Bài tổng quan
Tả Hữu, Khôi Việt: những bộ sao phụ tá quanh ngôi Đế Cực
Một ông vua không thể tự mình cai trị: Tả Phụ lo mưu kế trong cung, Hữu Bật trấn giữ ngoài biên ải, hễ đảo chỗ cho nhau lập tức sinh loạn. Đó là logic vận hành đằng sau cả một dàn bộ sao phụ tá vây quanh Tử Vi và Thiên Phủ...
Tử Vi và Thiên Phủ đã có chỗ đứng riêng trong bàn cờ mười hai cung. Nhưng một ông vua không thể tự mình cai trị: chung quanh ngôi Đế Cực còn cả một triều đình sao phụ tá, mỗi bộ sao một chức phận, một vị trí đứng không được lẫn lộn.
Bộ sao Tả Phụ, Hữu Bật
Tả Phụ là Dương Thổ Bắc Đẩu tinh, Hữu Bật thuộc Âm Thổ Nam Đẩu tinh. Đối với Đẩu Số hai sao này rất cần thiết, ví như hai hàng văn võ của một ông vua. Tả Phụ thuộc hàng văn, bàn tính mưu cơ chiến thuật, nên chữ Hán viết chữ Phụ có chữ xa (là xe) tức là ngồi cùng một xe với ông vua để giúp về kế hoạch, ông vua cũng chỉ có thể ở chung với quan văn mà thôi, nên sao Tả Phụ đồng cung với Tử Vi là tốt. Sao Tả Phụ đồng cung với Thiên Phủ ở Tuất là Tả Phủ cách, thượng cách, vì Thiên Phủ miếu ở Tuất mà Tả Phụ cũng miếu ở Tuất.
Sao Hữu Bật thuộc hàng võ quan, nên chữ Hán viết chữ Bật có bộ cung, tức là cung tên, một thứ võ khí. Đã là võ tất phải đi bên ngoài mà đánh đông dẹp bắc, không nên ở chung một cung, ví như một nhà, với ông vua được, vì hàng võ bao giờ tính nết cũng cương cường, có thể đoạt ngôi giết chúa, thường lộn xộn không thâm trầm như các quan văn.
Phương vị của Phụ Bật
Khi thiết triều thì văn tả, võ hữu; khi hành sự thì văn nội, võ ngoại, trái đi là không hợp cách. Luận đoán tinh đẩu cần xét xem Phụ Bật có cư đúng vị trí không. Thí dụ như một người có hai tay tả hữu, đúng theo tạo hóa xếp đặt, cùng úp lòng bàn tay vào đùi cả, trái lại nếu đem tay trái qua phía tay mặt và đem tay mặt qua phía tay trái thời sẽ ra sao. Nên phương vị của hai sao Phụ Bật cũng một lý do đó, và Tả Phụ thuộc văn đâu có đi ra ngoài để đánh đông dẹp bắc được, cũng như võ đâu có thể ở trong cung để thiết mưu định kế được. Vì vậy nên Tả Hữu miếu địa ở hai cung Thìn Tuất cho người sinh tháng giêng tháng bảy, vì một sao ở trong và một sao ở ngoài; và vượng địa ở hai cung Sửu Mùi cho người sinh tháng tư, tháng mười, vì hai sao Tả Hữu đồng cung ở hai cung Sửu Mùi. Phương vị của hai sao Phụ Bật rất cần với cách giáp biên, nhất là ở Sửu Mùi: về cách giáp biên, phải tùy theo Mệnh ngồi cung nào xét xem Tả Hữu có hợp phương vị không, nếu trái lại là không hợp, cũng ví như văn ở bên võ mà võ ở bên văn, thời tuy giáp Phụ Bật nhưng sẽ gặp rất nhiều sự xáo trộn trong cuộc sống.
Tả Hữu tòng hung diệt, tòng cát phù
Hai sao Tả Hữu nếu cư đồng cung ở Sửu và Mùi, nên xem ngay trong cung có sao cát tinh miếu vượng, hay ác sát không vong mà phân định hung cát của Tả Hữu. Thí dụ như trong cung có sao Địa Kiếp, Thiên Không hãm, thì sao Tả Hữu sẽ nhập đảng ngay với bọn hung tinh này mà tác hại khủng khiếp ngay, ví như Địa Kiếp là tướng cướp lại thêm hai ông tướng Tả Hữu nhập bọn nữa, thì ảnh hưởng tai hại hung hãn thật trở tay không kịp, là cách tòng hung diệt.
