Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Nhập môn

Bài tổng quan

Tả Hữu, Lộc Tồn và dây cách cục Thái Dương thủ Mệnh qua từng cung

Tử Vi Nam Phái - Nhập môn29/09/202616 phút đọc3 lượt đọc
Tả Hữu, Lộc Tồn và dây cách cục Thái Dương thủ Mệnh qua từng cung

Một cung Thìn có Tả Hữu đồng thủ là áo tía đai lụa, nhưng cũng bấy nhiêu sao mà đơn thủ chiếu về lại hóa ra ly tông thứ xuất. Rồi cả một dây dài câu phú xoay quanh Thái Dương thủ Mệnh, mỗi cung một số phận, nhắc lại rằng vị trí quyết định tất cả chứ không phải bản thân vì sao...


Câu phú vừa khép ở chỗ Liêm Trinh Phá Hỏa gieo mình xuống sông. Mạch phú lại vòng về Cự Môn, Thất Sát, Kình Dương — những sát tinh quen mặt — trước khi dừng khá lâu ở Tả Hữu, Lộc Tồn và cuối cùng là cả một dây dài về Thái Dương thủ Mệnh qua từng cung một.

Cự Nhật Dần cung lập Mệnh, Thân, tiên khu danh nhi thực lộc.

Sao Cự Môn Thái Dương tọa thủ cung Dần lập Mệnh tại cung Thân, trước phải bôn ba về danh lợi và về hậu vận mới được thụ hưởng.

Cự Môn tại Tỵ, Thái Dương tại Hợi nhi an Mệnh, phản vi bất giai.

Sao Thái Dương thủ Mệnh tại cung Hợi, sao Cự Môn tại cung Tỵ, là hai chính tinh ở vào thế nghịch đảo tất bị tiêu ma.

Cự Môn Dương Đà ư Thân Mệnh Tật Ách, loa huỳnh khốn nhược, đạo nhi xướng.

Sao Cự Môn hội Kình Dương hoặc Đà La tại cung Thân, Mệnh hoặc cung Tật Ách chẳng khác con tò vò bị hãm đói, chẳng trộm cắp thời cũng ca xướng độ nhật.

Thất Sát trùng phùng tứ sát, yêu đà bối khúc trận trung vong.

Sao Thất Sát ngộ Kiếp Sát và Hỏa Tinh Linh Tinh tại cung Tật Ách là người bị tật lưng bụng cong vẹo, tất bị chết trong trận mạc.

Thất Sát lâm Thân Mệnh, lưu niên Hình Kỵ tai thương.

Sao Thất Sát thủ cung Mệnh hoặc cung Thân, hạn lưu niên mà ngộ Hóa Kỵ hoặc Thiên Hình, chủ bị tai nạn, thương tổn.

Thất Sát thủ chiếu, Tuế hạn Kình Dương, Ngọ sinh nhân, Mệnh an Mão, Dậu cung, chủ hung vong.

Sao Thất Sát thủ hoặc chiếu Mệnh, lưu niên Thái Tuế lại ngộ Kình Dương, người tuổi Ngọ Mệnh viên an tại Mão Dậu, tất chết vì hung tai.

Phá Quân ám Cự đồng hương, thủy trung tác trủng.

Sao Phá Quân không thể cùng Cự Môn đồng viên, điều đáng ngại là nếu Phá cùng Cự đồng chiếu Mệnh hoặc Thiên Di, chủ dòng nước bạc sẽ là mồ chôn người mệnh bạc.

Kình Dương Tý Ngọ Mão Dậu, phi yểu triết nhi hình thương.

Sao Kình Dương tọa thủ cung Tý Ngọ Mão Dậu, nếu không được nhiều cát tinh hóa giải, chẳng chết non cũng phải mang ác tật. Kình Dương ở Ngọ (mã đầu đái kiếm) là cách rất hung độc.

Dương Hỏa đồng cung, uy quyền áp chúng.

