Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Tam Hợp Phái

Bài tổng quan

Cự Môn Thủ Mệnh: Ba Cung Độc Tọa Và Cổ Quyết Bát Hỉ Sao Lâu

Tử Vi Nam Phái - Tam Hợp Phái19/09/202615 phút đọc7 lượt đọc
Cự Môn Thủ Mệnh: Ba Cung Độc Tọa Và Cổ Quyết Bát Hỉ Sao Lâu

Cự Môn độc tọa ở Tí Ngọ, đối cung là Thiên Cơ, thành cách Thạch trung ẩn ngọc: người tài năng mà không lộ ra, chỉ bộc lộ vào những thời khắc quan trọng. Ở cung Thìn, Cự Môn Hóa Lộc có Văn Xương Hóa Kị đồng độ lại thành cách đại phú đại quý, nhưng chỉ người sinh năm Tân mới có. Ở Tị Hợi, sao ám cần Thái Dương đối cung soi sáng; an mệnh ở Tị gặp Thái Dương lạc hãm thì thơ ấu bất lợi về cha mẹ. Cổ quyết nói Cự Môn, Thái Dương ở Dần Thân, người thì danh trước lợi sau, người thì lợi trước danh sau, còn Cự Môn thủ cung huynh đệ thì cốt nhục bất hòa. Một ngôi sao mang sẵn bóng tối trong mình cần những gì để ánh sáng soi qua?


Cự Môn Độc Tọa Cung Mệnh Tí Ngọ

Cự Môn độc tọa ở hai cung Tí hoặc Ngọ, đối cung là Thiên Cơ, đây gọi là cách "Thạch trung ẩn ngọc".

"Thạch trung ẩn ngọc" là nói người tài năng mà không lộ ra, nhưng lại có thể biểu hiện vào những thời khắc quan trọng. Nếu là nữ mệnh, mới nhìn thì không đẹp lắm, nhưng nhìn lâu sẽ cảm thấy đẹp không thể tả. Cổ nhân xem trọng "trai tài gái sắc", ý nghĩa của "Thạch trung ẩn ngọc" là như vậy.

Cách cục "Thạch trung ẩn ngọc" cũng phân biệt cao thấp. Lấy trường hợp Cự Môn Hóa Lộc hoặc Hóa Quyền làm thượng cách; trường hợp Lộc Tồn đồng cung là kế đó; trường hợp không có Hóa Lộc, Hóa Quyền, Lộc Tồn, nhưng có Tả Phụ, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc, Thiên Khôi, Thiên Việt hội hợp, là kế đó nữa.

Nếu không gặp cát hóa, Lộc Tồn, và sao cát, mà lại gặp Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp là phá cách.

Được thượng cách "Thạch trung ẩn ngọc", nên theo ngành pháp luật, ngoại giao, quảng bá, có thể dùng tài ăn nói để đạt được phú quý. Thứ cách và cách cục kế đó nữa, cũng lợi về các công việc phát huy tài ăn nói, có thể nhờ nó mà thành tựu; nếu có lẫn lộn sát tinh cũng chẳng ảnh hưởng đến sự thành công trong sự nghiệp, bất quá trong lúc phát triển sẽ tốn công giải quyết những rắc rối, khó khăn, mà thành tựu cũng chỉ hơi kém hơn mà thôi.

Người gặp phá cách, chủ về cuộc đời khốn khó, dù phú quý cũng không được lâu. Gặp thêm Cự Môn Hóa Kị, thủ mệnh ở cung Tí thì không kị, chủ về lúc phát triển sẽ gặp phải rắc rối, khó khăn, sau khi giải quyết xong có thể tăng thêm vẻ vang, rực rỡ; nhưng thủ mệnh ở cung Ngọ thì cuộc đời gặp nhiều điều tiếng thị phi.

