Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Tam Hợp Phái

Bài tổng quan

Cung Mệnh với Thiên Lương, Thất Sát và Phá Quân

Tử Vi Nam Phái - Tam Hợp Phái21/09/202624 phút đọc5 lượt đọc
Cung Mệnh với Thiên Lương, Thất Sát và Phá Quân

Một chữ che chở của Thiên Lương mở ra thành nghề thầy thuốc, luật sư, thanh tra, kiểm toán, toàn những nghề lo chuyện của người khác. Ba sao này đều có lối mở rộng như thế, và đều có chỗ không thể toàn mĩ.


MỘT CHỮ "CHE CHỞ" CỦA THIÊN LƯƠNG MỞ RA THÀNH NGHỀ THẦY THUỐC, LUẬT SƯ, THANH TRA, KIỂM TOÁN — NHỮNG NGHỀ LO CHUYỆN CỦA NGƯỜI KHÁC. Ba sao này đều có lối mở rộng như thế: Thất Sát bước ra phía trước trong khi Thiên Lương lui về hậu trường, còn Phá Quân thì phá nát chứ không chịu là viên gạch nguyên vẹn.

Thiên Lương ở cung mệnh

Thiên Lương là "ấm tinh". Trong Đẩu Số, chữ "ấm" có nhiều ý nghĩa: tiêu tai giải ách, kéo dài tuổi thọ, trợ lực của cấp trên hay cha mẹ, có sinh hoạt tinh thần phong phú về tôn giáo, tín ngưỡng. Tất cả đều có ý vị "che chở"; cần lưu ý, những lực che chở này đều thuộc về tinh thần, không thuộc về vật chất, từ đó có thể biết đặc tính của Thiên Lương.

Tính chất "tiêu tai giải ách" của Thiên Lương bao hàm ý vị có nạn tai trước rồi mới hóa giải, cho nên ắt sẽ trải qua nguy khó rồi mới bình an; bị bệnh hoạn rồi mới khỏi bệnh; không có chỗ nhờ cậy rồi mới được người ta phù trợ; cảm thấy tinh thần trống rỗng, ý vị cuộc đời có kích thích khá lớn, rồi mới kí thác nơi tôn giáo. Do Thiên Lương thiên nặng về tinh thần mà không thiên nặng về vật chất, cho nên Thiên Lương ưa Hóa Khoa mà không ưa Hóa Lộc: Hóa Lộc sẽ mang lại thị phi, rối rắm, bị người oán hận; nó cũng rất ghét Hóa Quyền, lúc Hóa Quyền có thể thành khuynh hướng lộng quyền, gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh thì càng đúng.

Từ chữ che chở mở ra nghề nghiệp

Do ý nghĩa "che chở", có thể mở rộng thành "hình pháp, kỉ luật", bởi vì hình pháp có thể giữ cho mọi người được thiện lương; vì vậy Thiên Lương có thể biểu trưng cho vị quan thanh liêm vì dân trừ hại, như Bao Chửng, Hải Thụy trong truyền thuyết dân gian. Từ hàm nghĩa mở rộng ở trên, Thiên Lương còn là chức vị giám sát: phần nhiều các bác sĩ, thẩm phán, nhân viên toàn quyền, quan đốc, thanh tra, hoặc chuyên viên nghiên cứu thị trường, chuyên viên kế hoạch tài vụ, phần nhiều cung mệnh hay cung sự nghiệp đều gặp Thiên Lương. Hàm nghĩa "giám sát" của Thiên Lương cũng có thể diễn hóa thành ý vị "lui về hậu trường". Do "che chở" có thể mở rộng thành "phục vụ người khác", cho nên tinh bàn của bác sĩ, thầy thuốc, luật sư cũng thường thường có quan hệ mật thiết với Thiên Lương; dựa vào tiêu chuẩn này có thể định Thiên Lương là nhân tài chuyên nghiệp, là chuyên viên.

