Bài tổng quan
Sao tình dục nặng tinh thần và các sao đơn thủ riêng cho nữ giới
Không phải sao ái tình nào cũng chỉ nhục dục thô ráp: Hoa Cái, Hồng Loan, Văn Xương Văn Khúc lại khoác lên mình sắc thái lãng mạn, văn chương. Nhưng ngay sau đó, khoa Lý số học lại dựng riêng một hệ thống sao chỉ dành cho phái nữ, khắt khe hơn hẳn phần đã dành cho đàn ông...
Nhóm sao vừa bàn ở trên nghiêng hẳn về nhục dục, thô mộc và trần trụi; nhưng bên cạnh đó, khoa Lý số học còn lập ra một nhóm sao khác cũng nói về ái tình, mà lại khoác tấm áo tinh thần, lãng mạn, thậm chí thấm chất văn chương. Và sau khi đi hết hai nhóm sao dùng chung cho cả nam lẫn nữ, tác giả sách rẽ sang một địa hạt riêng hơn: những bộ sao mà khoa Lý số học chỉ gán cho phái nữ, một sự thiên lệch đáng để ngẫm nghĩ.
Bước chuyển từ nhóm sao nhục dục sang nhóm sao tinh thần không phải là cú nhảy tùy tiện, mà phản chiếu đúng cách khoa Lý số học hiểu về con người: dục vọng không chỉ mang một gương mặt duy nhất là bản năng thô sơ, mà còn nhiều gương mặt khác, tinh tế hơn, ẩn dưới lớp áo của sự lãng mạn, của óc thẩm mỹ, của tài văn chương. Nhờ sự đa dạng ấy, bức tranh ái tình của khoa Lý số học trở nên đầy đặn và nhiều chiều, không đơn điệu như cái nhìn phiến diện thường gặp ở vài trước tác cùng thời.
Những sao tình dục thấm đậm ý nghĩa tinh thần
Hoa Cái biểu thị khát vọng tình ái, niềm thích được người khác phái để mắt và yêu mến, thú trêu ghẹo để đối phương phải mê mệt. Sao này hướng ngoại, tức là chủ ý thu hút tình yêu của người khác về phía mình hơn là trao tình yêu của mình cho họ. Hoa Cái hiện ra qua nhiều hình thái cụ thể: thích trưng diện, ưa xa hoa lộng lẫy để có vẻ ngoài đài các, sang trọng, quyến rũ, từ đó sinh khuynh hướng làm dáng, nhịn ăn để giữ nhan sắc, tập thể dục thẩm mỹ, dự thi hoa hậu; chăm chút dung nhan, xức nước hoa để kéo sự chú ý bằng sắc đẹp, hương thơm, áo mới, son lạ. Ngoài ra còn có lối làm điệu trong cử chỉ, từ ánh nhìn, cái liếc cho đến dáng đi, đứng, ngồi, nằm; trong ngôn ngữ, từ lời văn bóng bẩy, duyên dáng, dí dỏm đến giọng nói uốn éo, sửa giọng, đôi khi thiếu tự nhiên, thậm chí lố bịch. Cuối cùng là thói chuộng cái mới trong xã hội, chạy theo nếp sống tiến bộ, văn minh, từ trang phục, kiểu tóc đến thú giải trí. Mọi hình thái ấy đều nhằm hút ái tình hoặc tự quảng bá bản thân, ít nhiều mang dụng ý tình yêu. Điều đáng để ý là Hoa Cái không buộc đương số phải chủ động đuổi theo ai; trái lại, người mang sao này thường ngồi yên một chỗ, trau chuốt bản thân để tự nhiên thành tâm điểm, chờ người khác tìm đến. Đó là một nét tâm lý tinh tế mà khoa Lý số học đã nắm bắt từ rất sớm, phân biệt kẻ chủ động chinh phục như Đào Hoa với kẻ thụ động chờ được chinh phục như Hoa Cái.
Hồng Loan hay bị nhiều người đánh đồng với Đào Hoa, song thật ra có chỗ khác biệt ít nhiều. Hồng Loan chỉ một loại ái tình tương đối có nết hạnh hơn. Đào Hoa nói về sức hút nhờ nhan sắc bên ngoài, còn Hồng Loan chủ yếu chỉ vẻ quyến rũ xuất phát từ đức tính bên trong. Nghĩa của Hồng Loan là sự khéo tay, khéo lời, khéo dáng điệu, tức những nét duyên về công, dung, ngôn. Cái đáng yêu của Hồng Loan bắt nguồn từ các đức tính hướng nội, từ nết hạnh, cho nên sao này ít xu hướng sa đọa hơn hẳn Đào Hoa, dù cả hai đều có sức hấp dẫn ái tình rất mạnh. Nếu ví Đào Hoa như đóa hoa phô hết sắc màu ngay từ cái nhìn đầu, thì Hồng Loan giống làn hương kín đáo, phải gần gũi và tiếp xúc lâu mới cảm được trọn vẹn nét quyến rũ. Bởi vậy dân gian vẫn tin rằng phụ nữ mang Hồng Loan dễ có hôn nhân bền vững hơn phụ nữ mang Đào Hoa, mặc dù cả hai đều không thiếu người theo đuổi.