Ngược lại, thí dụ trong cung có sao Lộc, sao Quyền đồng cung với Tả Hữu, là Tả Hữu sẽ nhập bọn cùng Lộc Quyền, mà tăng gấp sự tốt đẹp của Lộc Quyền kia lên. Lộc Quyền mà gặp Tả Hữu đồng cung, ví như nhà toàn ngọc toàn vàng, đây là cách Tả Hữu tòng phù cát.
Tả Hữu giáp biên hung cát
Cùng một định lý này áp dụng cho cách giáp biên: khi đã xét qua đồng cung, thời sự hung cát của cách giáp biên cũng thế. Thí dụ Tả Hữu giáp biên ở Sửu Mùi mà trong cung có Kiếp Không, thời Tả Hữu sẽ nhập bọn cùng Lộc Quyền để tăng thêm sự tốt lành của Lộc Quyền. Nên theo định lý này để phân định tinh tường mà luận xét, tại sao Tả Hữu đồng cung là "nhất hô bá nặc", là "tôn cư vạn thặng" mà hô lên không có quần thần văn võ đáp lại thì chỉ là một chú cai thầu hay một ông tướng cướp. Và giáp Tả giáp Hữu quý vô nghị, lại không gần vua, gần chúa, hội họp ở chốn triều đình, thì chỉ là một sự kết phe họp đảng của một bọn cướp hay một bọn du đãng khét tiếng mà thôi. Bởi thế nên mới phân biệt đâu là quần thần khánh hội cách, cùng với các giáo sư, bác sĩ, cô mụ nhà hộ sinh, ông thương gia, chú du đãng, hay là một tướng cướp, tùy theo vị trí, tính chất các tinh tú cư chiếu, mới phân biệt minh bạch được.
Vị trí ta thấy có lính mang vũ khí, thời nên luận đoán với một nhà quyền quý ở cao ốc, biệt thự nguy nga, và kẻ gác nhà tăng vẻ uy nghiêm cho nhà quyền ấy. Trái lại với một người dân nhà lá, nhà tôn, thời người lính mang võ khí tới để xích tay điệu về ngục lãnh tội.
Bộ sao Long Trì, Phượng Các
Long Trì thuộc Thủy, Phượng Các thuộc Mộc đới Kim, là đài các tinh, là văn tinh, chủ sự vui mừng, cười hỏi, thi cử. Phù trì chủ Nhật Nguyệt là hợp cách. Đi với Quý Ân là cách kim bảng đề tên. Nếu cùng với Hỷ Thần, Riêu Y, Hình, Kỵ hội họp là đồng tính chất, tăng thêm hỷ sự, đài các nguy nga, văn chương siêu việt. Ví như rồng có vảy, có vây, râu, móng tỏa ánh hào quang; như phượng có bộ lông rực rỡ, nhảy múa dưới ánh mặt trời. Cách giáp biên và đồng cung ở Sửu Mùi, cát phù hung diệt, cũng một định lý như trên mà luận đoán. Ngoài Thân Mệnh ra, Phượng Long cư cung Điền Trạch là hợp cách.
Ở phú đoán có câu: "Phượng Long Mão Dậu đôi miền, vượng thì kim bảng đề tên ở đầu." Sao Long Trì khởi thuận tại cung Thìn, Phượng Các khởi nghịch tại cung Tuất, không bao giờ hai sao này ở đối cung Mão Dậu được cả, chỉ có thể đồng cung ở Mùi với người tuổi Mão, đồng cung ở Sửu với người tuổi Dậu. Câu phú đoán này minh chứng cho thấy người tuổi Mão, Dậu, Phượng Long miếu địa ở Sửu Mùi, nếu gặp được các văn tinh khác hội họp tất sẽ thi đỗ cao. Vậy không nên lầm lẫn sang hai cung Mão Dậu với người tuổi Mão Dậu.
Bộ sao Tam Thai, Bát Tọa
Tam Thai thổ, Bát Tọa thổ, hai sao Thai Tọa miếu địa ở các cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi. Nếu giáp biên mà trong cung có Kiếp Không, thì là nhà rách vách nát, hoặc ở xóm lao động, xóm bình dân chứ không là nhà cao cửa rộng được. Lại như Dương Đà, hung sát hay hai sao Xương Khúc là chủ sự buôn bán, kỹ nghệ, kho lẫm, tức là nhà ở đầu góc phố hay là sự buôn bán ở trong chợ, song ngày nay đầu đường xó chợ mới là nơi thị tứ, buôn bán phát đạt được. Nếu trong cung Điền Trạch có cát tinh miếu vượng, hay Khoa Quyền Lộc, tất nhiên là nhà cao cửa rộng, ruộng vườn tít cánh cò bay.