Sao Kình Dương và sao Hỏa Tinh đồng thủ Mệnh tại cung Thìn, Tuất chủ có uy quyền khiến mọi người phải nể sợ, ở cung Sửu Mùi không được toàn mỹ.

Kình Dương phùng Lực Sĩ, Lý Quảng nan phong.

Ông Lý Quảng, dù là đệ nhất danh tướng của triều Hán, mà vẫn không được phong tước vị, vì số của ông có sao Kình Dương gặp sao Lực Sĩ tại cung Mệnh.

Dương Đà Hỏa Linh phùng cát, phát tài; hung tắc kỵ.

Nhị hạn gặp các sao Dương Đà Hỏa Linh mà hội nhiều cát tinh củng hoặc chiếu, chủ được tài lộc cát vượng. Nhưng nếu lại ngộ nhiều hung tinh lại là điều chẳng lành.

Dương Linh tọa Mệnh, lưu niên Bạch Hổ tai thương.

Mệnh viên có Kình Dương và Linh Tinh tọa thủ, hạn lưu niên lại ngộ sao Bạch Hổ, tất bị tai họa. Hạn gặp Kình Dương hoặc Đà La, lưu niên ngộ Linh Tinh, Phá Quân, trên mặt tất nổi lên những vết loang lổ, vết hằn. Kình Dương hay Hỏa Tinh gặp Phá Quân là hạ cách.

Kình Dương trùng phùng lưu Dương, Tây Thi khuynh vẫn thân.

Đẹp khuynh thành, khuynh quốc như Tây Thi, mà bị chết mất xác vì hạn lưu niên, ngộ Kình Dương trùng phùng.

Khôi Việt giáp Mệnh vi kỳ cách.

Mệnh viên tại cung Thìn chẳng hạn, có Thiên Khôi tại Mão, Thiên Việt tại Tỵ, tức cách giáp Khôi giáp Việt, người gặp được kỳ cách này tất đại quý hiển.

Khôi Việt Xương Khúc Lộc Tồn, phù tinh Sát vô xung, Thai Phụ, quý.

Cung Mệnh hoặc Thân được Khôi Việt Xương Khúc với Lộc Tồn phù trì, không bị Hình Sát xung phá, chủ quý hiển đến bậc cận thần. Nếu ở tam phương chiếu lại là thứ cách; ngộ Hình Sát xung chiếu, chỉ bình thường.

Khôi Việt phụ tinh vi phúc thọ.

Như Mệnh viên an tại bất cứ cung nào trong mười hai cung mà được hai sao Khôi Việt đồng tọa thủ, tất được hưởng phúc thọ song toàn.

Khôi Việt trùng phùng Sát tấu, cố tật vưu đa.

Lưu niên Khôi Việt trùng phùng, ngộ Dương Đà Không Kiếp, chủ bị mang cố tật.

Tả Hữu Văn Xương vị chí đài phụ.

Sao Tả Phụ và Hữu Bật đồng thủ Thân hoặc Mệnh cung, ngộ Văn Xương, chức vị tới bậc cận thần.

Tả Hữu giáp Mệnh vi quý cách.

Như ở bên trái cung Mệnh có sao Tả Phụ và ở cung bên phải có sao Hữu Bật là quý cách, công danh tiến đạt tới vị phụ tá chi đại thần.

Hữu Bật Tả Phụ chung thân phúc hậu.

Sao Hữu Bật và Tả Phụ đồng thủ cung Mệnh hoặc cung Thiên Di thời suốt đời được hưởng phúc lộc rồi rào, nếu Tả Hữu ở tam phương củng chiếu chỉ là thứ cách.

Tả Hữu đồng cung, phi la ý tử.

Người sinh tháng giêng hoặc tháng bảy, Mệnh viên an tại Thìn, Tuất; người sinh tháng tư, Mệnh viên an tại Mùi; người sinh tháng mười, Mệnh viên an tại Sửu, đều đắc cách Tả Hữu đồng cung, được "áo tía đai lụa", là bậc thượng quan.