Ở Văn Xương, Văn Khúc, sắc dâm đãng không hiện ra trực tiếp. Cốt lõi của đôi sao này là hồn văn chương mỹ thuật, mọc lên từ tài năng trời cho về nhạc, nghệ, thơ. Tuy vậy, bàn về chuyện tình cảm thì kẻ có Xương, Khúc lại đa tình bậc nhất: lòng giàu rung cảm, dễ xúc động, vừa dễ nhận vừa dễ gửi đi tình ý, tức là tâm hồn của thi nhân, của nghệ sĩ và của đàn bà nói chung. Kho tình cảm dồi dào đó cấu thành một tâm hồn lãng mạn, lộ ra bằng nhiều nẻo: tính nhạy cảm, chóng vui chóng buồn chóng giận; những giấc mộng bù cho phần tình cảm quá đầy mà đời thực không lấp nổi, làm nội tâm thêm giàu vì cảm xúc luôn đi đôi với tưởng tượng; việc tỏ bày, chuyển tình ý vào thơ, văn, ca, nhạc, kịch; và cái tôi trỗi dậy mạnh mẽ. Chính chất lãng mạn này làm nên nghĩa tình tứ, lả lơi, hoa nguyệt, song thường thiên về tinh thần hơn là vật chất.
Với Thái Âm, điều được nói tới là duyên phận, tình nghĩa và sự đa tình, ứng vào những người lấy tình cảm làm gốc cho cả lý lẽ lẫn hành vi. Giống Văn Xương, Văn Khúc, Thái Âm thuộc về văn sĩ, thi sĩ, về tâm hồn đàn bà, và bộc lộ qua nhiều dạng: chất lãng mạn; thói tỏ nỗi riêng tư bằng lời nói hoặc thi văn của giới nghệ sĩ lãng mạn; những mộng mị viển vông, ảo tưởng, xa rời thực tế; cuối cùng là chuyện tình dục, tình tứ, có thể trượt đến dâm đãng khi hãm địa, lúc đó nghĩa lộ rõ hơn nhiều so với thế đắc địa. Cũng nên nhớ Thái Âm là chủ tinh của đêm và của vầng trăng, vì thế nghĩa mộng mơ, lãng mạn của sao dính với hình ảnh đêm khuya thanh vắng, khi lòng người dễ chùng xuống và để cảm xúc lấn át lý trí. Bởi vậy Thái Âm luôn được xếp cùng Văn Xương, Văn Khúc, những sao mang khí chất nữ tính, tinh tế, trái hẳn sự thẳng thừng của võ tinh.
Như đã nói, việc tách hai mặt thể xác và tinh thần của tình dục không hàm ý hai bên đối nghịch nhau tuyệt đối về bản chất, mà chỉ khác ở mức độ và dạng thức biểu hiện. Thiên Riêu, Thai, Tham Lang, Mộc Dục, Đào Hoa mang tính dâm đãng nghiêng về thể xác. Còn Hoa Cái, Hồng Loan, Văn Xương, Văn Khúc, Thái Âm chưa chắc chỉ dừng ở sắc dâm nơi tinh thần hay tình cảm; hễ hai nhóm cùng hội chiếu thì nghĩa mạnh lên và hình thái thêm muôn vẻ. Cách chia này chỉ nhằm cho thấy khoa Lý số học quan niệm về ái ân rất sung túc, tinh vi, vẽ ra hầu hết dạng thức và khuynh hướng yêu đương của con người. Nhờ phân biệt kỹ lưỡng, việc luận đoán mới trở nên sâu sắc, tế nhị và cụ thể, vượt xa một cái nhìn đơn giản, một chiều. Người học số vì thế không nên vội gộp mọi sao tình ái vào một rổ, mà phải biết sao nào nghiêng về thân xác, sao nào nghiêng về tâm hồn, và chỗ nào hai dòng ấy gặp nhau để hòa vào thành một sắc thái chung.
Thử nghĩ tới hai người cùng mang danh đa tình: một người có Tham Lang hãm địa, một người có Văn Xương Văn Khúc gặp Thái Âm. Nếu chỉ gọi chung là "đa tình", người luận số sẽ bỏ lỡ chỗ khác căn bản: người trước dễ sa vào các mối quan hệ chớp nhoáng, chuộng thỏa mãn bản năng; người sau dễ đắm trong những xao động tinh thần kéo dài, chuộng mộng mơ và văn chương hơn hành động cụ thể. Một chữ đa tình nhưng hệ quả đến đời sống, hôn nhân và các quan hệ xã hội thì khác xa nhau. Giá trị thực tiễn của việc chia nhóm nhục dục với nhóm tinh thần nằm ở đó: người luận số có được công cụ để nhìn ra bản chất thật sau một cái nhãn mơ hồ.
