Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Tam Hợp Phái

Bài tổng quan

Thạch Trung Ẩn Ngọc, Tử Phủ Triều Viên Và Bốn Cách Cục Gây Tranh Luận

Tử Vi Nam Phái - Tam Hợp Phái19/09/202613 phút đọc2 lượt đọc
Thạch Trung Ẩn Ngọc, Tử Phủ Triều Viên Và Bốn Cách Cục Gây Tranh Luận

Một người sinh năm Tân, mang Cự Môn ở Tí Ngọ, đọc được câu phú xưa hứa hẹn về già "tươi nhuận làm phú ông", không khỏi mừng thầm; nhưng đổi sang năm sinh khác, câu phú tốt lành ấy lập tức hóa thành lời cảnh báo phá tán. Một người khác có Vũ Khúc ở cung miếu vượng, được gọi là "tướng tinh đắc địa", tưởng nắm chắc binh quyền, kỳ thực đời nhiều cô độc, xa xứ. Còn người có cung mệnh trống rỗng, không một chính tinh tọa thủ, bị người xưa gán ngay cho số phận lìa quê, làm con nuôi thiên hạ. Sáu cách cục dưới đây đều mang danh xưng đẹp đẽ, nhưng Vương Đình Chi đã lần lượt vạch ra chỗ khiên cưỡng trong lập luận của người xưa. Danh xưng và thực chất, rốt cuộc bên nào đáng tin hơn?


Thạch trung ẩn ngọc cách

Cách cục "Thạch trung ẩn ngọc" tức là người sinh năm Đinh hoặc Quý, Cự Môn thủ mệnh ở cung Tí hoặc Ngọ. Cổ ca nói:

巨门子午喜相逢,
更值生人丁癸中,
甲岁定为擧桂客,
老来滋润富家翁.

Phiên âm:
Cự Môn Tí Ngọ hỉ tương phùng,
Cánh trị sinh nhân Đinh Quý trung,
Giáp tuế định vi phàn quế khách,
Lão lai tư nhuận phú gia ông.

Dịch nghĩa:
Cự Môn thích gặp Tí Ngọ cung,
Gặp người sinh trong năm Đinh Quý,
Năm Giáp định là rất sang quý,
Đến già tươi nhuận làm phú ông.

Cách cục này, cổ nhân che giấu rất nhiều điều, đến nỗi người ta chỉ có thể lấy câu "Người sinh năm Đinh Quý, Cự Môn ở Tí Ngọ" (丁癸生人,巨门子午 Đinh Quý sinh nhân, Cự Môn Tí Ngọ) để làm công thức ghi nhớ.

Thực ra cách cục này, Cự Môn sẽ gặp hai trong ba sao hóa Lộc, Quyền và Khoa. Nếu phân tích tỉ mỉ thì kết cấu tạo thành "Thạch trung ẩn ngọc" phải có vài loại như dưới đây.

Thứ nhất, người sinh năm Tân, Cự Môn Hóa Lộc hội Thái Dương Hóa Quyền, được Văn Xương Hóa Khoa hội chiếu, là thượng cách. (Xem hình 118)

Hình 118: mệnh ở Ngọ có Cự Môn vượng hóa Lộc; ví dụ người sinh năm Tân gặp Văn Khúc Hóa Khoa là thượng cách
H. 118

Thứ hai, người sinh năm Quý, Cự Môn Hóa Quyền, được Lộc Tồn ở đối cung vây chiếu, cũng là thượng cách. (Xem hình 119)

Hình 119: ví dụ 2, người sinh năm Quý, Cự Môn Hóa Quyền tại mệnh, Lộc Tồn ở đối cung Tí
H. 119

Thứ ba, người sinh năm Đinh, Cự Môn và Lộc Tồn đồng độ hoặc vây chiếu, Thiên Cơ Hóa Khoa ở đối cung vây chiếu, là trung cách. (Xem hình 120)

Hình 120: ví dụ 3, người sinh năm Đinh, Cự Môn Hóa Kị cùng Lộc Tồn tại mệnh, Thiên Cơ Hóa Khoa ở đối cung
H. 120

Thứ tư, người sinh năm Kỉ, chỉ được Cự Môn và Lộc Tồn đồng độ hoặc vây chiếu, là trung cách. (Xem hình 121)