Cũng như: Mộ kiêm Thai Tọa, văn mô võ lược kiêm ưu. Ở Mệnh phải tùy theo cát tinh hay ác sát mà luận đoán, cát tinh cư đồng cung với Thai Tọa là người mưu lược mà khoan hậu trung lương, trái lại nếu cư đồng cung với Không Vong ác sát là kẻ mưu quỷ chước thần, gian xảo lừa bịp chính hiệu.
Giáp Bát Tọa giáp Tam Thai
Thiếu niên đã dự các đài nghênh ngang.
Cũng một định lý cát phù hung diệt mà đoán, là được ở các đài phủ nọ, phủ kia, nhà buôn bán kỹ nghệ, hay là nhà là nhà gianh. Nên cũng đồng cung, cũng giáp biên cách mà phân biệt được người giàu có vàng chôn ngọc cất, mà kẻ kia chỉ là bà đếm tiền ở ngân hàng, ông gác cửa kho bạc.
Bộ sao Ân Quang, Thiên Quý
Ân Quang thuộc Hỏa, Thiên Quý thổ, Quý Ân miếu địa ở hai cung Sửu Mùi. Quang Quý là bộ sao Phụ Bật, Xương Khúc, Thai Tọa, là tăng thêm sự tốt đẹp sáng sủa của các sao này. Quang Quý phù trì cho cách Nhật Nguyệt hợp hơn các cách khác. Quý Ân là bộ sao phúc thiện, giải trừ được hung họa mà không sợ các hung sát tinh.
Bộ sao Đào Hoa, Hồng Loan
Đào Hoa mộc, Hồng Loan mộc, Đào Hoa Hồng Loan miếu ở Tý, vượng ở Mão. Hai sao này cư ở Quan Lộc hợp cách nhất: cung Quan Lộc mà gặp được Hồng Đào thì đường hoạn lộ nhẹ bước thang mây, không phải bôn ba cầu cạnh, dù thương mại hay kỹ nghệ cũng vậy, nếu không có Hồng Đào thì khó mà làm nên cơ nghiệp, dù có làm nên cũng không thể lớn lao được. Nếu hợp với Thiên Hỷ, Hỷ Thần thành bộ tam minh, thì hỷ sự đến trùng trùng.
Đào Hoa Hồng Loan không nên ở Mệnh, vì tính dâm và huê nguyệt, nhất là nữ Mệnh càng không nên gặp Hồng Đào. Đào Hoa cư Tý Mão nếu ngộ Thiên Không, ví như cây đào bị cháy vì Thiên Không thuộc Hỏa; Đào ngộ Không là "bán thiên chiết sí", tức là chim bay lưng trời gãy cánh. Nếu ở Mệnh Thân Quan Tài là cơ nghiệp sẽ bị đổ vỡ, nhưng Không Đào cư Mệnh là người cơ mưu, trí lược.
Bộ sao Văn Xương, Văn Khúc
Văn Xương Bắc Đẩu tinh, dương Kim; Văn Khúc Nam Đẩu tinh, âm Thủy; vượng ở Sửu Mùi Thìn Tuất Tỵ Dậu. Chủ văn chương, khoa giáp, mỹ thuật, ca vũ. Hãm địa chủ gian xảo, đa hư thiểu thực. Ngộ Lộc Tồn, Kình, Kỵ là nghề thầy cúng, hát chầu văn, các ban nhạc kèn trống của các đình chùa. Nữ Mệnh không nên gặp Khúc Xương. Hội với Hình Kỵ, Quan Phúc là người ưa thích về đồng bóng và tính tình thường ưa đổi thay. Hội với Riêu Y là cách dâm bôn. Hội với Riêu Hỏa, Linh, Hình thường trong giấc ngủ mơ thấy chuyện tình, nên phú đoán có câu: "Khúc Xương ấy gái chẳng lành, vườn hoa ong bướm hiệp tình tung tăng." Nam Nữ Mệnh Văn Xương ngộ Kỵ đều là cách giảm thọ.