Tả Hữu đơn thủ, chiếu Mệnh cung ly tông thứ xuất.

Thân Mệnh cung vô chính diệu, tất gặp cách này, chủ phải ly hương và không có công danh.

Tả Hữu Trinh Dương, tao hình đạo.

Hai sao Tả Hữu ngộ Liêm Trinh và Kình Dương, hay bị tù tội vì trộm cắp.

Tả Hữu Xương Khúc phùng Dương Đà, đương sinh ám chỉ.

Sao Tả Hữu và Xương Khúc gặp hai sao Kình Dương và Đà La, trong người có mọc những nốt ruồi bất lợi.

Tả Hữu Tài cung kiêm giáp củng, y lộc phong doanh.

Cung Tài Bạch có Tả Hữu tọa thủ, hoặc giáp Tả giáp Hữu, cũng chủ được tài lộc phong lưu, cuộc đời túc dụng.

Tả Hữu Thiên Tướng, phúc lai lâm.

Ba sao Tả Hữu Tướng đóng ở bất cứ cung nào trong mười hai cung, đều được thụ phúc lộc, quý hiển. Duy đóng tại cung Sửu Mùi Hợi, chủ vượng về phú hơn quý nhiều, và dù có được quý hiển phần nào tất cũng chẳng được bền vững. Và dù đóng tại cung Dậu Mão là hãm địa, thời cũng chủ không có được sự an tâm, toại chí thôi.

Lộc Tồn thủ ư Tài Trạch, tích ngọc đôi kim.

Sao Lộc Tồn đóng vào cung Tài Bạch, Điền Trạch là người có tiền kho, bạc đụn.

Lộc Tồn Tý Ngọ vị Thiên Di, Thân Mệnh phùng chi lợi lộc nghi.

Sao Lộc Tồn đóng tại cung Tý hoặc Ngọ mà Mệnh, Thân hoặc Thiên Di an tại hai cung ấy, tất là người hái ra tiền bạc.

Khoa Quyền Lộc hợp, phú quý song toàn.

Có được ba sao Khoa, Quyền, Lộc hội nhau hợp cách, như cung Mệnh có Hóa Khoa, cung Quan Lộc có Hóa Quyền và cung Tài Bạch có Hóa Lộc, hoặc là cung Mệnh có Hóa Khoa, cung Huynh Đệ có Hóa Quyền và cung Phụ Mẫu có sao Hóa Lộc, đều là hợp cách, chủ được cả phú lẫn quý hiển. Sao Lộc Tồn hợp với Khoa Quyền cũng đồng tính cách như Hóa Lộc vậy.

Lộc Quyền, Mệnh phùng hợp cát, uy quyền áp chúng, tướng vương triều.

Mệnh viên có Quyền Lộc tọa thủ, gia hội cát tinh, tất là bậc đại soái của vương triều, có uy quyền khiến mọi người nể trọng.

Hóa Lộc Tý Ngọ vị Thiên Di, Phu Tử văn chương quán thế.

Cung Thiên Di đóng tại Ngọ cung, Mệnh viên có Thái Dương, Hóa Lộc đồng cung, hoặc xung chiếu là đắc cách. Đức Khổng Tử có tài văn chương quán thế, vì số của Ngài có cách này.

Khoa danh hãm ư hung thần, miêu nhi bất tú.

Sao Thái Dương cư Tuất, Thái Âm tại Mão, Hóa Khoa hãm địa hoặc hội Dương Đà Không Kiếp là cách "Khoa hãm ư hung thần", chủ sự tài hoa mệnh bạc, người có tài nhưng chết non.

Lộc chủ triền ư nhược địa, Mệnh bất chủ tài.

Sao Hóa Lộc hoặc Lộc Tồn lạc hãm bại địa, hoặc Lộc ngộ Không Kiếp, là số không làm ra được tiền của.

Quyền Lộc thủ Tài, Phúc chi vị, xử thế vinh hoa.