Hình 121: ví dụ 4, người sinh năm Kỉ, Cự Môn cùng Lộc Tồn tại mệnh là trung cách
H. 121

Thứ năm, người sinh năm Bính, Kình Dương và Cự Môn đồng độ hoặc vây chiếu, là hạ cách. (Xem hình 122)

Hình 122: ví dụ 5, người sinh năm Bính, Cự Môn cùng Kình Dương tại mệnh là hạ cách
H. 122

Thứ sáu, người sinh năm Mậu, không những Kình Dương và Cự Môn đồng độ, mà còn Thiên Cơ Hóa Kị ở đối cung cũng vây chiếu, dù hội Thái Dương Hóa Khoa, vẫn là phá cách. (Xem hình 123)

Hình 123: ví dụ 6, người sinh năm Mậu, Cự Môn cùng Kình Dương tại mệnh, Thiên Cơ Hóa Kị ở đối cung, là phá cách
H. 123

Kết cấu cách cục của "Thạch trung ẩn ngọc" thoạt nhìn thấy phức tạp, nhưng nói một cách khái quát là "nó ưa gặp Lộc, Quyền, Khoa, rất sợ gặp các sao hình, kị", không cần phải nhớ nhiều vẫn có thể lí giải được.

Tử Phủ triều viên cách

Cự Môn ẩn ngọc còn cần đúng năm sinh mới phát; hai sao tôn quý nhất tinh bàn thì được gán cho một quy tắc đơn giản hơn nhiều, chỉ cần đứng chầu ở tam phương là đủ quý.

Cách cục "Tử Phủ triều viên" tức là "Tử Vi, Thiên Phủ" ở tam phương hội chiếu cung mệnh (Xem hình 124). Như Liêm Trinh thủ mệnh ở cung Thân, "Tử Vi, Thiên Tướng" ở cung Thìn hội chiếu, "Thiên Phủ, Vũ Khúc" ở cung Tí hội chiếu. Cổ ca nói:

二斗尊星命内临,
清高祸患永无侵,
更加吉曜重相会,
食禄皇朝冠古今.

Phiên âm:
Nhị đẩu tôn tinh mệnh nội lâm,
Thanh cao họa hoạn vĩnh vô xâm,
Cánh gia cát diệu trùng tương hội,
Thực lộc hoàng triều quán cổ kim.

Dịch nghĩa:
Hai sao tôn quý chiếu mệnh cung,
Thanh cao họa mãi không xâm phạm,
Lại thêm sao cát trùng tương hội,
Lộc ăn triều đình quán cổ kim.

Hình 124: một ví dụ về cách cục Tử Phủ triều viên, mệnh ở Thân có Liêm Trinh, Tử Vi Thiên Tướng ở Thìn, Thiên Phủ Vũ Khúc ở Tí
H. 124

Theo Vương Đình Chi, người xưa lập cách cục này quá xem thường chính diệu của cung mệnh, lại lấy sao hội chiếu làm quý, vì vậy đây là cách cục thuộc loại khiên cưỡng, không đáng tin.

Thông thường các sách Đẩu Số đều suy tôn Bắc Đẩu chủ tinh Tử Vi và Nam Đẩu chủ tinh Thiên Phủ, cho rằng cung được hai sao tôn quý này đến hoặc hội chiếu nhất định sẽ cát lợi, điều này là do quá xem trọng cách đánh giá Tử Vi và Thiên Phủ trong thư tịch cổ.

Như nói Tử Vi là "cái linh thiêng của vạn vật" (万物之灵 vạn vật chi linh); "là ngọn nguồn của hữu dụng" (乃有用之源流 nãi hữu dụng chi nguyên lưu); "nắm bộ máy của tạo hóa" (掌握机造化 chưởng ác cơ tạo hoá); "giáng phúc các cung, tiêu trừ trăm ác" (诸宫降福,能消百恶 chư cung giáng phúc, năng tiêu bách ác); và Thiên Phủ là "sao Nam Đẩu có thể giải ách tăng thêm tuổi thọ" (乃南斗解厄延寿之星 Nãi Nam Đẩu giải ách diên thọ chi tinh), v. v...