Thiên Lương có Thái Dương đồng độ hoặc vây chiếu, gặp Thiên Hình thì thích hợp làm nhân viên ngành tư pháp; nếu gặp Kình Dương thì không phải là bác sĩ ngoại khoa, bao gồm cả khoa phụ sản; nếu gặp Thiên Nguyệt là người trong giới y học. "Thiên Lương, Thiên Cơ" là vạch kế sách quản lí; gặp Thiên Mã thì làm những nghề nghiệp có tính lưu động, như hàng hải, hàng không, điện tử. Thiên Lương có Văn Xương, Văn Khúc, Tấu Thư đồng độ, cũng có thể làm những nghề nghiệp có tính pháp luật, sở trường văn thư án lệ, nhưng có lúc cũng có thể là thư kí văn phòng của công ti lớn, hoặc là người trong giới văn hóa, xuất bản. Thiên Lương có Bạch Hổ đồng độ, có thể xem là điểm tượng chủ về "hình pháp, kỉ luật", cũng có thể là bác sĩ phẫu thuật, ngoại khoa.

Cổ nhân nói:

"Thiên Lương, Thiên Mã hãm, phiêu đãng vô nghi."
"Thiên Lương hãm địa kiến Kình Dương Đà, thương phong bại tục."

Câu trước là nói Thiên Lương ở hai cung Tị hoặc Hợi, chủ về rời xa quê hương; ở thời hiện đại người ta thường rời khỏi quê hương để phát triển, vì vậy không nên đoán là trôi dạt, chỉ trong tình hình gặp sao không, hao đồng cung với Hỏa Tinh, Linh Tinh mới có thể đoán là không giữ một nghề, rời khỏi quê hương mà không có nền tảng; gặp các sao khoa văn là người cuồng ngạo phóng túng. Câu sau là nói nữ mệnh Thiên Lương ở hai cung Tị hoặc Hợi; ở thời hiện đại có thể luận đoán cuộc đời mệnh tạo gặp nhiều đau khổ về tình cảm. Rất ngại Thiên Lương đồng độ với Hỏa Tinh, Linh Tinh mà Thiên Đồng của đối cung Hóa Kị, hoặc hội Thiên Cơ Hóa Kị, mà Kình Dương, Đà La giáp Thiên Lương, càng gặp nhiều tình huống rối rắm khó xử và đau khổ về tình cảm.

Thiên Lương qua các cung độ

Thiên Lương đến hai cung Tị hoặc Hợi, gặp các sao sát, hình, không, hao, chủ về cuộc đời nhiều tai họa, nhiều hung hiểm; thường ứng nghiệm ở niên hạn "Thiên Cơ, Cự Môn" hay "Thái Âm, Thái Dương". Niên hạn gặp Hóa Kị cũng thường ngấm ngầm chứa nguy cơ họa hoạn; ngoài ra, các cung hạn Tham Lang, Thiên Đồng tọa thủ là những niên hạn then chốt.

Thiên Lương ở hai cung Tí hoặc Ngọ, không gặp Văn Xương, Văn Khúc là đã thông minh, nhưng thông minh quá lộ, nhìn sự việc quá rõ, nên duyên với người không tốt, nhất là phương hại đến hôn nhân; ở cung Tí tốt hơn ở cung Ngọ. Tinh hệ này không cần gặp sao đào hoa cũng dễ thay đổi tình cảm; ở xã hội thời cổ đại, đàn ông nạp nhiều thiếp, nên cũng chủ về có nỗi đau khổ không ai biết trong quan hệ hôn nhân. Nếu gặp sao lộc, rất kị là người thông minh mà lạnh lùng, nghiêm khắc; cần phải đối đãi với người chân thành nhân hậu mới có thể xoay chuyển mệnh vận, nếu không phần nhiều vào đại vận thứ ba sẽ xảy ra trắc trở gây ảnh hưởng rất sâu xa; nhưng thường thường mệnh tạo không tự biết, lúc đến hậu vận gặp gềnh, bất đắc chí thì oán trời trách người, mà không biết họa căn đã có từ lâu. Thiên Lương ở cung Ngọ thì không cát tường, do hội Thái Âm và Thái Dương đều ở cung hãm nhược; nếu cung tài bạch là "Thiên Cơ, Thái Âm" gặp các sao sát, hao, Thiên Mã, sẽ chủ về mệnh tạo có lối suy nghĩ đặc biệt, không hợp quần, ít qua lại với ai, và khó gần gũi, gây ảnh hưởng đến sự nghiệp, khiến thu nhập không ổn định. Ở hai cung Tí hoặc Ngọ cần phải gặp Tả Phụ, Hữu Bật, Thiên Khôi, Thiên Việt hội hợp, lại không gặp các sao sát, kị, hình, hao, mới phú quý, mà phú cũng nhờ quý mà có. Các cung hạn "Thiên Cơ, Thái Âm", Cự Môn, Thái Dương, Thiên Đồng là những niên hạn then chốt.