Sao Hóa Quyền, Hóa Lộc tọa thủ cung Tài Bạch hoặc cung Phúc Đức là người có địa vị trong đời và được phú quý vinh hoa suốt đời.

Quyền Lộc cát tinh Nô Bộc vị, túng nhiên quan quý dã bôn ba.

Sao Hóa Quyền, Hóa Lộc cùng cát tinh đóng hoặc hội tại cung Nô Bộc, dù có được quý hiển làm quan nhưng cũng phải lận đận, nay đây mai đó.

Kiếp Không lâm hạn, Sở Vương táng quốc, Lộc Châu vong.

Sở Bá Vương bị mất nước, cũng như người Lộc Châu chết, đều vì nhị hạn gặp Kiếp Không.

Sinh xứ Kiếp Không, do như bán thiên triết sí.

Cung Thân và cung Mệnh nếu an tại các cung hãm địa, có Không Kiếp lâm thủ, chẳng khác con chim bị "giữa trời gãy cánh".

Kiếp Không Tài Phúc chi hương, sinh lai bần tiện.

Sao Địa Kiếp hoặc Địa Không đóng vào cung Phúc Đức hoặc cung Tài Bạch thì mới sinh ra đã phải chịu cảnh nghèo hèn rồi.

Thiên Thương gia ác diệu, Trọng Ni tuyệt lương, Đặng Thông vong.

Hạn Thiên Thương ngộ Địa Không, Địa Kiếp, Đức Trọng Ni bị đói ở đất Tần, cũng như người Đặng Thông bị táng mạng vì gặp phải hạn như vậy.

Tam giáp Mệnh hung, lục giáp cát.

Tam giáp là Kiếp Không, Hỏa Linh, Dương Đà, chủ sự tai ương, họa hạn. Lục giáp là Tử Phủ, Tả Hữu, Xương Khúc, Khôi Việt, Nhật Nguyệt, Khoa Quyền Lộc, đều là những cách giáp cát vượng.

Mệnh vô chính diệu, nhị tính diên sinh.

Cung Mệnh không có sao chính tinh, nên đổi họ làm nghĩa tử gia đình khác, mới có thể tránh được yểu vong. Mệnh phùng cát diệu tùng bá thanh tú dĩ nan điêu: cung Mệnh có những sao tốt sáng sủa đóng, tựa như cây tùng, cây bách xanh tốt, xum xê, rất khó có sự tàn úa.

Hạn phùng hung diệu, liễu lục đào hồng nhi dị tạ.

Hạn mà gặp các sao hung dữ, có xanh rờn như liễu, tươi thắm như đào, cũng chóng tàn tạ. Mệnh thực vận sinh như hạn miêu nhi đắc vũ, Mệnh suy vận nhược như nộn thảo chi tao sương: cung Mệnh tốt, gặp vận hạn tốt cũng ví như cây lúa đang thời hạn hán gặp mưa; Mệnh xấu gặp vận hạn xấu, chẳng khác đám cỏ non gặp sương sa vậy.

Thân cát Mệnh hung, diệc vi mỹ luận; Mệnh nhược Thân cường, tài nguyên bất tụ.

Cung Thân có cát tinh, cung Mệnh có hung tinh còn có thể khá được. Nhưng cung Mệnh lâm hãm địa, dù cung Thân có đóng tại vượng địa thời tiền bạc cũng không thể tích vững được, tất phải tiêu tan.

Tham Vũ thủ Thân vô cát, Mệnh phản bất vi lương.

Sao Tham Lang Vũ Khúc thủ Mệnh, vô cát diệu, cung Mệnh cũng không được cát tinh phù trì, tất suốt đời phải nghèo hèn, lao lực.

Sinh phùng bại địa, phát dã như hoa; Tuyệt xứ phùng sinh, hoa như bất bại.

