "Thái Dương, Cự Môn" gặp nhau. Đồng thời do có Thiên Lương hội hợp, vì vậy không nên có thêm Thiên Hình đến hội hợp, nếu không, e rằng hôn nhân sẽ trắc trở. Nếu có các sao sát, kị cùng đến, tuy chủ về tính tình đoan trang, nhưng phúc cha, phúc chồng, phúc con đều không như ý.
Thái Dương thủ mệnh ở cung Tị hoặc Hợi của lưu niên hay đại hạn, thông thường, ở cung Tị sẽ đắc ý, ở cung Hợi thì vất vả bôn ba rồi mới có thành tựu; rơi vào cung hãm, hoặc sao không đều chủ về làm việc giả dối không có thực chất; gặp các sao sát, kị nặng thì nên phòng phát lên một cách đột ngột rồi suy sụp cũng rất nhanh chóng, không được toan tính làm ăn một cách may rủi.
Cổ Quyết Bát Hỉ Sao Lâu Về Sao Thái Dương
Sáu tinh hệ thủ mệnh đều xoay quanh câu hỏi mặt trời sáng hay tối; cổ quyết lại ghi những lời chứng nghiệm về Thái Dương ở từng cung, và nhất là mối quan hệ giữa mặt trời với mặt trăng.
日照雷门,画生人富贵声扬。
Nhật chiếu lôi môn, hoạch sinh nhân phú quý thanh dương.
Dịch nghĩa: Nhật chiếu lôi môn, người đẩy sinh khí, phú quý và có danh tiếng.
Chú giải: Thái Dương ở cung Mão, là "mặt trời chiếu cửa sấm", gặp sao lộc mới đúng.
太阳居午,庚辛丁己人富贵双全。
Thái Dương cư ngọ, Canh Tân Đinh Kỉ nhân phú quý song toàn.
Dịch nghĩa: Thái Dương ở cung Ngọ, người sinh năm Canh, Tân, Đinh, Kỉ phú quý song toàn.
Chú giải: Được Lộc Tồn hoặc Hóa Lộc thì đúng.
太阳文昌在官禄,皇殿朝班。
Thái Dương Văn Xương tại quan lộc, hoàng điện triều ban.
Dịch nghĩa: Thái Dương, Văn Xương ở cung quan lộc, là làm quan đứng tại điện vàng của triều đình.
Chú giải: Thái Dương cần phải miếu vượng, đồng độ với Văn Khúc thì hơi kém.
太阳天梁昌禄会,传胪第一名。
Thái Dương Thiên Lương Xương Lộc hội, truyền lư đệ nhất danh.
Dịch nghĩa: Thái Dương, Thiên Lương, gặp Xương Lộc, là đỗ đầu bảng.
Chú giải: Đây là nói Thái Dương đồng độ với Thiên Lương ở hai cung Mão hoặc Dậu, gặp Xương Khúc, Lộc Tồn.
太阳化忌,是非日有目还伤。
Thái Dương hóa kị, thị phi nhật hữu mục hoàn thương.
Dịch nghĩa: Thái Dương Hóa Kị, thị phi và mắt còn bị thương tật.
Chú giải: Rất kị có sát tinh hội hợp, còn kị gặp Thiên Hình.
日落未申在命位,为人先勤后惰。
Nhật lạc Mùi Thân tại mệnh vị, vi nhân tiên cần hậu đọa.
Dịch nghĩa: Thái dương thủ mệnh ở hai cung Mùi hoặc Thân, là người trước siêng năng sau lười biếng.
Chú giải: Ở cung Thân mới đúng, chủ về đầu voi đuôi chuột.
太阳酉宫守命,贵而不显,苗而不秀。
Thái Dương Dậu cung thủ mệnh, quý nhi bất hiển, miêu nhi bất tú.
Dịch nghĩa: Thái Dương thủ mệnh ở cung Dậu, quý mà không hiển đạt, nảy mầm mà không trổ bông.
Chú giải: Ở cung Dậu là mặt trời lặn về tây, cho nên như vậy.
太阳戌亥子,一生是非劳碌目还伤。
Thái Dương Tuất Hợi Tí, nhất sinh thị phi lao lục mục hoàn thương.