Phàm là người thuộc cách "Thạch trung ẩn ngọc", bất kể phú quý như thế nào, trong cuộc đời đều không nên lên đến đỉnh tối cao. Một khi ngồi lên chiếc ghế cao nhất, lập tức sẽ trở thành mục tiêu chỉ trích của mọi người, nếu cố gắng xử lí ổn thỏa, trái lại thị phi sẽ càng nghiêm trọng, không bằng hơi giấu tài một chút, mới giữ được địa vị và tài phú.

Cự Môn Độc Tọa Cung Mệnh Thìn Tuất

Cự Môn độc tọa ở hai cung Thìn hoặc Tuất, đối cung là Thiên Đồng. Hai cung độ này đều có một cách đặc biệt.

Cự Môn tọa cung Thìn, Hóa Lộc; và có Văn Xương đồng độ, nhưng Văn Xương Hóa Kị; đây là cách đặc biệt đại phú đại quý. Ở đây lấy Thiên Đồng của cung Tuất để hóa giải Văn Xương Hóa Kị. Cách này chỉ người sinh năm Tân mới có. Bí quyết nói: "Cự Môn ở cung Thìn là hãm địa, người mệnh Tân gặp thì trái lại, là cách đặc biệt" (巨门辰宫为陷地,辛人命遇反为奇 Cự Môn Thìn cung vi hãm địa, Tân nhân mệnh ngộ phản vi kì), là nói về cách cục này.

Nếu Cự Môn tọa cung Tuất, có Văn Xương đồng độ, người sinh năm Tân cũng có Hóa Lộc, Hóa Kị; có điều nhờ Thiên Đồng của cung Thìn mà Hóa Kị hơi bị yếu đi, nên không bằng người an mệnh ở cung Thìn.

Nhưng an mệnh ở cung Tuất, Cự Môn Hóa Quyền hoặc Hóa Lộc, cũng là cách đặc biệt (không cần gặp Văn Xương đồng độ), đây là lúc Thái Dương ở cung Ngọ, mặt trời ở giữa bầu trời, có thể giải trừ "ám" của Cự Môn. Cách này chỉ người sinh năm Quý, hoặc người sinh năm Tân mới có. Bí quyết nói: "Cự Môn ở cung Tuất là hãm địa, người sinh năm Quý hoặc Tân gặp nó thì trái lại, sẽ là cách đặc biệt" (戌宫巨门为陷地,癸辛人遇反为奇 Tuất cung Cự Môn vi hãm địa, Quý Tân nhân ngộ phản vi kì), tức là chỉ loại tinh hệ có kết cấu này.

An mệnh ở cung Thìn thì không phải, bởi vì sẽ gặp Thái Dương lạc hãm.

Ngoại trừ hai cách cục này ra, do "Tham Lang, Cự Môn" ở cung Thìn và cung Tuất là hãm địa, lại là "Thiên La, Địa Võng", cho nên các sao khác rất khó phối hợp. Sát tinh có thể tạo ra lực kích phát, nhưng Cự Môn lạc hãm mà gặp sát tinh, thì chủ về một đời nhiều điều tiếng thị phi; nếu có tứ sát cùng chiếu, thì kiện tụng hung hiểm đến liên tiếp. Có sao phụ tá cát hội hợp thì có thể giảm bớt điều tiếng thị phi và hung ách, nhưng lại khiến cho người ta dễ bị trói buộc, hao tổn, không thể thoát ra khỏi "Thiên La, Địa Võng", do đó sự phát triển cũng có hạn.

Dựa vào các nhân tố vừa thuật ở trên, đại để trường hợp gặp sát tinh thì lợi về làm nghề bán hàng, chào hàng, những nghề có thể lợi dụng lực kích phát của sát tinh để cạnh tranh; gặp các sao phụ tá cát thì nên làm giáo chức, để giữ sự yên ổn, an định.

Cự Môn Hóa Kị, rất ưa có một hai sát tinh đồng độ hoặc hội hợp, có thể khiến cho sao kị đắc dụng, đời người sẽ an định. Nếu có sát tinh, nhưng lại Hóa Quyền, Hóa Lộc, thì dễ có phản ứng sai lầm, hành động không mang lại hiệu quả tốt cho bản thân, hay lần lữa, do dự, thiếu quyết đoán, tự chuốc cảnh khốn khó.