Thiên Lương ở cung Sửu hoặc Mùi, vì Thiên Cơ vây chiếu nên chủ về kế hoạch mưu lược, còn chủ về tính cơ động, không ổn định; vì vậy nếu gặp các sao sát, không, hao, cổ nhân cho rằng đây là mạng xuất gia làm tăng nhân, đạo sĩ. Ở thời hiện đại phần nhiều chủ về có nhân sinh quan đặc biệt, khác với lối suy nghĩ đặc biệt của Thiên Lương ở cung Ngọ: một bên là nhân sinh quan, một bên là tác phong xử sự. Cho nên nếu có các sao Văn Xương, Văn Khúc, Thiên Tài bay đến thì mệnh tạo là người thông minh tuyệt đỉnh, nhưng không yên ở một nghề, khiến về già không có thành tựu. Thiên Lương ở cung Mùi hội Thái Dương của cung Hợi nên cũng không bằng ở cung Sửu; hễ Thiên Lương hội Thái Dương ở cung hãm nhược đều chủ về chuốc oán trách. Nhưng nếu gặp sao hình và các sao Văn Xương, Văn Khúc, Long Trì, Phượng Các, Thanh Long, Tấu Thư, Quan Phù mà không gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh, Kình Dương, Đà La, Địa Không, Địa Kiếp, thì thích hợp với công tác pháp luật, hoặc liên quan đến "hình pháp, kỉ luật". Thiên Lương ở cung Sửu, nếu cung phu thê là Cự Môn cát hóa mà ưa nhất là Hóa Lộc, chủ về có thể kết hôn với người ngoại quốc; ưa Thiên Vu đồng độ với Thái Dương, chủ về được bậc trưởng bối đề bạt, nâng đỡ trong sự nghiệp. Rất ngại đến đại vận Tham Lang Hóa Kị: theo bí truyền của phái Trung Châu Vương Đình Chi, đây là hạn vì sắc mà gây ra họa, hoặc là vận gặp nhiều tranh chấp, cần phải xem hội các sao nào mà định. Nếu không gặp các sao khoa văn cũng đã có khí chất nghệ thuật, nhưng thường có biểu hiện cuồng ngạo, phóng túng. Các cung hạn Tham Lang, Cự Môn, Thái Dương, Thiên Đồng là những lưu niên hay đại vận then chốt.

Thất Sát ở cung mệnh

Cùng chủ về phong tục, luật pháp, nhưng một bên lui về hậu trường thì bên kia bước lên phía trước.

Thất Sát đồng cung với Tử Vi hay đối nhau với Tử Vi đều hóa làm sao quyền; nếu gặp Tử Vi Hóa Quyền, chưa chắc có lợi, đến các đại hạn hay lưu niên này ắt không cát tường, cần đề phòng xảy ra thất bại; rất ghét gặp cung hạn Vũ Khúc Hóa Kị.

Thiên Lương chủ về "phong tục, luật pháp", Thất Sát cũng chủ về "phong tục, luật pháp", nên cũng chủ về "hình pháp, kỉ luật"; có điều Thiên Lương thuộc văn, Thất Sát thuộc võ, Thiên Lương có thể lui về hậu trường còn Thất Sát thì bước lên phía trước. Cho nên Thiên Lương có thể nhuyễn hóa thành "giám sát", còn Thất Sát thì nhuyễn hóa thành "quản lí". Cổ nhân nói:

"Nhị cung phùng chi, định lịch gian tân."

Tức hai cung mệnh thân mà gặp Thất Sát thì đời người ắt sẽ có một thời kì gian khổ; đại khái là Thất Sát rất kị đến hai cung hạn Thiên Cơ, Cự Môn tọa thủ, cần phải có hành động thiết thực để qua giai đoạn này, mới có thể hồi tâm hồi địa.

