Bài tổng quan
Luận đoán cung Phúc Đức qua mệnh bàn Uông Tinh Vệ
Cung Phúc Đức của Uông Tinh Vệ có Thiên Phủ tọa thủ, chỉ gặp một Kình Dương, lại hội Văn Xương, Văn Khúc, tính chất rất tốt, vậy mà cuối cùng vẫn rơi vào bùn nhơ không thể cứu vãn. Một người khác thì sau 32 tuổi trong đầu đầy ham muốn kiếm tiền, đến năm Giáp Tí vì vật dục quá mức mà chuốc tai ách cho cả bản thân lẫn người nhà. Nếu hành động hậu thiên có thể đổi được vận thế tiên thiên, thì Vương Đình Chi lấy gì để chứng minh?
Uông Tinh Vệ: cung phúc đức Thiên Phủ mượn hội Tham Lang Hóa Kị
UÔNG TINH VỆ LÀ NHÂN VẬT TRỌNG YẾU CỦA QUỐC DÂN ĐẢNG, từng được Tôn Trung Sơn trọng dụng, nhưng vào thời kì đầu Dân Quốc ông lại không được như ý, đến thời kì Nhật Bản xâm chiếm Trung Hoa, mới tổ chức chính quyền Nam Kinh, khiến thân bại danh liệt. Lúc ông tổ chức chính quyền, đại vận ở cung Mậu Ngọ, Thiên Lương tọa thủ, hội Thái Âm Hóa Quyền rồi Hóa Khoa, Thái Dương cũng Hóa Khoa, thành cách cục "Nhật Nguyệt song Hóa Khoa" chiếu mệnh. Chỉ đáng tiếc Thiên Cơ lại đồng thời Hóa Kị, cho nên tuy được danh vọng nhưng cuối cùng thất bại.

Trong đại hạn Mậu Ngọ, cung phúc đức của ông ở cung Thân, mượn nhập nhóm sao "Thiên Cơ, Thái Âm", hội các sao Cự Môn Hóa Quyền, Thái Dương Hóa Khoa, Lộc Tồn. "Lộc Quyền Khoa" hội mà Thiên Cơ Hóa Kị, chính là phù hợp tính chất sao của cung mệnh đại hạn. Cho nên bị địa vị lợi lộc làm mờ mắt mà dẫn tới có những quyết định sai lầm.
Nghiên cứu cung phúc đức của Uông Tinh Vệ, Thiên Phủ tọa thủ, chỉ gặp một sát diệu Kình Dương, hội Thiên Tướng là "quyền ấm" giáp cung, tính chất rất tốt, hơn nữa còn hội Văn Xương, Văn Khúc, chủ về có văn tài, thông minh, nhưng có những khiếm khuyết đáng tiếc như vậy là do đâu?
Theo phương pháp luận đoán của phái Trung Châu, thì biết do mượn hội nhóm sao Tử Vi và Tham Lang Hóa Kị. Vì vậy Thiên Khôi, Thiên Việt tuy đồng thời hội chiếu cung phúc đức, nhưng cũng có sát diệu Linh Tinh, vả lại Tham Lang Hóa Kị nên càng làm tăng sắc thái truy cầu vật dục nơi con người Uông Tinh Vệ.
Điều kì lạ là, nhóm tinh hệ "Tử Vi, Tham Lang" Hóa Kị có Linh Tinh, là mượn sao nhập cung phu thê sau đó tương hội với cung phúc đức. Vợ của Uông Tinh Vệ là Trần Bích Quân coi tiền như mạng sống, vả lại cả đời kềm chế chồng, tư tưởng của Uông Tinh Vệ bị bà gây ảnh hưởng.
Luận đoán Đẩu Số có lúc cảm thấy thú vị vô cùng, cung phúc đức của Uông Tinh Vệ là một ví dụ. Nếu cung phúc đức vốn không có những khiếm khuyết đáng tiếc, tuy cung phúc đức của đại vận Mậu Ngọ có nguy cơ là Thiên Cơ Hóa Kị và gặp sát Hao, cũng chẳng thể vì vậy mà thay đổi ý niệm không giữ mình trong sạch, thì đâu đến nỗi rơi vào bùn nhơ, không thể cứu vãn.
Ông J: lưỡng trùng "Hình Kị giáp ấn" hội chiếu cung phúc đức
Uông Tinh Vệ sa ngã vì một nhóm sao mượn từ cung phu thê, còn người thứ hai thì cung phúc đức tự thân đã mang sẵn tính cố chấp.