Dịch nghĩa: Thái Dương ở Tuất Hợi Tí, một đời thị phi vất vả mà còn bị thương tật ở mắt. (Xem hình 163, 164)
Chú giải: Cự Môn Hóa Kị là vất vả, thị phi; Thái Dương Hóa Kị chủ về bị thương tật ở mắt.


日巨拱照亦为奇。
Nhật Cự củng chiếu diệc vi kì.
Dịch nghĩa: Thái Dương, Cự Môn vây chiếu cũng là cách cục đặc biệt.
Chú giải: Đây là Thái Dương ở cung Tị, còn Cự Môn thủ mệnh ở cung Hợi.
日巨同宫,官封三代。
Nhật Cự đồng cung, quan phong tam đại.
Dịch nghĩa: Thái Dương và Cự Môn đồng cung, làm quan ba đời. (Xem hình 165)
Chú giải: Ở cung Dần mới đúng, cần phải gặp Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa.

日守夫妻诸吉聚,因妻得贵。
Nhật thủ phu thê chư cát tụ, nhân thê đắc quý.
Dịch nghĩa: Thái Dương thủ cung phu thê có các sao cát tụ tập, chủ về nhờ vợ mà được quý.
Chú giải: Cần gặp Văn Xương, Văn Khúc, và còn phải miếu vượng.
日宁夫妻居陷地,加煞伤妻。
Nhật thủ phu thê cư hãm địa, gia sát thương thê.
Dịch nghĩa: Thái Dương thủ cung phu thê ở hãm địa, thêm sát tinh thì tổn thương vợ.
Chú giải: Không cần có Hóa Kị đã đúng.
太阳旺宫财宅位,若无空煞主积财。
Thái Dương vượng cung tài trạch vị, nhược vô không sát chủ tích tài.
Dịch nghĩa: Thái Dương miếu vượng ở cung tài bạch hay điền trạch, nếu không có sao không và sao sát là chủ về tích lũy được tiền của.
Chú giải: Tối kị Địa Không, Địa Kiếp; kế đó là kị Hỏa Tinh, Linh Tinh. Cung điền trạch mà gặp Thái Dương miếu vượng, chủ về được phúc ấm của bậc tôn trưởng.
太阳居迁移,难招祖业主离家。
Thái Dương cư thiên di, nan chiêu tổ nghiệp chủ li gia.
Dịch nghĩa: Thái Dương ở cung thiên di, khó được đất đai nhà cửa của ông bà cha mẹ, chủ về chia li với gia đình.
Chú giải: Nếu ở hãm địa, chia li với gia đình cũng không phát.
女命端正太阳星,早配贤夫信可凭。
Nữ mệnh đoan chính thái dương tinh, tảo phối hiền phu tín khả bằng.
Dịch nghĩa: Thái Dương ở cung mệnh là nữ mệnh đoan chính, lấy chồng sớm có thể tin và trông cậy được.
Chú giải: Cần phải ở cung miếu vượng.
日巳月酉,丑宫命步蟾宫。
Nhật Tị Nguyệt Dậu, Sửu cung mệnh bộ thiềm cung.
Dịch nghĩa: Thái dương ở cung Tị, Thái Âm ở cung Dậu, mệnh ở cung Sửu là bước lên cung Hằng.
Chú giải: Cục này Thiên Lương thủ mệnh ở cung Sửu, cho nên chỉ chủ về sang quý, thanh cao.
日卯月亥,未宫命多折桂。
Nhật Mão Nguyệt Hợi, Mùi cung mệnh đa chiết quế.
Dịch nghĩa: Thái Dương ở cung Mão, Thái Âm ở cung Hợi, mệnh ở cung Mùi phần nhiều đỗ đạt cao. (Xem hình 166)
Chú giải: Cục này cung Mùi vô chính diệu; có Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa là cách cục đặc biệt.

日月同未命安丑,侯伯之材。
Nhật Nguyệt đồng Mùi mệnh an Sửu, hầu bá chi tài.
Dịch nghĩa: Thái Dương, Thái Âm cùng ở cung Mùi, mệnh an ở cung Sửu, là tài năng đến bậc hầu bá.