Thất Sát và các sao hội hợp

Thất Sát ắt đối nhau với Thiên Phủ: Thất Sát chủ về công, Thiên Phủ chủ về thủ, hai sao kềm chế lẫn nhau, cần phải xem ảnh hưởng của hai bên như thế nào. Ví như Thất Sát ở hai cung Dần hoặc Thân có Lộc Tồn đồng độ, đối cung là "Tử Vi, Thiên Phủ" mà Thiên Phủ được Lộc Tồn vây chiếu, cho nên lợi về thủ mà bất lợi về công; lúc này Thất Sát tuy chịu ảnh hưởng của Tử Vi ở đối cung, quyền lực khá to, cũng nên có khuynh hướng bảo thủ, chỉ nên phát triển trong cục diện hiện có, mà không nên lập ra cục diện mới, cũng không nên có nhiều thay đổi.

Thất Sát kị Hỏa Tinh, Linh Tinh, kị nhất là tổ hợp "Kình Dương, Hỏa Tinh" hay "Kình Dương, Linh Tinh"; trong hai nhóm thì "Kình Dương, Linh Tinh" là rất xấu, nếu có Thiên Hình đồng độ, gặp các sao Âm Sát, Đại Hao, Thiên Hư, sẽ chủ về phạm pháp hình sự. Thất Sát ở cung miếu vượng mà gặp "Kình Dương, Hỏa Tinh" thì còn được, chỉ chủ về lực kích phát, đời người không ngừng trắc trở nhưng có thể nhờ đó mà tiến bộ; nếu gặp "Kình Dương, Linh Tinh" thì có ý vị lụn bại dần dần, ở hãm địa thì càng nặng, còn chủ về không có duyên với lục thân, cuộc đời ít được trợ lực.

Thất Sát không nên chỉ hội Văn Xương, Văn Khúc mà không hội các sao phụ, tá cát khác; nếu không thì càng thông minh càng độc đoán, không chịu nghe ý kiến của người khác, thường là do mệnh tạo gây ra trắc trở. Thất Sát rất ưa gặp Thiên Khôi, Thiên Việt, thậm chí đến các cung hạn có Lưu Khôi, Lưu Việt vây chiếu hay hội hợp, thường cũng là cơ hội chuyển biến theo hướng tốt. Thất Sát cũng ưa gặp sao lộc, ưa nhất là gặp Phá Quân Hóa Lộc, chủ về đời người trải qua một lần chuyển biến quan trọng mà được phú quý; kế đến là Tham Lang Hóa Lộc, cũng có thể được vinh hoa, nhưng đề phòng phú quý không lâu dài; Vũ Khúc Hóa Lộc cũng tốt, nhưng cách cục kém hơn.

Thất Sát đối nhau với Thiên Phủ là đã có hàm nghĩa gây trở ngại lẫn nhau, mâu thuẫn về tính chất; cho nên lúc Thất Sát có các sao sát, hình, không, hao đồng độ, thường dễ vì gặp trắc trở mà cảm thấy đời người là hư ảo, phần nhiều vì vậy mà có khuynh hướng tôn giáo, hoặc bước vào cửa Phật, Đạo. Có điều nếu Thiên Phủ gặp sao lộc thì trước sau vẫn tham luyến duyên trần.

Thất Sát qua các cung độ

Thất Sát ở hai cung Tí hoặc Ngọ có "Vũ Khúc, Thiên Phủ" vây chiếu, gặp sao lộc thì tài tinh Vũ Khúc có gốc rễ, có thể điều hòa khí chất của Thất Sát, cho nên có thể nhuyễn hóa thành người trong giới làm ăn kinh doanh; nếu là người nắm quyền về kinh tế tài chính mà không có sao lộc, chỉ cần không có các sao sát, kị, hình, cũng chủ về được bậc trưởng bối giúp đỡ, đây là do ảnh hưởng của sự che chở. Bởi vì liên quan đến "sự che chở", cho nên Thất Sát ở hai cung Tí hoặc Ngọ đặc biệt ưa gặp Thiên Khôi, Thiên Việt, Tả Phụ, Hữu Bật; nếu đến đại vận hoặc lưu niên có Lưu Khôi, Lưu Việt của nguyên cục thì vận hạn hay niên hạn này đạt khai có thể xem là vận tốt, nhưng nếu có các sao sát, kị, hình hội hợp thì thuộc ngoại lệ.