Nếu Mệnh viên ở vào hãm địa, dù có gặp được cơ hội may cũng chóng tàn. Người Thủy hoặc Hỏa Mệnh, Mệnh viên ngộ sao Tuyệt tại cung Tý Hợi với Không Kiếp là được cách "tuyệt xứ phùng sinh" và được hưởng thêm cách "phản vi kỳ" nếu tam phương được Khoa Quyền Lộc củng chiếu nữa.

Thiên Lương Thái Dương, Xương Lộc hội, lư truyền đệ nhất danh.

Sao Thiên Lương Thái Dương tọa thủ Thân Mệnh cung, gia hội Văn Xương Hóa Lộc, chủ thông minh, đi thi đậu thủ khoa.

Kình Hư Tuế Khách gia lâm, mãn thế đa phùng tang sự.

Sao Kình Dương Thiên Hư Thái Tuế và Điếu Khách hợp thành đám sao chuyên chủ hình khắc. Thân Mệnh cung gặp bốn sao này thì trai chết vợ, gái hóa chồng, trẻ mồ côi và già cũng cô quả.

Kiếp Không Tỵ Hợi, Tướng Mã đồng cư nhi hội Khoa tinh, loạn thế phùng quân.

Sao Địa Kiếp, Địa Không đóng cung Tỵ hoặc Hợi gặp Thiên Tướng Thiên Mã đồng cung và được Hóa Khoa củng chiếu là người có tài ba và gặp được quý nhân để làm nên sự nghiệp hiển hách trong thời loạn.

Nam nhân Tang Hổ hữu tài uyên bác
Nữ Mệnh Hổ Riêu đa sự quả ưu.

Nam nhân Kim Mệnh gặp Tang Môn tại Mão (Thiên Môn) Bạch Hổ tại Dậu (hổ khiếu tây phương) là người có tài cao học rộng, bậc cái thế anh hùng. Nhưng đàn bà mà cung Mệnh có Bạch Hổ, Thiên Riêu đồng cư, lại chủ về nhân duyên trắc trở, suốt đời phải ưu phiền vì chuyện chồng con.

Khốc, Khách, Kiếp, Phù mạc ngộ Cự Dương, chung thân đa lệ.

Cung Mệnh có Thiên Khốc tọa thủ hội với Điếu Khách, Kiếp Sát, Tử Phù, đồng thời gặp Thái Dương Cự Môn xung chiếu, là người suốt đời gặp những sự khắc hại, đôi mắt luôn luôn đầy nước mắt khóc than cho số phận cay đắng của mình.

Tử Vi vô Phụ Bật đồng hành, vi cô quân, mỹ trung bất túc.

Sao Tử Vi, dù đắc địa, không hội được Tả Hữu đồng cung, hoặc giáp hoặc chiếu, thời chỉ là ông vua ngồi một mình, một xó, chẳng được tích sự gì cả.

Tử Vi Tham Lang đồng cung ư Mão Dậu, bất trung bất nghĩa, nật cận gian nhân.

Sao Tử Vi Tham Lang thủ Mệnh tại cung Mão Dậu, là hạng người bất trung bất nghĩa, suốt đời chỉ thích gần kề với tụi gian ác. Nếu là đàn bà, chủ đời lưu lạc, phong trần.

Tử Vi dữ chư sát đồng cung, chư cát hợp chiếu, quân tử tại dã, tiểu nhân tại vị, chủ nhân gian trá, cách thiện.

Sao Tử Vi cùng các sao sát thủ Mệnh, ngộ cát tinh chiếu lại, chủ tính tình gian trá, xa lánh việc thiện. Nếu ngay thẳng phải cô đơn, phải thủ đoạn mới được ngồi vào địa vị.

Tử Vi tại Dần Ngọ Thân cung, Nữ Mệnh chủ vượng phu ích tử, cát quý mỹ.

Đàn bà sao Tử Vi thủ Mệnh tại cung Tý Dậu, Tỵ, Hợi, gia hội tứ sát là bị cách "ngọc lành có vết", hậu vận vất vả.

Thiên Cơ dữ Thiên Lương, Tả Hữu Xương Khúc hội hợp, văn vị thanh hiển, vũ vị trung lương.