Bộ sao Thiên Khôi, Thiên Việt
Thiên Khôi Nam Đẩu tinh, dương Hỏa đới Mộc; Thiên Việt Nam Đẩu âm Hỏa đới Kim. Đệ nhất tôn vinh quý tinh, chủ văn chương, khoa giáp, quyền tước mà mô phạm, thường được sự kính trọng của mọi người, nên được tôn là Thiên Ất quý nhân thần. Tính tình cao thượng, phúc đỉnh mà thanh khiết, quyền uy hiển hách mà nghiêm nghị. Nhà quyền quý không có Khôi Việt thì không được sự kính trọng của nhân dân, vì thiếu thiên uy. Khôi là bằng sắc, Việt là bút nghiên. Hãm địa là con dao, lá chắn vũ khí búa rìu của kẻ ăn cắp. Khôi Việt tối kỵ ngộ Tuần Triệt, là cách quý tinh ngộ Không, nên Khôi Việt mà ngộ Không là bằng cấp, ấn tín rách nát coi như không có. Nên ở phú đoán: "Quý phùng Không xứ ai làm cho nên"; Việt Khôi hãm tối kỵ ngộ Hỏa, Linh, Hình, tất sẽ bị tai nạn kinh khủng như sét đánh, điện giật, hỏa tai.
Cung Ngọ ví như thiên đình của Ngọc Hoàng, cung điện của nhà vua chúa bao giờ cũng chính Ngọ cả, nên ta thường nghe nói cửa Ngọ Môn là cửa chính, thường là nơi yết bái các sắc lệnh chiếu chỉ của nhà vua, cũng như Ngọ cung là nơi cao nhất, nên Thiên Khôi miếu ở Ngọ là ý nghĩa ấy. Thiên Khôi Hỏa, Ngọ cũng thuộc Hỏa nên người được cách Khôi Việt thì văn chương siêu việt, tính tình thanh khiết uy nghiêm, được mọi người tôn kính, song nếu Khôi ngộ Triệt Tuần là ngộ Không thời học không thành mà thi cử khoa trường lận đận, không đỗ đạt cao được.
Người sinh tuổi Nhâm Quý, Thiên Khôi vượng ở Mão, Thiên Việt vượng ở Tỵ. Cung Mão là cửa của nhà trời, là nơi đi lại, nhập xuất của các long thần Lục Đinh, Lục Giáp, thần coi về trận đồ, Luật Ninh thần là thần sấm sét, nên Thái Dương cư Mão là cách nhập xuất lôi môn là ý nghĩa ấy. Thiên Khôi Việt vượng ở Mão Tỵ không nên gặp Triệt Tuần, nếu gặp thời bằng cấp không cao và học hành cũng dang dở.
Thiên Khôi, Thiên Việt ở Sửu Mùi: bằng cấp chiếu chỉ là tôn quý, nhưng cung Sửu là trầm và thổ, là đất bùn sình, là nơi tăm tối, ví như bằng cấp bị chôn vùi xuống đất. Khôi Việt ở hai cung Sửu Mùi là hãm địa nên ngược lại cần gặp được Triệt Tuần, ví như con đường cái quan được yết bảng chiếu chỉ, ví như ông nghè vinh quy vậy. Nên ở Sửu Mùi không gặp được Triệt Tuần để khắc chế Khôi Việt thời không thể đỗ cao hay văn chương hiển đạt được. Hai cung Tý Hợi là đại hải thủy, đối chiếu với Ngọ là cổng tiền thì Tý Hợi là cổng hậu nên bằng cấp chiếu chỉ không bao giờ yết bảng ở cổng hậu cả, nên cần gặp được Triệt Tuần tùy theo ngũ hành để đạt được sự học hành và bằng cấp cao.
Khôi Việt được tôn là Thiên Ất quý nhân thần, ở phương tôn quý thì quyền uy, văn chương thanh hiển, người người sủng ái; ở nơi hãm địa ngộ ác sát lại hóa ra tai ương, cần có sự khắc chế. Nên cũng Khôi Việt mà thành nghề đồ tể, thợ rèn tay cầm dao búa khéo léo, hay là sẽ hứng chịu tai nạn.
Bộ sao Thai Phụ, Phong Cáo
Thai Phụ thuộc thổ, Phong Cáo thổ, chủ bằng sắc ấn tín, các nha sở, thư viện, văn tịch, các phủ khố lưu trữ tài liệu. Hội với bộ Binh, Hình, Tướng, Ấn, chủ chấp chưởng binh quyền. Ở phú đoán: "Ấn mang vị liệt công hầu, sao lành Tướng Cáo đóng vào Mệnh viên." Rất hợp với cách Sát, Phá, Tham.
Nguồn: Hà Lạc Dã Phu Việt Viêm Tử, Tử Vi Áo Bí Biện Chứng Học.