Nếu Thất Sát ở cung Ngọ thành cách "Hùng tú kiền nguyên" thì rất kị có Hỏa Tinh, Linh Tinh đồng độ. Cách cục này là hỏa luyện âm kim, gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh thì hỏa hầu quá lớn, không những đời người gian khổ, mà rốt cùng còn bị tan tác; trường hợp thành cách cũng ưa đến các đại vận hay niên hạn lưu niên có Tả Phụ, Hữu Bật, Thiên Khôi, Thiên Việt. Thất Sát ở cung Tí không thành cách "Hùng tú kiền nguyên", vì Tí là phương Bắc thuộc thủy, thủy có thể khắc hỏa; dù có Hỏa Tinh, Linh Tinh đồng độ cũng chỉ chủ về bôn ba vất vả, nhưng không đến nỗi phá cách. Trường hợp thành cách "Hùng tú kiền nguyên" rất ưa Liêm Trinh Hóa Lộc, là thượng cách, chủ về sức sống mạnh, mà còn kiên nghị trác tuyệt, trải qua phấn đấu mà thành đại nghiệp. Vận phát đạt ắt sẽ ở cung hạn Phá Quân tọa thủ; nếu không phát đạt ắt sẽ ở cung hạn Liêm Trinh hoặc Tham Lang tọa thủ. Thất Sát ở hai cung Tí hoặc Ngọ mà không thành cách hoặc phá cách, lại không nên đến cung hạn Liêm Trinh, chủ về hôn nhân gặp nhiều sóng gió, trắc trở; cũng không nên đến cung hạn "Thiên Cơ, Cự Môn" tọa thủ, thường thường là giai đoạn thất bại.

Thất Sát ở hai cung Dần hoặc Thân, đối nhau với "Tử Vi, Thiên Phủ", không ưa Tử Vi Hóa Quyền, mà rất ưa Tử Vi Hóa Khoa; Thiên Phủ Hóa Khoa thì Tử Vi Hóa Khoa chủ về công, Thiên Phủ Hóa Khoa chủ về thủ. Thất Sát ở hai cung này là người độc đoán; gặp Văn Xương, Văn Khúc thì vì thông minh mà phạm sai lầm, gặp Lộc Tồn đồng độ, khí mà hòa hoãn thì thành cách cục tốt, nhưng tính độc đoán càng nặng. Lúc luận đoán phải chú ý điểm này, cần phải xem xét kĩ cung phúc đức và cung phu thê để xác định phẩm tính của mệnh cục, vì điều này ảnh hưởng rất lớn đến hậu vận. Thất Sát ở hai cung Dần hoặc Thân gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh thì nóng nảy, bốp chốp. Các cung hạn "Liêm Trinh, Thiên Tướng", Cự Môn, Phá Quân, Thái Dương là những đại hạn hoặc lưu niên then chốt.

Thất Sát ở cung Thân mà "Liêm Trinh, Thiên Tướng" ở cung Ngọ thì dù không thành cách "Hùng tú kiền nguyên", vì Thất Sát thuộc kim, cung Thân cũng thuộc kim, Liêm Trinh thuộc hỏa, cung Ngọ cũng thuộc hỏa, hai khí kim hỏa về gốc thành mỗi bên một khí, không có tác dụng hỗ tương; nhưng vẫn ưa hai cung hạn Liêm Trinh Hóa Lộc và Phá Quân Hóa Lộc, đây là giai đoạn phát đạt.

