Bài tổng quan
Sáu Tượng Nạp Âm Mộc, Hỏa, Thổ: Từ Tang Đố Mộc Đến Ốc Thượng Thổ
Mỗi tượng nạp âm là một hình ảnh thiên nhiên gói trọn tâm tính người mang nó. Với hành Mộc, Tang Đố Mộc như cây dâu phục vụ người khác, Tùng Bách Mộc cứng cỏi trong sương tuyết, Đại Lâm Mộc biết ngả theo thời thế, Dương Liễu Mộc yếu nhược mà tâm sự thấu đáo, Thạch Lựu Mộc trung kiên đáng tin, Bình Địa Mộc chứa tài năng chờ quý nhân. Với hành Hỏa, Tích Lịch Hỏa nhanh như tia điện, càng loạn càng phát, Lô Trung Hỏa mệnh lớn, Phú Đăng Hỏa thích bóng tối mà tài hoa, Thiên Thượng Hỏa công bình hào sảng, Sơn Hạ Hỏa yếu mà vênh vang, Sơn Đầu Hỏa giấu tài. Với hành Thổ, từ Bích Thượng Thổ phải tựa người mới thành sự đến Đại Dịch Thổ làm công lớn. Ốc Thượng Thổ phải trải trăm cay nghìn đắng.
Mục lục · 21 phần
Nạp Âm Mộc
Hành Mộc có sáu nạp âm chia thành: Tang Đố Mộc, Đại Lâm Mộc, Dương Liễu Mộc, Thạch Lựu Mộc, Bình Địa Mộc.
Tang Đố Mộc
Sách Bác Vật Vựng Biên viết: "Nhâm Tí, Quí Sửu thì Tí thuộc Thủy, Sửu thuộc Kim. Thủy vừa sinh Mộc, Kim đã phạt Mộc, như hình tượng của cây dâu, vừa trổ lá non đã bị hái xuống mà nuôi tằm."
Lá dâu tằm ăn, thân dâu làm cung, dùng vào nhiều việc. Từ chiếc lá đến cành đến thân đều bị sử dụng, cho nên Tang Đố Mộc hoàn toàn bị động, tâm tình rộng rãi, nhưng cái rộng rãi do người điều khiển. Khi có tiền, lúc thành công thường bị đẩy vào tình trạng giúp người này đỡ kẻ nọ, từ anh em đến họ hàng bè bạn.
Người Tang Đố Mộc không thể ở ngôi vị lãnh đạo. Mệnh tốt mà cho điều khiển công việc xã hội thì hợp cách. Quí Sửu so với Nhâm Tí, bản thân bị tước giảm nguyên khí nên gặp hung vận kém khả năng ứng phó.
Tùng Bách Mộc
Sách Bác Vật Vựng Biên viết: "Canh Dần, Tân Mão Mộc, Lâm Quan tại Dần, Đế Vượng tại Mão, Mộc đến hồi cực thịnh nên gọi bằng Tùng Bách Mộc."
Tùng Bách Mộc trong sương tuyết mà vẫn cứng cỏi vươn lên xanh tươi, vừa kiên nhẫn chịu đựng vừa đầy ắp nghị lực chống với khí hậu ác liệt. Kiên định, dù thử thách nào cũng không bị bẻ gãy. Ý chí luôn luôn muốn vượt thiên hạ và kỷ luật ngay cả đối với bản thân.
Mệnh tốt, người Tùng Bách Mộc sẽ thành công khác người trên bất cứ lãnh vực nào. Mệnh xấu luôn luôn thành kẻ bất đắc chí. Tân Mão nhẫn nại hơn Canh Dần; Canh Dần cương nghị hơn Tân Mão.
Đại Lâm Mộc
Sách Bác Vật Vựng Biên viết: "Mậu Thìn, Kỷ Tị: Thìn là giải bình nguyên rộng lớn, Tị là ánh thái dương chói chan, tạo thành cây cối phồn vinh như rừng nên gọi bằng Đại Lâm Mộc." Cây trong rừng um tùm rậm rạp khắp nơi một màu xanh, nên tâm chất không mưu cầu đột xuất.