Chú giải: Cung Sửu vô chính diệu, "Thái Dương, Thái Âm" cùng ở cung Mùi đến chiếu, lại tốt hơn "Thái Dương, Thái Âm" thủ mệnh ở cung Mùi.
日月命身居丑未,三方无吉反为凶。
Nhật Nguyệt mệnh thân cư Sửu Mùi, tam phương vô cát phản vi hung.
Dịch nghĩa: Thái Dương, Thái Âm an mệnh thân ở hai cung Sửu hoặc Mùi, tam phương không có sao cát là hung.
Chú giải: Thái Dương, Thái Âm đồng độ, cần phải gặp cát tinh, không có là phá cách.
日月守命,不如照合并明。
Nhật Nguyệt thủ mệnh, bất như chiếu hợp tịnh minh.
Dịch nghĩa: Thái Dương, Thái Âm thủ mệnh, không bằng hợp nhau chiếu và cùng sáng.
Chú giải: Đây là tổng hợp hai câu trước.
日辰月戌并争辉,权禄非浅。
Nhật Thìn Nguyệt Tuất tịnh tranh huy, quyền lộc phi thiển.
Dịch nghĩa: Thái Dương ở cung Thìn, Thái Âm ở cung Tuất đều tranh nhau sáng, quyền hành và lợi lộc không ít. (Xem hình 167)
Chú giải: Cần không có các sao sát, kị; ưa gặp Văn Xương, Văn Khúc.

日月夹命夹财加吉曜,不权则富。
Nhật Nguyệt giáp mệnh giáp tài gia cát diệu, bất quyền tắc phú.
Dịch nghĩa: Thái Dương, Thái Âm giáp mệnh hay giáp cung tài bạch, có thêm sao cát, không có quyền thì cũng phú.
Chú giải: Cổ nhân xem trọng mệnh cục "Thái Dương và Thái Âm giáp mệnh", cho rằng rất tốt. Trước tiên chúng ta thử nghiên cứu hai tình hình sau đây: một là, cung mệnh ở cung Sửu, lúc này Thái Âm ở cung Tí, Thái Dương ở cung Dần, chủ tinh của cung mệnh là Vũ Khúc, Tham Lang (Xem hình 168); hai là, cung mệnh ở cung Mùi, lúc này Thái Âm ở cung Ngọ, Thái Dương ở cung Thân, chủ tinh của cung mệnh cũng là "Vũ Khúc, Tham Lang" (Xem hình 169).


Nói cách khác, chúng ta thử nghiên cứu người có "Thái Dương, Thái Âm giáp mệnh", cung mệnh là hai sao Vũ Khúc và Tham Lang. Vũ Khúc là sao tiền tài, đồng thời còn mang chút tính chất độc đoán, không hợp quần, cho nên cách xử sự lại có sự quyết đoán. Tham Lang là sao chủ về tài nghệ kĩ xảo, đồng thời còn giỏi giao tế thù tạc. Cho nên lúc Vũ Khúc và Tham Lang cùng thủ cung mệnh, hai chủ tinh này có thể hỗ tương tạo thành tác dụng.
Một người nếu có tính quyết đoán và năng lực quản lí tài chính, đồng thời còn có kĩ năng chuyên môn mà lại giỏi giao tế, không cần nói cũng biết, đương nhiên là nhân vật thành công trên thương trường. Nhưng mệnh cục này cũng có khuyết điểm.
Trước tiên, Vũ Khúc chủ về chậm phát, cho nên chỉ có thể là nhân vật tay trắng làm nên, gian khổ sáng lập sự nghiệp.
Kế đến, mặt xấu của Tham Lang là dễ chìm đắm trong tửu sắc cờ bạc, do đó cũng có nguy cơ, nhẹ thì sự nghiệp vì vậy mà không thuận lợi, nặng thì thậm chí vì thông minh nên phạm sai lầm mà dẫn đến tai họa lao ngục. Bởi vì người có mệnh cục loại này thường thích giở trò, giở trò mà nhập tà đạo, đương nhiên bất lợi.
