Bài tổng quan
Nhật Chiếu Lôi Môn, Nguyệt Lãng Thiên Môn Và Cách Cục Của Sự Dương Danh
Vương Đình Chi từng xem cho một người có Thiên Lương Hóa Lộc, thứ mà sách xưa khen là cách tốt. Ông khuyên người ấy coi chừng mất việc một cách oan uổng. Kết quả vẫn không tránh được, trước đó còn bị ông chủ vô cớ mắng cho một trận dù chẳng phạm lỗi gì. Thái Dương ở Mão luôn có Thiên Lương ngồi cùng, và hễ mặt trời mọc ở Mão thì mặt trăng cũng sáng ở Hợi, nên hai cách cục lừng danh này luôn xuất hiện một lượt. Người xưa gọi cả hai là quý cách, vì thời ấy đã nổi danh thì ắt sang quý. Thời nay, người trăng sáng cửa trời có khi chỉ là một công tử lắm bạn khác giới mà lòng vẫn cô đơn. Giữa mặt trời và mặt trăng, bên nào mới thật sự có ích cho đời?
Đan trì quế trì cách
Cách cục "Đan trì quế trì" tức là Thái Dương cư Thìn, Thái Âm cư Tuất; hoặc Thái Dương cư Thìn, Thái Âm cư Tuất; an mệnh ở cung Thìn hoặc cung Tuất. Thái Dương cư Tị, Thái Âm cư Dậu, an mệnh ở cung Tị hoặc cung Dậu (Xem hình 91, 92). Cổ ca nói:
二曜常明正得中,
才华声势定英雄,
少年际得风云会,
一跃天池便化龙.Phiên âm:
Nhị diệu thường minh chính đắc trung,
Tài hoa thanh thế định anh hùng,
Thiếu niên tế đắc phong vân hội,
Nhất dược thiên trì tiện hoá long.Dịch nghĩa:
Hai sao thường sáng chính đắc trung,
Tài hoa thanh thế định anh hùng,
Tuổi trẻ đỗ đạt ra làm quan,
Một bước lên mây hóa thành rồng.
Thái Dương thủ mệnh mà nhập miếu, cổ nhân gọi là "đan trì", Thái Âm thủ mệnh mà nhập miếu, cổ nhân gọi là "quế trì". Thời cổ đại xem trọng công danh khoa cử mà không trọng sự giàu có của giới thương nhân, do đó cho rằng "đan trì, quế trì" là đại lợi về cầu danh. Vì vậy cổ quyết mới có các thuyết: "Thái Dương thủ cung Mão, phú quý vinh hoa" (太阳守卯, 富贵荣华. Thái Dương thủ Mão, phú quý vinh hoa.); "Thái Dương thủ mệnh ở các cung Mão, Thìn, Tị, Ngọ, gặp các sao cát là đại quý" (太阳守命于卯辰巳午, 见诸吉大贵. Thái Dương thủ mệnh vu Mão Thìn Tị Ngọ, kiến chư cát đại quý.); "Thái Âm ở cung Tí, là đài quế nước trong, được chức quan trọng yếu, là trung thần can gián" (太阴居子, 是水澄桂萼, 得清要之职, 忠谏之才. Thái Âm cư Tí, thị thuỷ trừng quế ngạc, đắc thanh yếu chi chức, trung gián chi tài.) "Trăng sáng cửa trời ở cung Hợi, là phong hầu thăng chức tước" (月朗天门于亥地, 进爵封侯. Nguyệt lãng thiên môn vu Hợi địa, tiến tước phong hầu.); thảy đều là vì Thái Âm, Thái Dương ở cung miếu vượng mà ra.


Nhưng hậu nhân lại thiên lệch, phải tìm cho ra cách cục "hai sao đều sáng", với ý đồ làm tăng vẻ vang cho cách cục này, do đó đưa ra các cách cục "Nhật Nguyệt tịnh minh" và "Nhật Nguyệt hội minh", ngoài ra còn cật lực tìm ra tinh hệ Nhật Nguyệt cư cung miếu vượng hỗ tương hội chiếu, làm thành một cách cục, còn không dùng cái tên "đan trì" và "quế trì".