Trí tuệ linh mẫn với sự ngả theo thời thế, làm chức thừa hành tốt, vào cương vị chỉ huy không hay. Khả năng cũng như khuynh hướng không có màu sắc riêng của mình.
Số Mậu Thìn với Kỷ Tị: Mậu Thìn đều thuộc Thổ, Mộc khắc Thổ làm nhược khí thế; trong khi Kỷ Tị thì Tị Hỏa. Bởi vậy Kỷ Tị trong cuộc phấn đấu chống với hung vận dễ dàng hơn Mậu Thìn.
Dương Liễu Mộc
Sách Bác Vật Vựng Biên viết: "Nhâm Ngọ, Quí Mùi: Mộc tử ở Ngọ, mộ ở Mùi. Mộc vào đất tử, mộ, dù được Nhâm Quí Thủy sinh cũng vẫn yếu nhược nên gọi bằng Dương Liễu Mộc." Cành liễu mảnh mai, lá liễu buông rủ, thứ Mộc không có cốt khí. Hình chất thì vậy, nhưng tâm sự lại rất thấu đáo, tình cảm phức tạp, đa đoan.
Dương Liễu Mộc thuộc âm nên tính tình kín đáo, chỉ thiếu căn bản, suy tư luôn luôn theo gió mà ngả nghiêng. Bén nhạy với thực tế, tâm không mấy chính trực.
Dương Liễu Mộc khó là một người tâm phúc trung thành. Nhâm Ngọ vì Ngọ là Hỏa, Mộc sinh Hỏa, cho nên mệnh vượng cứng rắn hơn Quí Mùi — Thổ bị Mộc khắc.
Thạch Lựu Mộc
Sách Bác Vật Vựng Biên viết: "Canh Thân, Tân Dậu — Thân là tháng bảy, Dậu là tháng tám, thời gian này Mộc suy yếu, cơ hồ tuyệt diệt. Chỉ có cây lựu kết trái, cho nên gọi bằng Thạch Lựu Mộc."
Kim khắc Mộc, Kim như dao búa, Thạch Lựu Mộc cứng cáp, dao búa không dễ đốn ngã. Canh Thân, Tân Dậu cả chi can đều thuộc Kim, thế mà nạp âm thành Mộc, lấy cái lẽ tương khắc chống chọi mà thủ tượng vậy. Hình Mộc mà chất đá nên gọi Thạch Lựu. Mệnh mang những sao trung kiên là một trung thần ánh ánh, là một người bạn khả dĩ tin cậy.
Mệnh mang những sao gan dạ nên con người can trường, dám làm dám chịu. Mệnh hiện những sao thiếu trí tuệ thành ra người ngoan cố, khó mà cảm hóa.
Canh Thân, Tân Dậu, Mộc hoàn toàn bị Kim chế ngự nên ít có khả năng bén nhạy với biến động. Người Thạch Lựu Mộc vào nghiên cứu hợp cách, vì ít thay đổi chí hướng.
Bình Địa Mộc
Sách Bác Vật Vựng Biên chép: "Mậu Tuất, Kỷ Hợi thì Tuất là cánh đồng, Hợi là nơi cây cỏ sinh được. Tuất Hợi lúc Mộc khí qui căn, âm dương bế tắc như mùa đông, cành lá trơ trụi mà gốc rễ ẩn tàng để nảy nở."
Người Bình Địa Mộc mà mệnh tài cán, thì cái tài thường ẩn không hiện; nếu được dùng, ví như gặp cơn mưa thuận gió hòa; ở thời loạn, ví như bị sương tuyết dập vùi, hoài tài bất ngộ. Bình Địa Mộc cần gặp quý nhân, gặp người biết dùng. Được sử dụng đúng sẽ làm việc đắc lực. Bình Địa Mộc trông về ngoài không bề thế lẫm liệt, nhưng bên trong chứa chất tài năng đáng nể. Bình Địa Mộc mà mệnh bình thường sẽ mãi mãi bình thường dù được vận hay.