Mà không biết hai chủ tinh này tuy có ưu điểm, nhưng cũng có rất nhiều khuyết điểm, hai sao hội hợp, khuyết điểm rõ ràng nhất là có phản ứng sai lầm, hành động không mang lại hiệu quả tốt cho bản thân, rất ham lập công, thêm vào ảnh hưởng của chính diệu Liêm Trinh ở cung mệnh thì dễ có tính cách "không quan tâm điều gì, coi mọi thứ như không có gì", hoặc có thể trở thành tà ác. Những tính chất này không phải hai sao "Tử Vi, Thiên Phủ" hội hợp là có thể cải thiện được.

Theo Vương Đình Chi, khi luận đoán Đẩu Số, căn cứ vào chính diệu của cung mệnh là đúng, không được xem trọng quá đáng mĩ danh "Tử Phủ triều viên".

Tướng Tinh đắc địa cách

Tử Vi, Thiên Phủ đứng chầu đã bị chê là gộp chung sao quý; đến Vũ Khúc một mình tọa mệnh cũng mang một mĩ danh tương tự, và cũng bị đặt lại câu hỏi tương tự.

Cách cục "Tướng Tinh đắc địa" tức là Vũ Khúc thủ mệnh ở cung miếu vượng (Xem hình 125). Cổ ca nói:

将星入庙实为祥,
位正官高到处强,
掠地攻城多妙策,
威风凛凛镇边疆.

Phiên âm:
Tướng tinh nhập miếu thực vi tường,
Vị chính quan cao đáo xứ cường,
Lược địa công thành đa diệu sách,
Thành phong lẫm lẫm trấn biên cương.

Dịch nghĩa:
Tướng tinh nhập miếu đúng là lành,
Vị chính quan cao đến xứ mạnh,
Chiếm đất công thành nhiều diệu kế,
Oai phong lẫm liệt trấn biên cương.

Theo Vương Đình Chi, cách cục này lại cũng thuộc loại suy diễn mơ hồ. Vì thời cổ đại có thuyết Vũ Khúc là sao tướng, vì vậy cho rằng đây là mạng "chiếm đất công thành", "oai phong lẫm liệt".

Vũ Khúc nhập miếu ở bốn cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi; thừa vượng ở hai cung Tí hoặc Ngọ. Chiếu theo cách cục trên, Vũ Khúc trong 12 cung vị, có 6 hợp cục. Nói như vậy, phàm là người có Vũ Khúc tọa mệnh đều sẽ chiếm nhiều tiện nghi? Theo Vương Đình Chi, đây là do đương thời, người lập cách cục này chưa suy tính sâu xa. Khi Vũ Khúc ở hai cung Thìn hoặc Tuất, là vào "Thiên La, Địa Võng", dù nhập miếu vẫn chẳng xuất sắc, không biết tại sao lại cho là "Tướng tinh đắc địa".

Hình 125: mệnh ở Thìn có Vũ Khúc miếu; ví dụ Tướng Tinh đắc địa có tính chất li hương xa xứ
H. 125

Phàm người Vũ Khúc thủ mệnh, tuy có thể dương danh, nhưng ít nhiều đều có tính chất cô độc và hình khắc. Thời cổ đại, người tòng quân phần nhiều không phải là tuổi trẻ ôm bầu máu nóng tòng quân báo quốc, mà thường là những người không nơi nương tựa, hoặc lục thân bất toàn, nên mới đành rời xa quê hương.

Tứ chính đồng lâm cách

Một sao tướng tinh được đặt tên trên sự suy diễn thời cổ; bốn sao tôn quý gộp lại thành một cách cục cũng đi theo lối suy diễn ấy, chỉ khác ở quy mô.

Cách cục "Tứ chính đồng lâm" tức là trong bốn sao Tử Vi, Thiên Phủ, Thái Dương, Thái Âm, có một hoặc hai sao thủ mệnh (Xem hình 126, 127).

Cổ ca nói:

四正来临居旺地,
一生爵禄定非常,
文为辅弼依龙凤,
武掌兵权佐帝王.

Phiên âm:
Tứ chính lai lâm cư vượng địa,
Nhất sinh tước lộc định phi thường,
Văn vi Phụ Bật y long phụng,
Vũ chưởng binh quyền tá đế vương.

Dịch nghĩa:
Tứ chính đến nơi ở đất vượng,
Một đời tước lộc thật phi thường,
Văn là phò tá bay rồng phượng,
Võ nắm binh quyền trợ đế vương.