Cách cục này có tính giới hạn cục bộ rất lớn. Thứ nhất là phải gặp sao lộc; thứ hai là phải gặp các cát tinh Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phụ, Hữu Bật; thứ ba là phải gặp một ít sát tinh trong số Hỏa Tinh, Linh Tinh, Kình Dương, Đà La. Nhưng nếu phù hợp những điều kiện này, về căn bản không cần phải nệ vào cách cục nữa.
Nhật chiếu lôi môn cách
Từ thềm son và ao quế, ánh mặt trời dời về phương đông, nơi nó bắt đầu mọc.
"Nhật chiếu lôi môn cách" tức là Thái Dương thủ mệnh ở cung Mão (Xem hình 93). Cổ ca nói:
太阳卯位贵堪夸,
必主平生富贵家,
纯粹少年登甲第,
战征声势动夷华.Phiên âm:
Thái Dương Mão vị quý kham khoa,
Tất chủ bình sinh phú quý gia,
Thuần tuý thiếu niên đăng giáp đệ,
Chiến chinh thanh thế động Di Hoa.Dịch nghĩa:
Thái Dương cung Mão quý ai bằng,
Tất chủ cuộc đời lắm giàu sang,
Tuổi trẻ đỗ đạt công danh toại,
Chinh chiến oai phong động biên cương.
Cách cục này vốn rất cổ, trong bản chép tay đời Nguyên đã có đề cập, cung Mão là nơi Thái Dương bắt đầu mọc, nên theo cổ nhân là chủ về phú quý. Nhưng cách cục này còn phải bổ sung một số điều kiện, vả lại còn có tranh luận.
Thái Dương ở cung Mão thì không phải độc tọa, tất nhiên còn có Thiên Lương đồng cung, cho nên không thể vì Thái Dương là mới mọc, mà bỏ qua đặc tính của Thiên Lương đang đồng cung.


Thiên Lương không ưa gặp sao lộc, nhưng cổ nhân lại cho rằng can Nhâm Thiên Lương Hóa Lộc là cách cục tốt. Về điểm này, Vương Đình Chi đã từng luận đoán cho một người, khuyên người này phải cẩn thận kẻo bị mất việc một cách oan uổng, kết quả y như vậy vẫn không tránh được, trước đó còn bị ông chủ vô cớ mắng cho một trận mà bản thân chẳng phạm lỗi gì. Do đó có thể thấy Thiên Lương rất kị gặp sao lộc, lại còn tứ sát, thì tuyệt đối chẳng phải là cách cục tốt.
Cách cục này rất ưa gặp Thái Dương Hóa Lộc, lại được Văn Xương đồng độ, đây là cách cục tốt "Dương Lương Xương Lộc", đại lợi về thi cử và nghiên cứu học thuật, nhưng cung phu thê lại không tốt, có thể thấy một lợi ắt sẽ có một hại. Trái lại, không tốt bằng Thái Dương được sao lộc ở cung Tị (xem hình 94), gặp Văn Xương, hội Thiên Lương ở cung Sửu, cách này ít anh chị em, ít con cái, những điều mà trong xã hội cổ đại cho là không tốt, nhưng lại rất hợp với tập quán xã hội hiện đại.
Nguyệt lãng thiên môn cách
Mặt trời mọc ở Mão thì mặt trăng sáng ở Hợi; hai cách cục này vốn là hai mặt của cùng một tinh bàn.
"Nguyệt lãng thiên môn cách" tức là Thái Âm thủ mệnh ở cung Hợi (Xem hình 95). Cổ ca nói:
正遇风云际会期,
海门高处一龙飞,
文章间出英雄汉,
万里功名得古稀.Phiên âm:
Chính ngộ phong vân tế hội kì,
Hải môn cao xứ nhất long phi,
Văn chương gian xuất anh hùng hán,
Vạn lí công danh đắc cổ hi.Dịch nghĩa:
Gặp lúc phong vân đến hội kì,
Hải môn cao xứ một rồng bay,
Trong chốn văn chương anh hùng xuất,
Công danh vạn dặm hiếm xưa nay.