Mậu Tuất toàn Thổ, Thổ bị Mộc khắc; Kỷ Hợi, Hợi Thủy sinh Mộc, bởi thế nên Kỷ Hợi làm việc mẫn cán hơn Mậu Tuất.
Nạp Âm Hỏa
Hành Hỏa có sáu nạp âm chia như sau: Tích Lịch Hỏa, Lô Trung Hỏa, Phú Đăng Hỏa, Thiên Thượng Hỏa, Sơn Hạ Hỏa, Sơn Đầu Hỏa.
Tích Lịch Hỏa
Sách Bác Vật Vựng Biên chép: "Mậu Tí, Kỷ Sửu — Sửu thuộc Thổ, Tí thuộc Thủy, Thủy ở chính vị mà nạp âm lại là Hỏa; nếu không phải thần long, tất nhiên Thủy không biến ra Hỏa được, cho nên gọi bằng Tích Lịch Hỏa, như tia lửa từ sấm chớp, tức "thủy trung chi hỏa"."
Tích Lịch Hỏa lẫm liệt như tiếng sấm vang, nhanh tựa tia điện. Người Tích Lịch Hỏa mệnh nhiều sao tốt, sự nghiệp cơ nghiệp thành công hơn người thích làm việc to tát — càng loạn lạc, càng xáo trộn, khả năng càng phát triển.
Người Tích Lịch Hỏa mà mệnh cung tầm thường, chuộng hư danh, thích nổi trội, dễ bị xúi giục làm những việc xuẩn, như kiểu ôm bom ba càng nằm chặn xe tăng.
Người Tích Lịch Hỏa ưa vào cờ bạc thường bị bịp, làm những chuyện bất ngờ; tâm ý nhiệt thành, không giảo quyệt, luôn luôn ngăn nắp và kỷ luật.
Lô Trung Hỏa
Sách Bác Vật Vựng Biên chép: "Bính Dần, Đinh Mão — Dần là tam dương, Mão là tứ dương, Hỏa được đất lại có Dần Mão Mộc trợ lực, trời đất lúc ấy như lò lửa và vạn vật nảy sinh, nên gọi bằng Lô Trung Hỏa."
Bính Dần, Đinh Mão, khí thế phát huy nhờ chất đốt mà hiển minh, âm dương còn lẫn, thiên địa chung một lò lửa. Lửa dung hóa tất cả, từ âm dương đến sáng tối, cả trời lẫn đất, nói chung là vạn vật trong vũ trụ. Dùng Hỏa để cải tạo vạn vật.
Có câu: "Lô trung hỏa giả, thiên địa vi lô, âm dương vi thán, quang huy ư vũ trụ, đào dã ư càn khôn" (Lửa trong lò vũ trụ, trời đất, âm dương, càn khôn đều được đào luyện).
Người Lô Trung Hỏa có mệnh lớn, tâm tưởng bao la, lúc đắc thế khả dĩ hiển hiện tài hoa, danh tiếng với đời. Lô Trung Hỏa mang một khuyết điểm: nếu như mệnh kèm theo những hung sát tinh hãm, dễ thành kiêu căng ngạo mạn, dễ bị nghe theo lời nịnh hót mà thất bại.
Bính Dần, Đinh Mão, hai hàng chi đều thuộc Mộc, Mộc sinh Hỏa tước nhược, gặp hung vận thiếu trầm tĩnh giải quyết công việc.
Phú Đăng Hỏa
Sách Bác Vật Vựng Biên ghi: "Giáp Thìn, Ất Tị — Tị là độ gốc lúc mặt trời lên đến đỉnh và sắp lặn về Tây. Ánh chiều tà còn tung ra chiếu sáng vạn vật. Đồng thời cũng là lúc thiên hạ sửa soạn lên đèn. Phú Đăng Hỏa là ánh lửa ban đêm, khả dĩ chiếu sáng những nơi mà mặt trời mặt trăng không chiếu tới được, gọi khác đi bằng "địa minh chi hỏa"."