Cự Môn thủ mệnh ở hai cung Thìn hoặc Tuất, thông thường phải đến đại hạn thứ tư thì hào quang mới chói lọi, có thể phát mạnh.

Cự Môn Độc Tọa Cung Mệnh Tị Hợi

Cự Môn độc tọa ở hai cung Tị hoặc Hợi, đối cung là Thái Dương. Khi Cự Môn ở cung Tị, thì Thái Dương ở cung Hợi là lạc hãm; khi Cự Môn ở cung Hợi thì Thái Dương ở cung Tị là thừa vượng. Cự Môn nhờ Thái Dương hóa giải âm ám, nên Cự Môn của cung Tị không bằng Cự Môn của cung Hợi.

An mệnh ở cung Tị, do Thái Dương ở đối cung bị lạc hãm vô lực, nên thời thơ ấu bất lợi về cha mẹ; gặp Địa Không, Địa Kiếp đồng độ thì càng tệ, có khả năng vừa sinh ra đã bị cha mẹ bỏ rơi, cũng chủ về lúc bé cha bị tổn thương, nếu do nhị phòng sinh ra thì có thể miễn; hoặc từ lúc bé đã nhiều bệnh tật, khiến cha mẹ lo lắng, vất vả.

Người Cự Môn thủ mệnh ở cung Tị, tuy tuổi trẻ bị nhiều nạn tai tật bệnh hoặc đường đời gập ghềnh, trắc trở, bất đắc chí, nhưng vẫn có thể học nghề chuyên môn để mưu sinh, chịu được vất vả thì vẫn có thể mở được con đường để đi. Nếu có Lộc Tồn đồng độ, thì chủ về tính tình cần kiệm, chất phác, cũng có thể trở nên giàu có. Nếu Hóa Lộc hoặc Hóa Quyền, thì chủ về có lực khai sáng rất mạnh, dựa vào tri thức chuyên môn mà khai sáng sự nghiệp lớn lao, địa vị xã hội cũng cao.

Người Cự Môn thủ mệnh ở cung Hợi, nếu có Hóa Lộc, Hóa Quyền hoặc Lộc Tồn đồng độ, cổ nhân cho rằng "tên tuổi vang dội ở nước ngoài" (名震他邦 danh chấn tha bang), chủ về phát phúc ở nước khác. Trong xã hội hiện đại, do giao thông phát triển, cũng có thể an cư ở trong nước và qua lại với người ngoại quốc, được người ngoại quốc xem trọng và trợ lực. Có điều, Cự Môn ở cung Hợi bị Thái Dương của cung Tị xung chiếu, ánh sáng của Thái Dương mạnh mẽ, nên chủ về quá lộ tài năng, dẫn đến đố kị, oán ghét, thị phi. Cự Môn là phiền phức thị phi, nên khó tránh.

Cự Môn ở hai cung Tị hoặc Hợi, nếu gặp Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phụ, Hữu Bật, Thiên Khôi, Thiên Việt, có thể phát triển trong các ngành nghề như quảng cáo, quảng bá, quan hệ công cộng. Nếu lại gặp các sao đào hoa như Hồng Loan, Thiên Hỉ, Hàm Trì, Mộc Dục, Thiên Diêu, thì có thể theo ngành nghệ thuật biểu diễn. Nếu có các sao phụ tá cát và các sao sát, hình, kị cùng đến, thì nên học khoa học kĩ thuật, hoặc nghề chuyên môn.

Nữ mệnh gặp Cự Môn nhập miếu, được sao lộc, và được các sao cát hóa là Hóa Quyền, Hóa Khoa thì chủ về phú quý, sống thọ. Có điều Cự Môn ở hai cung Tị hoặc Hợi phần nhiều vẫn buồn phiền về chuyện tình yêu. Nếu lạc hãm, Hóa Kị, thì có điều tiếng thị phi sau lưng, mà còn dễ rơi vào tệ phụ nữ nhiều chuyện. Nếu gặp tứ sát, Thiên Hình hội chiếu, thì hình khắc càng nặng, chủ về làm kế thất hoặc sống chung mà không cử hành hôn lễ, nhiều thị phi tranh đoạt.