Lấy tinh hệ Trung Thiên để định "quý cục" thì có hai cách cục là "Nguyệt lãng thiên môn" và "Nhật chiếu lôi môn". Phàm Thái Dương, Thiên Lương cùng thủ cung Mão, ắt Thái Âm cũng sẽ ở cung Hợi (xem hình 96), cho nên "Nhật chiếu lôi môn" và "Nguyệt lãng thiên môn" nhất định sẽ đồng thời xuất hiện. Nếu "Thái Dương, Thiên Lương" thủ mệnh thì Thái Âm là sao thủ cung tài bạch; Thái Âm thủ mệnh thì Thái Dương, Thiên Lương là sao thủ cung sự nghiệp.


So sánh hai cách cục trong trường hợp kể trên thì "Nguyệt lãng thiên môn" là cách cục đẹp. Bởi vì Thái Âm là sao tiền tài, thủ mệnh mà còn nhập miếu thì chủ về phú; cung sự nghiệp có "Thái Dương, Thiên Lương" thì chủ về sang cả, do đó rất dễ thành cách cục phú quý song toàn. Thái Âm lợi cho người sinh vào ban đêm. Nếu sinh vào giờ Sửu, Văn Xương thủ mệnh ở cung Hợi, Văn Khúc ở cung Tị hội chiếu, chủ về là người thông minh mà còn học hành thành tài, cho nên là cách cục rất tốt, dù gặp Lộc cũng không ảnh hưởng đến cách cục, vì vậy đẹp hơn "Nhật chiếu lôi môn".
Nhưng cách cục này cũng có một bệnh, nói về đại vận đi thuận, nếu gặp các sao sát, kị chiếu cung Mão, thì người này lúc trẻ dễ mắc bệnh tim, đến khoảng 30 tuổi có khả năng không thọ, đây gọi là "trời đố kị người tài".
Phàm cách cục "Nhật chiếu lôi môn" và "Nguyệt lãng thiên môn", rất sợ các sao sát, kị như Hỏa Tinh, Linh Tinh, Kình Dương, Đà La, Hóa Kị, Địa Không, Địa Kiếp tụ tập đủ ở tam phương, gặp chúng là phá cách. Đây là cách không toàn mĩ, lúc luận đoán cần phải thận trọng.
Xét ở góc độ khác, "Nguyệt lãng thiên môn" là Thái Âm thủ mệnh ở cung Hợi. Cổ nhân cho rằng mệnh cục loại này có thể phong hầu tiến tước. Thực ra theo cách nhìn của xã hội hiện đại, thì mệnh cách này chỉ có thanh danh, là người được xã hội biết tên mà thôi.
Hơn nữa, "Nguyệt lãng thiên môn" còn phải có điều kiện. Theo Vương Đình Chi, chỉ có người sinh vào tháng 8 và tháng 12 mới tốt, bởi vì chỉ hai tháng này mới có Tả Phụ, Hữu Bật hội hợp cung mệnh, nếu không có hai sao phụ trợ này, cách cục chỉ có danh mà không có lợi, còn cảm thấy cô đơn tịch mịch.
Nói "cô đơn tịch mịch", không phải là nói mệnh tạo không có bạn khác giới, mà ngược lại, bạn khác giới quá nhiều. Điều tệ hại ở đây là, "tâm trạng cô độc" gặp quá nhiều bạn khác giới, sẽ rất dễ ảnh hưởng đến sự nghiệp, lúc này mệnh cục "Nguyệt lãng thiên môn" chưa chắc đã chủ về quý, chỉ có thể là "công tử" mà thôi.
Còn "Nhật chiếu lôi môn" là Thái Dương thủ mệnh ở cung Mão, chiếu theo cách nhìn của xã hội hiện đại, phải là mệnh của một chính khách hoặc nhà đầu tư. Nên là người sinh vào giờ Mão, Mùi hoặc Hợi, bởi vì cần phải sinh vào các giờ này mới gặp được Văn Xương, Văn Khúc; nếu lại sinh vào năm Ất, có Lộc Tồn đồng cung với Thái Dương, mới không phải là một chính khách trống rỗng, trên thực tế có thể tạo phúc cho xã hội. Nếu không đủ các điều kiện kể trên, tuy ánh sáng chói lọi vạn trượng, cũng chỉ là một nhân vật có tên tuổi ít nhiều trong xã hội mà thôi.