Cung phúc đức của mệnh bàn này, mượn Thiên Lương và Thiên Hình để an sao, còn hội hợp với Cự Môn Hóa Kị, trở thành tổ hợp sao mạnh mẽ, tính chất cố chấp, hơn nữa có thể vì vậy mà chuốc thị phi kiện tụng.
Do cung phúc đức vốn đã hiện khuyết điểm, nên trong đại vận Giáp Thìn từ 32-41 tuổi, Tử Vi tọa thủ cung phúc đức ở Ngọ, có Lộc Tồn đồng độ, sao hội hợp hầu như không gặp bất lợi gì. Nhưng cung phu thê đã mai phục một tổ hợp sao rất xấu, là lưỡng trùng "Hình Kị giáp ấn" hội chiếu cung phúc đức của vận này. Đây là phương pháp luận đoán độc đáo của phái Trung Châu.

Nếu chú ý đến tình hình Tham Lang và Hỏa Tinh đồng thời hội hợp cung phúc đức, Lộc Tồn ở cung phúc đức hội trùng điệp với Lưu Lộc của đại vận, thì có thể luận đoán, giai đoạn sau 32 tuổi, người này trong đầu đầy ham muốn kiếm tiền, còn rất chấp trước. Mỗi một hành động đều liên quan đến chuyện tài phú. Nếu cung mệnh gặp tổ hợp sao này thì có thể nguồn tiền tài thịnh vượng, nhưng đáng tiếc là ở cung phúc đức, vì vậy chỉ là điềm tượng tinh thần ham muốn cầu tài mà thôi, trong thực tế chẳng thu hoạch được gì.
Đến năm Quý Hợi (1983), cung phúc đức của lưu niên là Thiên Đồng Hóa Quyền, Cự Môn Hóa Kị, bị Kình Dương, Đà La của nguyên cục chiếu xạ. Cặp sao Kình Dương, Đà La này còn giao hội với Kình Dương, Đà La của đại vận, khá có lực, cho nên ý niệm cầu tài trong đầu có khuynh hướng lạm quyền, càng lạm quyền thì càng phạm sai lầm, do đó đã tiềm phục họa căn.
Đến năm Giáp Tí (1984), đây là năm cung phúc đức của lưu niên có cùng tổ hợp sao với cung phu thê của đại vận, tức "Song trùng hình kị" giáp "Vũ Khúc, Thiên Tướng". Vì vật dục quá mức mà mang lại tai ách. Cung tật ách càng xấu tệ (bạn đọc thử tự mình quan sát phi tinh của nó xem sao), thế là không những bản thân bị uy hiếp sinh mạng (đây là điềm ứng của cung tật ách, bởi vì cung tật ách đồng thời cũng luận đoán về tai họa) mà người nhà cũng bị uy hiếp, cung điền trạch của lưu niên là Thái Dương song Hóa Kị xung khởi "Thiên Đồng, Cự Môn" Hóa Kị, (đây là điềm ứng của cung điền trạch).
Một niệm sai lầm có thể dẫn đến tinh thần bị dằn vặt. Cho nên khi quan sát cung phúc đức, người nghiên cứu Đẩu Số nên cảnh giác và phải lưu ý phương pháp tránh né.
Bí quyết đoán mệnh của Vương Đình Chi
Hai mệnh bàn trên đều cho thấy một niệm trong cung phúc đức có thể đổi cả vận trình, và đó cũng là chỗ Vương Đình Chi đặt trọng tâm khi đoán mệnh.
Bạn đọc cần lưu ý, theo Vương Đình Chi, phái Trung Châu có phong cách đoán mệnh khá đặc biệt, thường căn cứ vào tinh thần của mệnh tạo (cung phúc đức), đạo "xu cát tị hung", và nhấn mạnh sự quan trọng của nỗ lực hậu thiên để đưa ra lời giải.
Đẩu Số có thể luận đoán xu hướng vận thế tiên thiên (thiên vận) của một người, nhưng quyết định những tao ngộ thực tế trong cuộc đời một người còn có "địa vận" và "nhân vận". "Địa vận" có quan hệ đến bối cảnh xã hội, điều này cá nhân không kiểm soát được. Nhưng "nhân vận" thì không phải vậy. Mỗi cá nhân đều chịu ảnh hưởng của cha mẹ, thầy, bạn bè, v.v... lúc lâm sự sẽ có những phản ứng khác nhau, kết quả của phản ứng sẽ vì vậy mà khác nhau. Đạo "xu cát tị hung" (theo cát tránh hung), thực ra chỉ là kiểm soát phản ứng và quyết định của bản thân, để tìm kết quả có lợi hơn cho mình. Vì vậy hành động của con người thuộc hậu thiên thường có thể thay đổi vận thế tiên thiên. Đây chính là tinh hoa của Tử Vi tinh quyết mà Vương Đình Chi được bí truyền.