Cự Môn nhập cung mệnh của đại hạn hay lưu niên, gặp Hóa Lộc, Hóa Quyền hoặc Lộc Tồn đồng độ, chủ về sự nghiệp phát triển; nếu gặp thị phi, trở ngại, thì không nên phản kích, mà nên lợi dụng nó để có tiếng tăm. Nếu có tứ sát hội chiếu, chủ về phạm pháp, hình khắc, hoặc bị hỏa tai, trộm cướp.

Cổ Quyết Bát Hỉ Sao Lâu Về Sao Cự Môn

Ba vị trí độc tọa cho thấy Cự Môn sáng hay tối tùy vào sao đối cung; cổ quyết thì ghi những tổ hợp đã ứng nghiệm, từ viên ngọc trong đá tới cảnh thị phi, khốn khó.

巨日申宫立命,先驱名而食禄。巨日命宫寅位,贪禄驰名。
Cự Nhật Thân cung lập mệnh, tiên khu danh nhi thực lộc. Cự Nhật mệnh cung Dần vị, tham lộc trì danh.

Dịch nghĩa: Cự Môn, Thái Dương thủ mệnh ở cung Thân, trước có danh sau có lộc. Cự Môn, Thái Dương thủ mệnh ở cung Dần, gọi là "tham lộc và theo đuổi danh vọng".
Chú giải: Cự Môn, Thái Dương cùng ở cung Dần là quý. Nếu an mệnh ở cung Thân mượn sao an cung, chủ về trước có danh tiếng sau mới có lợi lộc; nếu an mệnh ở cung Dần, thì trước có lợi lộc sau mới có danh tiếng. (Xem hình 198, 199)

Hình 198: ví dụ 1, an mệnh ở cung Thân vô chính diệu, Thái Dương Cự Môn ở cung thiên di Dần, chủ về danh trước lợi sau
H. 198
Hình 199: ví dụ 2, an mệnh ở cung Dần có Thái Dương Cự Môn, chủ về lợi trước danh sau
H. 199

巨门子午科权禄,石中隐玉福兴隆。
Cự Môn Tí Ngọ Khoa Quyền Lộc, thạch trung ẩn ngọc phúc hưng long.

Dịch nghĩa: Cự Môn ở hai cung Tí hoặc Ngọ, Hóa Khoa, Hóa Quyền, Hóa Lộc, là cách cục "Thạch trung ẩn ngọc" hưởng phúc hưng thịnh.
Chú giải: Xem các mục liên quan đến cách cục "Thạch trung ẩn ngọc" trong sách này.

巨在亥宫日命巳,贪禄驰名。巨在巳宫日命亥,反为不佳。
Cự tại Hợi cung Nhật mệnh Tị, tham lộc trì danh. Cự tại Tị cung Nhật mệnh Hợi, phản vi bất giai.

Dịch nghĩa: Cự Môn ở cung Hợi, Thái Dương thủ mệnh ở cung Tị, tham hưởng lộc và theo đuổi danh vọng. Cự Môn ở cung Tị, Thái Dương thủ mệnh ở cung Hợi, là không tốt.
Chú giải: Thái Dương ở cung Tị thì tốt, ở cung Hợi thì không hay.

巨日拱照亦为奇。
Cự Nhật củng chiếu diệc vi kì.

Dịch nghĩa: Cự Môn có Thái Dương vây chiếu cũng là cách đặc biệt.
Chú giải: Tức là Cự Môn thủ mệnh ở cung Hợi, Thái Dương ở cung Tị.

巨机居卯,乙辛己丙至公卿。
Cự Cơ cư Mão, Ất Tân Kỉ Bính chí công khanh.