Nhìn ở góc độ vừa nói ở trên, so sánh hai cách cục, thì "Nhật chiếu lôi môn" tốt hơn "Nguyệt lãng thiên môn". Bởi vì người "Nhật chiếu lôi môn" chính trực mà còn nhiệt tâm, dù có tỏ vẻ ta đây, rốt cuộc cũng có lợi đối với xã hội. Không như người "Nguyệt lãng thiên môn", chuyên tỏ vẻ ta đây với người khác giới, và chỉ có một cống hiến duy nhất cho xã hội, đó là cung cấp tin tức thêu dệt trong những lúc trà dư tửu hậu.
Thời cổ đại rất khó dương danh, một khi đã dương danh ắt sẽ "quý", cho nên cổ nhân mới lấy hai cách cục này định là "quý cách"; mà không biết xã hội ngày nay có nhiều con đường để dương danh, không nhất định phải "quý" rồi mới có thể dương danh. Cho nên ngày nay luận đoán hai mệnh cách này cần phải biến thông, không thể nói thẳng theo cổ thư.
Giáp đệ đăng dung cách
Dương danh thời nay đã có nhiều ngả; cách cục của khoa bảng xưa cũng vì thế mà nhỏ lại.
"Giáp đệ đăng dung cách" tức là Hóa Khoa thủ cung mệnh, tương hội Hóa Quyền ở tam phương (Xem hình 97, 98).
Cổ ca nói:
禹门一曜便腾空,
头角峥嵘大浪中,
三汲飞翻台变化,
风云平地起蛟龙.Phiên âm:
Vũ Môn nhất diệu tiện đằng không,
Đầu giác tranh vinh đại lãng trung,
Tam cấp phi phiên đài biến hoá,
Phong vân bình địa khởi giao long.Dịch nghĩa:
Vượt Vũ Môn một sao đằng không,
Đầu sừng tranh vinh trong sóng lớn,
Tam cấp bay lên đài biến hoá,
Phong vân bình địa nổi giao long.
Cổ nhân lấy Hóa Khoa làm sao văn bút, nếu chính diệu Hóa Khoa thủ mệnh, tuy hội sát tinh cũng không thất cách là "văn chương tú sĩ, quần anh sư phạm" 文章秀士, 群英师范. Vì vậy một khi tương hội Hóa Quyền, càng cho rằng nhờ thi cử mà được công danh.


Nhưng trong xã hội hiện đại, cách cục này chưa chắc sẽ có ý nghĩa tương đồng. Con người ngày nay tuy cũng xem trọng thi cử, nhưng người học hành lại không nhất định phải dựa vào thi cử để ra làm quan, xuất thân theo con đường chính như thời xưa, cho nên ý nghĩa của "Giáp đệ đăng dung" càng nhỏ hơn nhiều.
Hóa Khoa và Hóa Quyền tương hội, còn phải xem chính diệu nào được "Hóa". Ví dụ như Tử Vi Hóa Khoa, là sao mạnh nhất trong số Hóa Khoa, nhưng tất nhiên, đồng thời Thiên Lương sẽ Hóa Quyền, cũng làm tăng quý hiển quyền bính, nhưng hai sao lại vĩnh viễn không có cơ hội để tương hội.
Đây cũng chính là nói, hóa diệu mà tương hội, vĩnh viễn không bao giờ để hai chính diệu hữu lực hội hợp, cách cục không bao giờ toàn mĩ. Sự an bài của Đẩu Số có phần hợp với thiên đạo.
Hóa Khoa rất ghét gặp "sao không". Theo Vương Đình Chi, "sao không" ở đây là chỉ Địa Không và Địa Kiếp. Nếu Tuần Không, Tiệt Không và Thiên Không thì không kể. Cho nên "Giáp đệ đăng dung cách" không còn hợp lắm đối với xã hội ngày nay, và cũng không được xem thường phá cách của nó.
Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số - Tam Hợp Phái