Cách cục này phạm vào bệnh "gộp chung". Bốn sao Tử Vi, Thiên Phủ, Thái Dương, Thái Âm trong Tử Vi Đẩu Số nếu ở vào cung miếu vượng, thông thường sẽ có tính chất tốt lành, cho nên gọi là "tứ chính" (khác nghĩa với "tứ chính" của "tam phương tứ chính"). Thực ra đây là do suy diễn từ tính chất tôn quý của bốn sao này, như sau: Tử Vi là chủ tinh Bắc Đẩu tinh hệ; Thiên Phủ là chủ tinh Nam Đẩu tinh hệ; "Thái Dương, Thái Âm" là chủ tinh Trung Thiên tinh hệ (Thái Dương chủ về ban ngày, Thái Âm chủ về ban đêm).

Hình 126: ví dụ 1, mệnh ở Dần có Tử Vi Thiên Phủ miếu, Tứ chính đồng lâm chủ về làm người quang minh chính đại
H. 126
Hình 127: ví dụ 2, mệnh ở Ngọ có Thái Dương miếu
H. 127

Nhưng khi chủ tinh nhập miếu, thông thường chỉ chủ về quang minh chính đại, mà chẳng biểu thị người này có thể "Văn vi Phụ Bật y long phụng", "Vũ chưởng binh quyền". Cho nên muốn luận đoán mệnh cục, vẫn cần phải xem ý nghĩa của từng sao ở các cung mà định, chứ không thể căn cứ hoàn toàn vào cách cục do người đời Minh định ra.

Theo Vương Đình Chi, nghiên cứu Đẩu Số cần phải chú ý tính toàn thể của "tinh hệ", nhất thiết không được chi li vụn vặt, mang từng sao riêng rẽ ra nghiên cứu. "Tứ chính đồng lâm" chính là cách cục phạm vào bệnh này. Không như "Cự Nhật đồng cung", "Cơ Cự đồng lâm", "Thạch trung ẩn ngọc", "Tam hợp Hỏa Tham" là các cách cục thuần chính.

Mệnh vô chính diệu cách

Tứ chính đồng lâm là quá nhiều sao đẹp gộp vào một cung; Mệnh vô chính diệu là cung mệnh không có lấy một sao nào, hai thái cực của cùng một cách nhìn về chính diệu.

Cách cục "Mệnh vô chính diệu" tức là cung mệnh không có chính diệu tọa thủ (Xem hình 128).

Cổ ca nói:

命宫星曜值空亡,
幼岁重重有祸殃,
不是过房须寄养,
他乡好去作东床.

Phiên âm:
Mệnh cung tinh diệu trị không vong,
Ấu tuế trùng trùng hữu họa ương,
Bất thị quá phòng tu kí dưỡng,
Tha hương hiếu khứ tác đông sàng.

Dịch nghĩa:
Mệnh cung tinh diệu chẳng có gì,
Thuở nhỏ trùng trùng đủ họa ương,
Không làm con nuôi của người khác,
Thì cũng làm rể ở tha hương.

Hình 128: một ví dụ mệnh vô chính diệu, mệnh ở Sửu không có chính tinh tọa thủ
H. 128

Liên quan đến cách cục này, bản khắc đời Minh ở Phúc Kiến viết: "Mệnh không có chính tinh, phù tinh túng tinh là nó" (即命宫无正星浮星纵星是也 tức mệnh cung vô chính tinh phù tinh túng tinh thị dã) nhưng bản chép tay đời Nguyên lại phê: "không có hai sao chính tinh của Nam Bắc Đẩu" (无南北二斗正星也 vô Nam Bắc nhị đẩu chính tinh dã). Lời phê này không nhắc đến "phù tinh" và "túng tinh".

Sao gọi là "phù tinh"? Đây là chỉ Hỏa Tinh và Linh Tinh. Còn tại sao gọi là "túng tinh"? Vương Đình Chi không biết lí do, ông nghi chữ này có thể do in sai từ chữ "tùng tinh" 从星 (sao đi theo).

Cổ nhân luận mệnh số, có thuyết "mệnh không có chính diệu là người hai họ, làm con thừa tự của người khác" (命无正曜,二姓延生 mệnh vô chính diệu, nhị tính diên sinh). Nhưng thuyết này có tính giới hạn cục bộ rất lớn. Bởi vì khi cung mệnh vô chính diệu, thì phải mượn sao của đối cung để luận đoán, đối cung của cung mệnh là cung thiên di, cho nên mệnh cục này cũng lợi về "dời chuyển", tức là lợi về đi xa ở tha hương.