Thất Sát ở hai cung Thìn hoặc Tuất, có "Liêm Trinh, Thiên Phủ" vây chiếu, thì nặng lí trí hơn "Liêm Trinh, Thất Sát" đồng độ ở hai cung Sửu hoặc Mùi, nhưng phần nhiều đều có tư tưởng đặc biệt; cho nên rất kị có Địa Không, Địa Kiếp hội hợp, người ta sẽ khó mà hiểu được họ, vì cảm thấy đời người thiếu tri kỉ, nên thành người cô độc, thậm chí nhiều không tưởng, thiếu thực tế. Thất Sát ở hai cung này mà gặp Văn Xương, Văn Khúc còn được, nhưng cần phải gặp Thiên Khôi, Thiên Việt hoặc Tả Phụ, Hữu Bật mới có thể phú quý; nhưng nếu Tham Lang Hóa Lộc đến hội hợp, chú ý Tham Lang cũng ảnh hưởng cung phúc đức, e rằng dục vọng khó thỏa mãn, thế là tuy phú quý nhưng cũng nhiều vất vả. Các cung hạn "Vũ Khúc, Thiên Tướng", "Thiên Đồng, Cự Môn", Tham Lang, hoặc cung hạn có tính hệ vây chiếu thuật ở trên, là những đại vận hoặc lưu niên then chốt. Thất Sát ở hai cung này, nếu cung phúc đức là Tử Vi Hóa Quyền, ắt sẽ bất lợi trong hôn nhân, nhất là nữ mệnh, thường chủ về bằng chồng có sinh hoạt hôn nhân, hay thiếu lạc thú vợ chồng vì bận rộn, hoặc vì người bạn đời bệnh tật, cần phải xem tổ hợp sao thực tế mà định.

Đại khái là Thất Sát ở hai cung Tí hoặc Ngọ thiết thực hơn Thất Sát ở hai cung Dần hoặc Thân, hay Thất Sát ở hai cung Thìn hoặc Tuất. Phân biệt các tính chất nhiều dục vọng hay giữ nguyên tắc của các nhóm tinh hệ liên quan đến Thất Sát thì có ích cho việc luận đoán; cho nên ảnh hưởng của tổ hợp tinh hệ Tham Lang đối với Thất Sát như thế nào, thường thường có quan hệ rất lớn: gặp "Hỏa Tham", "Linh Tham" càng chủ về dễ phát dễ phá.

Phá Quân ở cung mệnh

Có một sao mà lực phá hoại tuy lớn nhưng lại khác hẳn Thất Sát ở chỗ nó phá theo lối nào.

Phá Quân có sao lộc rất tốt, là có gốc rễ, có thể tiêu trừ khuyết điểm hao tổn, phá tán của Phá Quân, làm tăng năng lực sáng tạo. Phá Quân Hóa Quyền ở cung Dần có Lộc Tồn đồng độ cũng cát, có điều tuy phú quý nhưng đời người ắt sẽ có khiếm khuyết; ví dụ như bản thân sức khỏe không tốt. Phá Quân Hóa Quyền ở cung Thân có Lộc Tồn vây chiếu cũng có cùng tình huống.

Phá Quân gặp Tả Phụ, Hữu Bật, Thiên Khôi, Thiên Việt chủ về phú quý, nhưng quý lớn hơn phú, tức tiền bạc nhờ địa vị mà có. Nhưng nếu có tứ sát tinh lẫn lộn trong đó thì thích hợp làm việc trong ngành công thương nghiệp; nếu gặp Văn Xương, Văn Khúc mà có sát tinh, người này là hàn sĩ mang tâm trạng có tài mà không gặp thời. Nếu gặp sát tinh nặng mà cát tinh nhẹ thì nên theo ngành công nghệ, hoặc làm công nhân chuyên nghiệp.

Phá Quân ở ba cung Hợi, Tí, Sửu đều không nên có Văn Khúc đồng độ, ngại nhất là Văn Khúc Hóa Kị, chủ về tuổi trẻ rời xa quê hương, hoặc bị tàn tật, hoặc gặp trắc trở nghiêm trọng. Cổ nhân nói:

"Dữ Văn Khúc nhập vu thủy vực, tàn tật li hương."

Là nói lí luận này; "thủy vực" là nói ba cung Hợi, Tí, Sửu thuộc hành thủy. Phá Quân sợ Kình Dương, Đà La hơn là sợ Hỏa Tinh, Linh Tinh: gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh chỉ chủ về vất vả, bôn ba mà thôi; gặp Kình Dương, Đà La thì có họa tai, cũng chủ về cuối mang tật, hoặc nhiễm thú vui không lành mạnh.

Phá Quân có đặc tính thừa kế cái cũ mà đổi mới, cho nên phần nhiều đều làm kiêm nhiều nghề, hay kiêm nhiều chức vụ khác nhau. Hóa Lộc sẽ chủ về nhờ sự nghiệp cũ mà có sự nghiệp mới, mà còn đồng thời kinh doanh cả hai, mới lẫn cũ. Lực phá hoại của Phá Quân tuy lớn, nhưng lại khác với Thất Sát: lực phá hoại của Phá Quân chủ về xây ra thay đổi lập tức, biểu hiện chủ yếu là "thà là ngọc nát, chứ không chịu là gạch ngói nguyên vẹn", cho nên có tính chất hao tán; nếu đồng độ với Kình Dương, tức là "hình hao", thường thường làm mạnh thêm ý vị "thà là ngọc nát".