Giữa ban ngày, ánh lửa đèn không thể thi triển quang huy. Bởi vậy người mang nạp âm Phú Đăng Hỏa hay "dạ minh chi hỏa" thường thích bóng tối, không muốn xuất đầu lộ diện, nhưng lại rất tài hoa, lúc cần đến thật được việc. Lúc bình thường, lúc đưa đắc thế, sống âm thầm ẩn nặc. Khi gặp thời cơ như ánh đèn soi vào bóng tối.
Giáp Thìn thì Thìn thuộc Thổ, Hỏa sinh Thổ tính chất cương mãnh hơn; trong khi Ất Tị thì Tị là Hỏa đồng tính với Hỏa, sức mạnh không bằng Giáp Thìn. Sức mạnh ở đây nói về khí chất tinh thần để ứng phó với hung vận.
Thiên Thượng Hỏa
Bác Vật Vựng Biên Nghệ Thuật Điển
ghi: "Mậu Ngọ, Kỷ Mùi — Ngọ là nơi Hỏa vượng, Mộc ở trong chi Mùi lại sinh Hỏa. Hỏa khi bùng lên gặp đất sinh nên gọi bằng "Thiên Thượng Hỏa"."
Thiên Thượng Hỏa là lửa từ trên trời. Mậu Ngọ là mặt trời, Kỷ Mùi là mặt trăng, sưởi ấm sông núi, chiếu sáng vũ trụ chan hòa mọi chỗ không thiên vị. Bởi vậy Thiên Hỏa rất công bình, chính trực, hào sảng, khai hoài.
Số nạp âm Thiên Thượng Hỏa mà có nhiều cát tinh tại mệnh, đứng ngôi chủ vào thời bình, bàn dân thiên hạ được nhờ. Nhưng Thiên Thượng Hỏa mà tuổi Kỷ Mùi là mặt trăng, tính chất nhu hòa, lắm khi lại lạnh nhạt và vô tình, đứng ngôi chủ các cận thần phải coi chừng. Đặc biệt nếu mệnh cung mang những sao thủ đoạn mưu chước. Thiên Thượng Hỏa dù Mậu Ngọ hay Kỷ Mùi thấy đều ra danh vị, tiếng tăm.
Sơn Hạ Hỏa
Bác Vật Vựng Biên Nghệ Thuật Điển
chép: "Bính Thân, Đinh Dậu. Thân là cửa của đất. Dậu là cổng của mặt trời lặn. Ánh dương quang đến chỗ này thì ẩn tàng, nên gọi bằng Sơn Hạ Hỏa."
Bính Thân, Đinh Dậu, khí tất hình tàng như mặt trời lặn phía Tây, sức đã yếu nhược, càng tối càng hiu hắt vàng vọt. Sơn Hạ Hỏa tâm chất hẹp hòi, tự tư tự lợi, mưu lược không đủ, nhưng vẻ ngoài lại vênh vang, lúc nào cũng lý luận.
Nạp âm Sơn Hạ Hỏa, số xấu hay tốt cũng không nên dùng làm tâm phúc, không bao giờ là người cộng sự chân thành. Thân Dậu Kim đều bị Hỏa khắc nên thường rối ren trước biến động hay hung vận.
Sơn Đầu Hỏa
Sách Bác Vật Vựng Biên Nghệ Thuật Điển ghi: "Giáp Tuất, Ất Hợi thì Tuất Hợi là cửa trời, Hỏa chiếu thiên môn, quang huy cực cao."
Sơn Đầu Hỏa chỉ thấy sáng rực mà không thấy lửa, cho nên tâm cơ thâm trầm. Ít ai hiểu; vui giận không lộ ra sắc diện; tài trí cao mà không cho người thấy được. Thành công tấn tốc như đám cháy rừng khi gặp vận.
Người Sơn Đầu Hỏa lúc gặp thời âm thầm làm việc không biết mệt; gặp thời rồi cũng không bao giờ lãng phí thời gian. Mệnh tốt, danh vọng sự nghiệp hơn người. Mệnh xấu cũng đắc lực, nhanh nhẹn để phục vụ thừa hành.