Dịch nghĩa: Cự Môn, Thiên Cơ ở cung Mão, người sinh năm Ất, Tân, Kỉ, Bính làm quan đến bậc công khanh.
Chú giải: Ở đây trường hợp có sao lộc là tốt, có sát tinh đồng cung thì không đúng.

巨机酉上化吉者,纵有财官不善终。
Cự Cơ Dậu thượng hóa cát giả, túng hữu tài quan bất thiện chung.

Dịch nghĩa: Cự Môn, Thiên Cơ ở cung Dậu được hóa cát, dù có tiền tài danh vọng cũng không thiện chung.
Chú giải: "Thiên Cơ, Cự Môn" ở cung Dậu, chủ về giàu thì không sống thọ, nghèo lại sống thọ.

巨机辰宫化忌,辛人命遇反为奇。
Cự Cơ Thìn cung hóa kị, Tân nhân mệnh ngộ phản vi kì.

Dịch nghĩa: Cự Môn, Thiên Cơ ở cung Thìn Hóa Kị, người sinh năm Tân là mệnh phản thành cách đặc biệt.
Chú giải: Ở đây dường như có sự lầm lẫn. Nên là Cự Môn ở cung Thìn Hóa Kị, Thiên Đồng của đối cung Hóa Quyền, thành cách đặc biệt, nhưng tất sẽ là người sinh năm Đinh.

巨门羊陀于身命疾厄,羸黄困弱盗而娼。
Cự Môn Dương Đà vu thân mệnh tật ách, luy hoàng khốn nhược đạo nhi xướng.

Dịch nghĩa: Cự Môn, Kình Dương, Đà La ở cung thân, cung mệnh, cung tật ách, (thân thể) vàng vọt gầy yếu, khốn khó, trộm cắp hay kĩ nữ.
Chú giải: Đây là nói ứng ở cung mệnh hay cung thân, hoặc ở cung tật ách. Có điều Cự Môn Hóa Kị mới đúng.

巨同丑未为下格。
Cự Đồng Sửu Vị vi hạ cách.

Dịch nghĩa: Cự Môn, Thiên Đồng ở hai cung Sửu hoặc Mùi là hạ cách.
Chú giải: "Thiên Đồng, Cự Môn" ở hai cung Sửu hoặc Mùi gặp các sao sát, kị, hình, hao.

巨门陀罗,必生异痣。
Cự Môn Đà La, tất sinh dị chí.

Dịch nghĩa: Cự Môn, Đà La, ắt sẽ có nốt ruồi lạ.
Chú giải: Hội hợp thêm Hỏa Tinh mới đúng, cũng chủ về bớt trên da.

辰戌应嫌陷巨门。
Thìn Tuất ứng hiềm hãm Cự Môn.

Dịch nghĩa: Ở hai cung Thìn hoặc Tuất nên ngại Cự Môn bị hãm.
Chú giải: "Hãm" ở đây không phải nói Cự Môn thất hãm, bởi vì theo tương truyền của phái Trung Châu, Cự Môn ở hai cung Thìn hoặc Tuất chỉ là "bình nhàn", còn "hãm" ở đây là "khốn hãm" (khốn khó). Sở dĩ nó không cát lợi là vì tổ hợp tinh hệ, chứ không phải vì miếu vượng thất hãm. (Xin xem mục liên quan ở phần 2)

巨宿同梁冲且合,子羽才能。
Cự tú Đồng Lương xung thả hợp, tử vũ tài năng.

Dịch nghĩa: Cự Môn, Thiên Đồng, Thiên Lương, xung mà còn hội hợp, là người có tài năng.
Chú giải: Cần phải an mệnh ở cung Thân vô chính diệu, đối cung có "Thái Dương, Cự Môn", cung Tí có "Thái Âm, Thiên Đồng", cung Thìn có "Thiên Cơ, Thiên Lương" đến hội hợp, còn phải là người sinh năm Đinh, được cát hóa mới đúng. (Xem hình 200)

Hình 200: sinh giờ Thìn năm Đinh, mệnh vô chính diệu ở Thân có Văn Khúc, Thái Dương Cự Môn Hóa Kị ở Dần, Thái Âm Hóa Lộc Thiên Đồng Hóa Quyền ở Tí, Thiên Cơ Hóa Khoa Thiên Lương ở Thìn, chủ về có tài năng, có thể dương danh ở nước ngoài
H. 200

巨门守命,三合煞凑必遭火厄。
Cự Môn thủ mệnh, tam hợp sát tấu tất tao hỏa ách.