Phá Quân cũng ưa đồng độ với Tử Vi, hoặc có Tử Vi vây chiếu, chủ về có quyền. Nhưng khác quyền của "Tử Vi, Thất Sát": quyền của "Tử Vi, Phá Quân" là ở phương diện lớn, mở rộng; còn quyền của "Tử Vi, Thất Sát" chỉ thuộc phạm vi nhỏ, nội bộ, như quản đốc công xưởng. Một công, một thủ, một lớn, một nhỏ, cần phân biệt tỉ mỉ.

Phá Quân qua các cung độ

Hễ Phá Quân ở cung mệnh hay cung thân, bất kể cát tinh hội hợp như thế nào, ắt cũng không toàn mĩ: phú thì không quý, hoặc quý thì phú; hoặc vợ chồng bất toàn; hoặc bệnh mạn tính, phá tướng. Phá Quân Hóa Lộc mà gặp các sao sát, hình, nữ mệnh chủ về giải phẫu thẩm mĩ, nam mệnh chủ về bị tổn thương làm phá tướng phải giải phẫu thẩm mĩ.

Phá Quân thủ mệnh chủ về tay trắng lập nên sự nghiệp; nhưng nếu Phá Quân có phá sạch tổ nghiệp rồi mới lập nên sự nghiệp, thì Phá Quân có thể nhờ sự che chở, giúp đỡ của cha mẹ, rồi tự khai sáng, cải cách mà tạo sự nghiệp. Phá Quân ắt sẽ đối nhau với Thiên Tướng; Thiên Tướng ngoài trừ bị ảnh hưởng của các sao Tả Phụ, Hữu Bật giáp cung ra, còn bị ảnh hưởng của Phá Quân cũng khá lớn. Do người Phá Quân thủ mệnh phần nhiều đều rời xa quê hương, vì vậy cát hung của Phá Quân có thể ảnh hưởng đến cát hung của Thiên Tướng ở cung thiên di; mức độ chịu ảnh hưởng của Thiên Tướng cũng quan hệ rất lớn đến đời người, cho nên không thể xem thường cung thiên di.

Phá Quân ở hai cung Tí hoặc Ngọ, đối cung là "Liêm Trinh, Thiên Tướng", Liêm Trinh có thể hòa với khí của Phá Quân, vì vậy nếu được cát hóa và có sao cát thì có thể phú quý. Có điều, nếu Liêm Trinh Hóa Kị, hoặc Thiên Tướng bị "Hình kị giáp ấn", thì thành bại cục. Phá Quân có Kình Dương đồng cung, hội Thiên Mã mà không có lộc, cũng là bại cục. Phá Quân ở hai cung Tí hoặc Ngọ được cát hóa gọi là cách "Anh tinh nhập miếu", rất ưa đồng cung là Thiên Tướng gặp sao lộc; ở thời cổ đại chủ về lập công ở biên cương, hoặc là trọng thần quân lữ; ở thời hiện đại thì chủ về đột nhiên hưng phát sự nghiệp, cho nên cũng có thể thành nhân tài lãnh đạo công ti. Cách cục "Anh tinh nhập miếu" bắt đầu phát đạt ở vận Thái Âm hoặc vận Thiên Đồng, nhưng không nên đến lưu niên Phá Quân, cũng không ưa đến cung hạn Vũ Khúc Hóa Kị hoặc Liêm Trinh Hóa Kị; cung hạn chỉ hơi có chút sát tinh thì không toàn mĩ, vì vậy nên xem xét kĩ những khiếm khuyết ở mười hai cung. Phá Quân ở hai cung Tí hoặc Ngọ mà không thành cách "Anh tinh nhập miếu" thì không có duyên với lục thân, việc gì cũng phải đích thân làm, mà còn dễ mắc bệnh. Các cung hạn "Tử Vi, Thiên Phủ", Cự Môn, Vũ Khúc, Thiên Lương tọa thủ là những lưu niên then chốt; đại vận thì xem các cung hạn Vũ Khúc, hoặc "Tử Vi, Thiên Phủ" là có tính then chốt. Vũ Khúc và Thiên Phủ là hai sao tiền tài; nếu Phá Quân của nguyên cục không có sao lộc mà gặp sát tinh, đến cung hạn sao tiền tài tọa thủ, gặp sao lộc và gặp cát tinh thì cũng có thể bổ cứu; nếu không gặp sao lộc mà gặp sát tinh thì vận trình cuộc đời nhiều trắc trở.