Giáp Tuất, Tuất là Thổ được Hỏa sinh. Ất Hợi, Hợi là Thủy bị Hỏa khắc. Giáp Tuất ứng phó với hung vận biến động linh hoạt hơn Ất Hợi.
Nạp Âm Thổ
Hành Thổ có sáu nạp âm phân thành: Bích Thượng Thổ, Thành Đầu Thổ, Sa Trung Thổ, Lộ Bàng Thổ, Đại Dịch Thổ, Ốc Thượng Thổ.
Bích Thượng Thổ
Sách Bác Vật Vựng Biên Nghệ Thuật Điển chép: "Canh Tí, Tân Sửu thì Sửu là chính vị của Thổ, mà Tí là đất vượng của Thủy. Thổ gặp Thủy biến thành bùn, cho nên gọi bằng Bích Thượng Thổ."
Bùn nhuyễn mềm muốn chát thành vách phải tựa vào kèo cột phên, thiếu chỗ tựa khó thành vách tường. Bởi thế người mang nạp âm Bích Thượng Thổ phải tựa vào người mà thành sự, làm quản lý, làm kẻ thừa hành tốt; đứng ngôi chủ dễ thất bại. Tuy nhiên cũng có những loại đất chất dính mạnh, phơi nắng trở thành cứng cáp, không phải dựa vào kèo cột cũng đứng vững được. Bởi thế người mang nạp âm Bích Thượng Thổ cần phải trải nhiều kinh lịch mới hay.
Vách để che gió, chắn mưa, cho nên tâm chất thường bao dong. Mệnh nhiều hung sát, đa nghi thủ đoạn mà mang nạp âm Bích Thượng Thổ dễ đưa đến sơ hở mà bị hại. Canh Tí, Tí Thủy bị Thổ khắc, khí thế nhược. Tân Sửu, Thổ vào chính vị, sức đề kháng cương mãnh.
Thành Đầu Thổ
Bác Vật Vựng Biên Nghệ Thuật Điển
viết: "Mậu Dần, Kỷ Mão hai thiên can đều là Thổ. Dần thuộc cấn sơn, Thổ tích thành núi cho nên gọi bằng "Thành Đầu Thổ"."
Quẻ Cấn trong kinh Dịch giải thích là núi (Cấn vi sơn). Mang nạp âm Thành Đầu Thổ, tính tình trung thực, chất phác, thích giúp người, trung thành nếu như mệnh số bình thường.
Mệnh số hội tụ cách cuộc tốt thì khí thế khác hẳn: núi chính là nơi của rồng nấp, cọp ở. Người này mang chí lớn với tâm chất sáng trực, xem thành bại làm thường tình. Thời loạn cũng như lúc bình đều có thể dùng vào vai trò lãnh đạo, gây cơ dựng nghiệp theo chiều hướng thiện.
Mậu Dần, Kỷ Mão thì Dần Mão đều thuộc Mộc, Mộc khắc Thổ, cho nên ở bình thời dễ nên công hơn loạn thế.
Sa Trung Thổ
Bác Vật Vựng Biên Nghệ Thuật Điển
ghi: "Bính Thìn, Đinh Tị, Thìn khố Tị tuyệt. Thiên can Bính Đinh đều thuộc Hỏa. Thổ vào tuyệt địa, đến chỗ ẩn tàng (khố) lại được Hỏa sinh, cho nên gọi bằng Sa Trung Thổ."
Thổ tới khố không phải cát của sa mạc mà là cát của đất phù sa, vì Thìn thuộc Thủy khố. Gặp sông nước đẩy đưa, tập trung tài bồi thành bãi thành bờ nhiều màu mỡ.
Sa Trung Thổ tùy sóng, tùy gió nên tính chất uyển chuyển, giỏi đầu cơ, lợi dụng thời thế. Khả năng hai mặt thiện ác, khi là rồng lúc thành rắn — anh hùng và gian hùng.