Sao Thiên Cơ cùng Thiên Lương thủ Mệnh tại Tý Ngọ Mão Dậu, hội với Tả Hữu Xương Khúc là bậc văn quan thanh liêm nhưng rất hiển hách. Nếu là võ quan thời cũng là bậc trung lương chi tướng.

Thiên Cơ tại Sửu Mùi hãm địa thủ Mệnh, ngộ tứ sát xung phá hạ cục, nghi kinh thương, tập nghệ.

Sao Thiên Cơ thủ Mệnh tại hãm địa (Sửu Mùi) gặp Kình Đà Không Kiếp xung phá là hạ cách, nếu tính chuyện buôn bán, hoặc làm công nghệ rất hợp và tất phát đạt.

Thiên Cơ dữ Thái Âm đồng cung ư Dần Thân, nan miễn bạt thiệp tha hương.

Sao Thiên Cơ và sao Thái Âm tọa thủ Mệnh cung tại Dần hoặc Thân, tất không thể tránh được bước lận đận trèo non vượt suối nơi đất khách quê người.

Thiên Cơ dữ Cự Môn đồng cung ư Mão Dậu, tất thoái tổ nhi tự hưng.

Sao Thiên Cơ và Cự Môn tọa thủ Thân, Mệnh tại cung Mão hoặc cung Dậu, chủ phải ly tổ đi lập nghiệp nơi xa mới phát đạt.

Thiên Cơ dữ Thiên Lương đồng cung ư Thìn Tuất, tất hữu cao nghệ tùy thân.

Sao Thiên Cơ và Thiên Lương đồng thủ Mệnh tại cung Thìn hoặc Tuất, tất là người có một nghề tài giỏi để dung thân.

Thái Dương thủ Mệnh qua từng cung

Thái Dương thủ Mệnh ư Mão Thìn Tỵ Ngọ kiến chư cát thủ chiếu, tất đại quý; kiến chư hung, diệc vi công khanh môn hạ sĩ. Sao Thái Dương thủ Mệnh tại các cung Mão Thìn Tỵ Ngọ, nếu được cát tinh củng chiếu, tất đại quý hiển. Nhưng nếu gặp hung tinh hội chiếu, thời cũng là văn nhân tân khách môn hạ các bậc công khanh.

Thái Dương thủ Mệnh ư Mùi Thân vi nhân tiên cần hậu họa. Sao Thái Dương thủ cung Mệnh tại các cung Mùi hoặc Thân, là người chỉ hăng hái buổi đầu, sau sẽ chán nản bỏ dở.

Thái Dương thủ Mệnh, lạc hãm, lao tâm phất lực, tuy Hóa Quyền Lộc diệc hung, Quan Lộc bất hiển, tiên cần chung họa, thành bại bất nhất, đãn xuất ngoại ly tổ khả cát. Sao Thái Dương thủ Mệnh tại hãm địa chủ tổn tâm phí sức mà chẳng nên công trạng gì, tuy cũng có Quyền có Lộc đấy, nhưng cũng chỉ là sự bất tường, công danh bất thành đạt. Tính nết thời chỉ hăng hái buổi đầu, sau lại chán nản, bỏ cuộc khiến thành bại chả ra làm sao cả. Tốt hơn, nên ly hương làm ăn, mới có thể khá được.

Thái Dương thủ Mệnh ư Tuất Hợi Tý phùng Cự Môn, nhất sinh lao lực bần vong, cách chủ nhãn mục hữu thương, dữ nhân quả hợp, chiêu phi. Sao Thái Dương thủ Mệnh tại Tuất, Hợi, Tý gặp sao Cự Môn, chủ một đời khó nhọc, nghèo hèn, mắt có tật, tính nết khó khăn, ít bạn bè và hay tự chuốc lấy chuyện thị phi.

Nguồn: Hà Lạc Dã Phu Việt Viêm Tử, Tử Vi Áo Bí Biện Chứng Học.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Nhập môn