Cho nên người nghiên cứu cần phải hiểu rõ tính cục hạn này của "Tử Vi Đẩu Số", lúc luận đoán nhất thiết không được chú trọng hoàn toàn vào những hiển thị của vận thế tiên thiên, mà bỏ qua bối cảnh xã hội và chủ trương hành động của con người thuộc hậu thiên. Có một người từng viết thư hỏi Vương Đình Chi rằng, nếu nói mệnh vận có thể dựa vào hành động của con người thuộc hậu thiên để thay đổi, thế có thể chứng minh mệnh vận đã từng thay đổi không? Ví dụ như, dùng Tử Vi Đẩu Số luận đoán thấy một người vào năm nào đó bị họa lao ngục, bèn khuyên người này đừng làm việc gì trái pháp luật. Kết quả người này đã bình an vượt qua, nhưng làm sao chứng minh được nếu anh ta không nghe lời khuyên thì nhất định sẽ bị họa lao ngục?
Vấn đề này đúng là rất thâm sâu, nhất là đối với người không biết Tử Vi Đẩu Số, rất dễ nảy sinh nghi vấn này. Nhưng Vương Đình Chi đã kể một ví dụ thực tế để chứng minh phép "theo cát tránh hung" là sự thực, như sau:
Năm 1984, Vương Đình Chi luận đoán cho một thư kí ngân hàng, phát hiện cô ta vào năm 1986 gặp phải một nhóm sao chủ về bệnh ung thư tử cung, bèn khuyên cô ta đi kiểm tra, kết quả trải qua 3 lần xét nghiệm mới phát hiện có tế bào ung thư phát triển ở giai đoạn đầu, lập tức phẫu thuật cắt bỏ. Vương Đình Chi nghĩ, nếu cô ta không làm phẫu thuật vào năm 1985 thì năm 1986 chắc chắn bệnh sẽ phát, nhưng hiện giờ cô ta đã vượt qua được sự hung hiểm của căn bệnh hiểm nghèo. Có lẽ đây chính là ý nghĩa tích cực của việc nghiên cứu Tử Vi Đẩu Số.
Nếu như nhất định muốn truy cứu câu hỏi nói trên, liên quan tới ví dụ thực tế chứng minh việc tránh được vận xấu như phạm pháp, phá tài, đương nhiên sẽ khó giống như trường hợp tránh bệnh tật, nhưng đương sự cũng không phải là không còn cách nào để tránh.
Phương pháp tính tiểu hạn cho trẻ con
Như bé gái X từng mắc khối u khi mới một tuổi, những năm trước khi vào đại vận cũng có vận trình riêng cần được soi xét.
Như đã biết, cách tính tuổi để khởi đại hạn là căn cứ vào ngũ hành cục số, tối thiểu là thủy nhị cục, hai tuổi mới vào vận, tối đa là hỏa lục cục, phải sáu tuổi mới vào vận. Vì vậy từ lúc sinh ra cho đến khi vào vận có một khoảng trống, chúng ta phải lấy phương pháp tính tiểu hạn cho trẻ con để bổ sung. Tiểu hạn của trẻ con tổng cộng có 6 cung, nhưng khi ứng dụng thì căn cứ vào tuổi khởi đại hạn để làm chuẩn, ví dụ 3 tuổi khởi vận thì chỉ đi ba cung. Các cung tiểu hạn như sau:
Một tuổi ở cung mệnh; hai tuổi ở cung tài bạch; ba tuổi ở cung tật ách; bốn tuổi ở cung phu thê; năm tuổi ở cung phúc đức; sáu tuổi ở cung sự nghiệp.
Lúc xem tiểu hạn cho trẻ con chỉ xem "tam phương tứ chính" của bản cung, không bày bố thêm 11 cung còn lại. Nói cách khác, chỉ luận đoán cung mệnh (tức bản cung), không luận đoán kèm lục thân và hoàn cảnh chung quanh. Đây là chỗ giới hạn của phương pháp tính tiểu hạn cho trẻ con.
Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tam Hợp Phái