Cho nên người "Thái Dương, Thái Âm giáp mệnh", rất sợ cung mệnh gặp Kình Dương. Lúc mệnh ở cung Sửu, cung tài bạch ắt sẽ gặp Liêm Trinh, Phá Quân; lúc mệnh ở cung Mùi, cung tài bạch cũng sẽ gặp Liêm Trinh, Phá Quân. Liêm Trinh, Phá Quân hội hợp với Kình Dương ở hai cung Sửu hoặc Mùi, sẽ vì tiền bạc hoặc sự nghiệp mà dẫn đến kiện tụng, phạm pháp.
Hơn nữa, bất kể cung mệnh ở cung Sửu hay cung Mùi, cung phúc đức ắt sẽ gặp Thiên Tướng lạc hãm, cho nên hễ "Thái Dương, Thái Âm giáp mệnh", dù là mệnh tốt cũng chủ về bôn ba vất vả.
Cổ thư cho rằng "Thái Dương, Thái Âm giáp mệnh" là quý cục, thực ra phải có thêm nhiều điều kiện, cung mệnh không gặp Kình Dương, Đà La, đương nhiên là chính tà có ranh giới rõ ràng; có Thiên Khôi, Thiên Việt, Tả Phụ, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc hội hợp thì sự nghiệp có thể thành tựu; ưa nhất là có Hỏa Tinh, Linh Tinh. Bởi vì có Hỏa Tinh, Linh Tinh sẽ làm yếu đi tính "hiếu tửu tham hoa" của Tham Lang.
"Thái Dương, Thái Âm giáp mệnh" còn có hai tình hình khác như sau: một là, Thiên Phủ thủ mệnh ở cung Sửu, Thái Dương ở cung Tí, Thái Âm ở cung Dần (Xem hình 170); hai là, Thiên Phủ thủ mệnh ở cung Mùi, Thái Dương ở cung Ngọ, Thái Âm ở cung Thân (Xem hình 171).


Thiên Phủ là chủ tinh của Nam Đẩu tinh hệ, mà còn là thống đốc ngân hàng trung ương, thông thường, đương nhiên phải có tính chất tốt đẹp. Nhưng Thiên Phủ ở hai cung Sửu hoặc cung Mùi lại có một đặc điểm, đó là chỉ được độc tọa cung mệnh, còn cung thiên di ắt sẽ gặp Liêm Trinh, Thất Sát; vì vậy tính chất của Thiên Phủ thủ mệnh có thay đổi nhiều.
Lúc Thiên Phủ thủ mệnh ở cung Sửu, rất ưa người sinh năm Bính, bởi vì có Lộc Tồn ở cung Tị hội hợp, làm mạnh thêm tính thu lợi về sự nghiệp. Người sinh năm Giáp, Đinh, Kỉ, Canh, Quý, thì có Kình Dương hoặc Đà La gây rối rắm cho Thiên Phủ, chưa chắc đã cát lợi.
Lúc Thiên Phủ thủ mệnh ở cung Mùi, rất ưa người sinh năm Nhâm, bởi vì có Lộc Tồn ở cung Hợi hội hợp. Người sinh năm Giáp, Đinh, Kỉ, Canh, Quý, cũng có Kình Dương hoặc Đà La gây rối rắm cho Thiên Phủ.
Đặc điểm của Thiên Phủ độc tọa cung mệnh, vốn có tính cách bảo thủ, còn có thể nói là người keo kiệt, bủn xỉn; nhưng Liêm Trinh, Thất Sát ở đối cung lại có tính thích mạo hiểm, mà còn có nhiều thú vui, sở thích; vì vậy xung đột với tính chất Thiên Phủ độc tọa cung mệnh.
Lúc này nếu có Lộc Tồn trợ giúp, làm mạnh thêm "tính giữ tiền" của Thiên Phủ, sẽ đủ để ứng phó với tính tiêu hao của Liêm Trinh, Thất Sát. Ngược lại, nếu không phải là Lộc Tồn, mà là Kình Dương và Đà La hội hợp, Thiên Phủ phải ứng phó với tính tiêu hao của Liêm Trinh, Thất Sát, sẽ khiến Thiên Phủ đau lòng vì tính cách bảo thủ và keo kiệt, bủn xỉn của nó. Lúc này sẽ vì ảnh hưởng của Kình Dương, Đà La khiến cho nó cảm thấy phải bù đắp chỗ thiếu hụt; thế là trăm mưu ngàn kế, biến thành kẻ thủ đoạn xảo trá.