Phá Quân ở hai cung Dần hoặc Thân, không cần gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh cũng đã chủ về lúc nhỏ đã chia li với gia đình; gặp Lộc Tồn, Thiên Mã ở cung thiên di thì chủ về phát đạt ở nơi xa, tha hương. Nếu gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh ở cung mệnh hoặc cung phụ mẫu thì chủ về làm con nuôi của người khác, cũng chủ về cuộc đời hay bị đổi cấp trên. Phá Quân ở hai cung này mà hội "Hỏa Tham", "Linh Tham" thì chủ về cuộc đời gặp nhiều sóng gió, trắc trở rất lớn, bạo phát bạo bại, hoạnh phát hoạnh phá; nguyên do gây ra thất bại thường là vì quá chủ quan, lại cố xuất đầu lộ diện, hoặc không tự lượng sức đi cạnh tranh với người khác. Các cung hạn Thiên Cơ, "Liêm Trinh, Thiên Phủ" là có tính then chốt; nếu cung hạn cát thì hậu vận cũng khá thuận lợi toại ý, nếu không, nam mệnh hội hợp Vũ Khúc Hóa Kị, hoặc Thiên Tướng bị "Hình kị giáp ấn", thì sẽ suy sụp nhanh chóng, mà có thể từ đó không còn đứng lên được. Phá Quân và Tham Lang mà gặp Lộc Tồn, Thiên Mã, cổ nhân cho rằng nam phần nhiều phóng đãng, nữ phần nhiều dâm đãng; hội Tham Lang mà rất kị có Địa Không, Địa Kiếp đồng độ, sẽ chủ về cuộc đời cô độc. Nếu đối cung là "Vũ Khúc, Thiên Tướng" hội Tả Phụ, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc mà còn kèm sát tinh, ở thời cổ đại là mạng lang thang khắp nơi. Các cung hạn "Vũ Khúc, Thiên Tướng", "Thái Dương, Thiên Lương", "Thiên Đồng, Cự Môn", "Liêm Trinh, Thiên Phủ" là lưu niên hay đại hạn then chốt.

Phá Quân ở hai cung Thìn hoặc Tuất chịu ảnh hưởng của đối cung là "Tử Vi, Thiên Tướng", cho nên danh lớn hơn lợi. Cổ nhân nói:

"Phùng Tử Vi tắc thất uy quyền."

Tức là nói trường hợp này; vì vậy tuy có danh vọng, cũng chỉ thuộc hư danh, chẳng có thực quyền, thực chức. Phá Quân ở hai cung Thìn hoặc Tuất mà gặp các sao sát, hình, hao, thì phần nhiều đều có cuộc đời cô độc, mà hôn nhân cũng không được cát tường, sinh li hay tử biệt; còn chủ về thân mang bệnh tật. Trường hợp chỉ có Văn Xương, Văn Khúc đồng độ mà không có các sao phụ, tá cát khác, thì cuộc đời bần hàn. Phá Quân cần phải được Hóa Lộc, Hóa Quyền mới là cát tốt; Thất Sát kèm sao lộc đến hội cũng cát, có thể giàu có. Nữ mệnh Phá Quân ở hai cung Thìn hoặc Tuất, nếu Liêm Trinh Hóa Kị hoặc Tham Lang Hóa Kị ở cung phu thê thì chủ về tái giá. Các cung hạn Thất Sát, Tham Lang, "Tử Vi, Thiên Tướng", "Thiên Cơ, Cự Môn" là những lưu niên hay đại hạn then chốt. Phá Quân ở hai cung này mà gặp "Hỏa Tham", "Linh Tham", phát cũng chỉ chủ về danh mà không chủ về lợi.

Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tam Hợp Phái

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Tam Hợp Phái