Bính Thìn, Thìn thuộc Thổ chính vị cho nên cứng rắn hơn. Đinh Tị, Tị thuộc Hỏa tiết thân mà sinh Thổ, nên nguyên khí giảm, không kiên trì bằng Bính Thìn.
Lộ Bàng Thổ
Bác Vật Vựng Biên Nghệ Thuật Điển
chép: "Canh Ngọ, Tân Mùi, Mộc trong Mùi sinh Hỏa của Ngọ. Hỏa vượng tạo hình cho Thổ, Thổ mới sinh chưa đủ sức để nuôi dưỡng vạn vật nên gọi bằng "Lộ Bàng Thổ"."
Hỏa vượng, Thổ thành hình, đất cứng, bởi vậy tâm chất quật cường mà quá nóng nảy; tâm tình chính trực nhưng lại không chín chắn để phân biệt cho rõ ràng thiện ác, thuận lợi hay không thuận lợi.
Lộ Bàng Thổ đất rộng, trải dài miên viễn, cần có Thủy cho đất hết khô để cây cỏ mọc. Lộ Bàng Thổ vào nghiên cứu, học vấn sẽ như chất Thủy tưới cho Thổ trở nên hữu dụng.
Lộ Bàng Thổ thiếu khả năng làm con người hành động để xoay chuyển thời thế, nên đứng vị thế một lý thuyết gia hay hơn. Canh Ngọ, Ngọ thuộc Hỏa, Hỏa sinh Thổ làm mất nguyên khí, sức đề kháng hung vận không bằng Tân Mùi, vì Mùi ở vào chính vị Thổ nên nhẫn nại, kiên trì hơn.
Đại Dịch Thổ
Sách Bác Vật Vựng Biên nói: "Mậu Thân, Kỷ Dậu thì Thân thuộc Khôn là đất. Dậu thuộc cung Đoài là đầm nước (trạch). Chữ "dịch" có một cửa chữ "trạch", thật ra phải gọi bằng Trạch Thổ."
Khôn là đất. Trạch là chỗ hồ ao đầm vũng có nước; sông đem nước đi khắp nơi, đầm ao là chỗ cá sinh sống thoải mái, màu mỡ, tích súc. Đại Dịch Thổ tự nó tích súc, đất rộng sông sâu.
Mệnh tốt mà nạp âm Đại Dịch Thổ thường làm được công lớn, ích lợi cho thiên hạ. Mệnh thường phù giúp các việc thiện, luôn luôn có thành tâm.
Mệnh nhiều hung sát mà cho cáng đáng những công tác nhân đạo chỉ đưa đến hỏng việc. Thân Dậu đều thuộc Kim, Thổ sinh Kim, nên Mậu Thân hay Kỷ Dậu đều có khả năng kiên trì, ít bối rối.
Ốc Thượng Thổ
Sách Bác Vật Vựng Biên ghi: "Bính Tuất, Đinh Hợi. Bính Đinh thuộc Hỏa. Tuất Hợi là cửa trời (thiên môn). Hỏa ở trên cao, dĩ nhiên đất không sinh dưới thấp, nên gọi bằng Ốc Thượng Thổ." Ốc Thượng Thổ là ngói lợp mái nhà để che sương, tuyết, mưa. Muốn thành ngói, Thổ cần chôn với nước lại đưa vào lò lửa luyện nung.
Người mang nạp âm Ốc Thượng Thổ dù số hay cũng phải trải thiên ma bách chiết để thoát thai hoán cốt mới thành công. Nếu đi con đường dễ thì cái thành công chỉ là thứ thành công chóng tàn, dễ vỡ, như hòn ngói chưa nung chín gặp mưa nhanh chóng nát ra.
Bính Tuất, Tuất thuộc Thổ chính vị, sức chiến đấu dẻo dai, cứng cỏi hơn. Đinh Hợi, vì Hợi thuộc Thủy, Thổ khắc Thủy, sức đề kháng không khỏe bằng Bính Tuất.
Nguồn: Tử Vi Tinh Điển – Vũ Tài Lục