Nếu so sánh thì ở cung Sửu tốt hơn ở cung Mùi, bởi vì Thái Dương, Thái Âm đồng thời ở cung vượng, cục diện khá lớn. Nhưng nếu không có cát tinh vây chiếu, mà lại có tứ sát tinh hội hợp, thì cục diện càng lớn, cơ mưu thủ đoạn cũng sẽ càng lớn.
Vì vậy "Thái Dương, Thái Âm giáp mệnh" chưa chắc là đại quý.
日月最嫌反背。
Nhật Nguyệt tối hiềm phản bối.
Dịch nghĩa: Thái Dương, Thái Âm rất ngại phản bối.
Chú giải: Thái Dương ở cung Tí, Thái Âm ở cung Ngọ; Thái Dương ở cung Tuất, Thái Âm ở cung Thìn; Thái Dương ở cung Hợi, Thái Âm ở cung Tị, gọi là "phản bối" (trở mặt).
阴阳左右合为佳。
Âm Dương tả hữu hợp vi giai.
Dịch nghĩa: Thái Dương, Thái Âm, Tả Phụ, Hữu Bật tụ hợp là tốt.
Chú giải: Lấy trường hợp Thái Dương đồng độ với Tả Phụ; Thái Âm đồng độ với Hữu Bật; là chính cách. Kế đó là trường hợp Thái Dương đồng độ với Hữu Bật; Thái Âm đồng độ với Tả Phụ.
日月羊陀多克亲。
Nhật Nguyệt Dương Đà đa khắc thân.
Dịch nghĩa: Thái Dương, Thái Âm, Kình Dương, Đà La phần nhiều khắc người thân.
Chú giải: Miếu vượng thì chưa chắc đúng.
日月陷宫逢恶煞,劳碌奔波。
Nhật Nguyệt hãm cung phùng ác sát, lao lục bôn ba.
Dịch nghĩa: Thái Dương, Thái Âm ở cung hãm gặp ác sát tinh, chủ về vất vả bôn ba. (Xem hình 172)
Chú giải: Nếu ở cung miếu vượng, lại được cát hóa, chủ về vất vả mà giàu có.

日月更须贪煞会,男多奸盗女多淫。
Nhật Nguyệt cánh tu tham sát hội, nam đa gian đạo nữ đa dâm.
Dịch nghĩa: Thái Dương, Thái Âm lại gặp "sao tham", nam mệnh phần nhiều là trộm cắp, nữ mệnh phần nhiều đa dâm.
Chú giải: "Tham sát" là chỉ các sao đào hoa, chứ không phải chỉ Tham Lang.
日月疾厄命宫空,腰驼目瞽。
Nhật Nguyệt tật ách mệnh cung không, yêu đà mục cổ.
Dịch nghĩa: Thái Dương, Thái Âm ở cung tật ách, cung mệnh gặp sao không, chủ về lưng gù, mắt mù.
Chú giải: Đây là nói trường hợp ở cung tật ách hoặc cung mệnh, gặp Địa Không, Địa Kiếp.
Cốt Tủy Của Sao Thái Dương
Thái Dương luận trước hết theo sáng tối. Miếu vượng thì ánh sáng và nhiệt đủ hóa giải tính cô độc, hình khắc của Thiên Lương và sự mờ ám của Cự Môn; lạc hãm thì chính Thái Dương cần được bổ cứu, đời người phải qua một phen gắng gượng. Người tuổi trẻ đắc chí nhờ Thái Dương sáng lại cần tránh tâm cao khí ngạo, quá lộ tài năng.
Cổ quyết dành phần lớn cho quan hệ Thái Dương, Thái Âm: tịnh minh, giáp mệnh, hợp chiếu thì quý, phản bối hoặc hãm gặp sát tinh thì vất vả, khắc người thân; Hóa Kị ứng vào thị phi và bệnh mắt. Khi luận, xét độ sáng của cả hai vầng Nhật Nguyệt ở tam phương rồi mới xét Tứ Hóa và sát tinh.
Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tam Hợp Phái