Người cổ đại luôn muốn an thân lập nghiệp ở quê nhà, không dễ dàng rời xa quê hương như người hiện đại. Cho nên hễ là người rời xa quê hương thì đa số là song thân qua đời, hoặc ở quê nhà không còn gì để sống, vì vậy "mệnh vô chính diệu" cũng bị cổ nhân cho là ấu thời bất hạnh, dẫn đến phải làm con nuôi người khác, hoặc phiêu lưu tha hương ở rể bên nhà vợ. Nhất là trong xã hội nông nghiệp thời cổ đại, có tập tục nhận con rể để làm ruộng, người xưa luận như vậy là đương nhiên. Ngày nay luận đoán Đẩu Số, vẫn phải mượn sao ở cung thiên di để làm căn cứ luận đoán.

Cực cư Mão vị cách

Cung mệnh trống trơn đã bị coi là điềm lìa quê; đế tinh Tử Vi mà lạc vào hai cung thất địa thì người xưa còn đẩy đi xa hơn, đến tận cửa không.

Cách cục "Cực cư Mão vị" tức là Tử Vi cư Mão Dậu gặp sát tinh (Xem hình 129). Cổ ca nói:

紫微卯酉忌相逢,
文曲蹉跎岂有成,
借问此身何处去,
缁友削发立空门.

Phiên âm:
Tử Vi Mão Dậu kị tương phùng,
Văn Khúc tha đà khởi hữu thành,
Tá vấn thử thân hà xứ khứ,
Tri hữu tước phát lập không môn.

Dịch nghĩa:
Tử Vi Mão Dậu kị gặp nhau,
Văn Khúc tà tà mà có thành,
Xin hỏi thân ấy há về đâu,
Áo thâm gọt tóc vào không cửa.

Trong 12 cung, Tử Vi không có cung hãm, nhưng ở cung Mão và cung Dậu là thất địa, bởi vì hễ Tử Vi mà ở cung Mão hay cung Dậu, ắt sẽ đồng cư với Tham Lang, cổ nhân gọi cách cục này là "Đào hoa phạm chủ", nam nữ đều chủ về dâm loạn.

Nhưng tại sao cách cục "Đào hoa phạm chủ" mà gặp sát tinh thì lại bị cho là làm tăng nhân? Đây vốn căn cứ vào khẩu quyết cổ đại: "Tử Vi cư Mão Dậu, gặp tứ sát Kiếp Không, phần nhiều làm tăng nhân thoát tục" (紫居卯酉,遇劫空四煞,多为脱俗僧家 Tử cư Mão Dậu, ngộ Kiếp Không tứ sát, đa vi thoát tục tăng gia).

Liên quan đến điểm này, cổ nhân nhất định đã có nhiều kinh nghiệm, sau đó mới dám xem đế tinh Tử Vi là mạng xuất gia. Có một điểm cần chú ý, cổ nhân còn cho rằng người có Tử Vi tọa mệnh xuất gia còn được hoàng đế phong là "quốc sư". Quan điểm này e rằng có liên quan đến phong tục sùng bái tăng nhân, đạo sĩ vào đời Nguyên.

Hình 129: người sinh giờ Thân, ngày 28 tháng 10 năm Quý; mệnh ở Mão có Tử Vi, Tham Lang Hóa Kị, Địa Không
H. 129

Theo Vương Đình Chi, phái Trung Châu cũng có tương truyền rằng, Tử Vi gặp sao không, ắt sẽ là người thích bàn luận về Thiền học, nhưng không nhất định sẽ xuất gia, về tính chất thì tương đồng. Theo ý kiến của Vương Đình Chi, thuyết này bị ảnh hưởng bởi cảnh văn hóa cổ đại. Nếu là ngày nay, có thể luận đoán mở rộng là thích nghiên cứu triết lí, huyền học, không nhất định là xuất gia làm hòa thượng.

Nhưng người có Tử Vi tọa mệnh, đúng là có những chỗ tôn quý khác nhau tùy theo phong tục của mỗi thời đại, xuất gia vào thời cổ đại được xem là chuyện của bậc đại trượng phu, cũng có lí của nó.


Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tam Hợp Phái

Chủ đề của bài

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Tam Hợp Phái