Dịch nghĩa: Cự Môn thủ mệnh, tam hợp có sát tinh ắt sẽ bị hỏa hoạn.
Chú giải: Gặp Kình Dương, Linh Tinh hoặc gặp Hỏa Tinh, Đà La mới đúng.

巨门守兄弟,骨肉参商。
Cự Môn thủ huynh đệ, cốt nhục tham thương.

Dịch nghĩa: Cự Môn thủ cung huynh đệ, cốt nhục bất hòa.
Chú giải: Hóa Kị gặp sát tinh mới đúng. Nếu hội Thái Âm Hóa Kị, chị em dâu nhiều chuyện thị phi. (Xem hình 201)

Hình 201: sinh giờ Mão năm Ất, Thái Dương Cự Môn ở cung giao hữu Thân gặp sát tinh, hội hợp với Thái Âm Hóa Kị ở Ngọ, chủ về chị em dâu nhiều chuyện thị phi
H. 201

巨门子女,损后方招。
Cự Môn tử nữ, tổn hậu phương chiêu.

Dịch nghĩa: Cự Môn ở cung tử nữ, hết tổn thương thì lại chuốc vạ.
Chú giải: Gặp các sao sát, kị mới đúng; nếu không, tuy có con mà như không có con.

巨门四煞陷而凶。
Cự Môn tứ sát hãm nhi hung.

Dịch nghĩa: Cự Môn, tứ sát tinh hãm mà hung.
Chú giải: Cự Môn ở hai cung Thìn hoặc Tuất là lạc hãm.

巨门擎火羊陀逢恶曜,防缢死投河。
Cự Môn, Kình Hỏa, Dương Đà phùng ác diệu, phòng ải tử đầu hà.

Dịch nghĩa: Cự Môn, Kình Dương, Hỏa Tinh, Kình Dương, Đà La gặp sao ác, để phòng tai nạn sông nước.
Chú giải: Sao ác là chỉ Hóa Kị và Thiên Hình, Đại Hao.

巨火铃星,逢恶限死外道。
Cự Hỏa Linh Tinh, phùng ác hạn tử ngoại đạo.

Dịch nghĩa: Cự Môn, Hỏa Tinh, Linh Tinh, gặp vận hạn xấu là chết ở ngoài đường.
Chú giải: Cự Môn ở các cung có phản ứng khác nhau (xin xem mục liên quan ở phần 2).

巨宿天机为破荡。
Cự tú Thiên Cơ vi phá đãng.

Dịch nghĩa: Cự Môn, Thiên Cơ là chủ về phá sạch gia sản.
Chú giải: Đây là nói về nữ mệnh, Hóa Kị gặp sát tinh mới đúng.

Cốt Tủy Của Sao Cự Môn

Cự Môn là ám tinh, cần Thái Dương soi sáng để hóa giải; cát hung phụ thuộc Thái Dương miếu hay hãm, Cự Môn Hóa Lộc hay Hóa Kị, và sát tinh đi kèm. Chữ hãm của Cự Môn ở Thìn Tuất, theo phái Trung Châu, là khốn hãm do tổ hợp tinh hệ, không phải miếu hãm.

Cổ quyết cho thấy Cự Môn thành cách khi được Hóa Khoa, Hóa Quyền, Hóa Lộc ở Tí Ngọ hoặc có Thái Dương sáng vây chiếu, còn gặp Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh cùng sao ác thì phải đề phòng tai nạn. Khi luận, xét Thái Dương trước, sau mới xét Tứ Hóa và sát tinh.


Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tam Hợp Phái

Chủ đề của bài

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Tam Hợp Phái