Những sao tình dục dành riêng cho phái nữ
Hầu như Chính Tinh nào rơi vào thế hãm cũng để lại âm hưởng tình dục ở phái nữ, còn với đàn ông thì ý nghĩa tương tự gần như chẳng được đả động. Tình dục của nữ giới bị những người dựng nên khoa Lý số học mổ xẻ khá tường tận: nhiều bộ sao được lập ra chỉ để tả nét dâm và dạng tình dục riêng của đàn bà, khiến người đọc dễ cho rằng khoa này nghiệt ngã với phụ nữ, đo nết tính họ bằng một nhãn quan miệt thị.
Đây hẳn là một thiên kiến của khoa Lý số học, vì về phương diện tình dục, hai phái chưa chắc đã hơn kém nhau rõ rệt như lối nghĩ xưa ngấm ngầm mặc định. Chẳng có lý do gì phải đặt sinh lý đàn bà dưới kính hiển vi, còn nết tình dục đàn ông chỉ được nói lướt, rộng lượng. Suy cho cùng, thái độ kỳ thị ấy phản chiếu tư tưởng coi thường nữ giới đã ăn sâu trong văn hóa Trung Hoa ngày trước. Hi Di, người khai sáng khoa Lý số học, dẫu là đạo sĩ, vẫn chưa rũ hết cái quan niệm để riêng cho nam giới quyền phán xét chuyện sinh lý của phụ nữ, cả phương diện con người lẫn đạo đức.
Xét theo hướng khác, sự lệch cán cân này còn có thể là bóng dáng của xã hội thời ấy: khi gia đình cho phép đàn ông năm thê bảy thiếp mà đàn bà chỉ được chung thủy với một người chồng, thì mọi biểu hiện trái khuôn ở người nữ đều bị soi xét gắt gao hơn nhiều so với cùng việc ở người nam. Khoa Lý số học, dù đã tiến xa khi nhìn nhận tình dục là động lực chính đáng của con người, vẫn không bứt khỏi khuôn khổ xã hội đã sinh ra nó. Vì thế Hi Di đặt ra rất nhiều bộ sao tình dục dành riêng cho phái nữ, được kể ngay dưới đây.
Sao đơn thủ
Cự Môn hãm địa: nhiều tác giả ghi nhận sao này mang nhiều nghĩa dâm đãng khi đóng ở cung Mệnh, cung Thân của nữ số. Nhưng thực ra, sao này hiếm khi mang nghĩa ấy một cách trực tiếp. Cự Môn hãm địa chỉ tâm trạng bất mãn nói chung, chứ không nhất thiết là bất mãn về sinh lý. Nữ số có Cự Môn hãm địa có thể gặp nhiều ngang trái trong đời, nhưng không vì thế mà nhất định dâm đãng; xét cho kỹ, vấn đề này có lẽ cần được xem lại thận trọng hơn. Đây cũng là ví dụ điển hình cho thấy chính khoa Lý số học, qua ngòi bút người biên soạn đời sau, tự phản biện một số kiến giải cũ đã thành thông lệ mà thiếu căn cứ vững, một thái độ phê phán đáng ghi nhận, hiếm thấy trong các sách thuật số truyền thống.
Hỏa Tinh, Linh Tinh hãm địa: khuynh hướng sinh lý của đôi sao này mang một dạng khá riêng, nghiêng về tiềm thức hơn là hành động, cụ thể là mộng thấy chuyện yêu đương, tức được thỏa mãn trong giấc chiêm bao chứ không phải giữa đời thực.
Thiên Không ở cung Mệnh: riêng trường hợp nữ số có Thiên Không tọa Mệnh, Hi Di, người lập khoa Lý số học, phán rất chắc tay. Ông xem đó là kẻ dâm tiện, trọn đời vướng ách gió trăng, thuộc hạng ca kỹ, tì thiếp lẳng loàn, một lời phán nặng nề và có phần gay gắt, đặt cạnh cái nhìn chung rộng lượng hơn mà nam giới nhận được ở những trường hợp tương tự.
Ngoảnh lại ba trường hợp sao đơn thủ trên, ta thấy sức quả quyết của khoa Lý số học lên xuống không đều: ở Cự Môn hãm địa, chính người viết sách còn nghi ngại và đặt lại câu hỏi; ở Hỏa Linh hãm địa, nghĩa chỉ dừng nơi tiềm thức, giấc mơ, chưa phải hành vi thực; tới Thiên Không tại Mệnh thì lời phán bỗng dứt khoát và nặng hơn hẳn. Độ chênh ấy cho thấy ngay trong nhóm sao đơn thủ, mức tin cậy lẫn mức khắt khe đều không đồng nhất, buộc người luận số phải cân nhắc từng ca cụ thể thay vì áp dụng một khuôn cho tất cả. Đọc sách mà không phân biệt được chỗ nào tác giả nói chắc, chỗ nào chỉ nói dè dặt, thì rất dễ biến một gợi ý thành một bản án, và đó là điều người nghiên cứu lý học cần tránh nhất khi đứng trước lá số của một người phụ nữ.
Nguồn: Hi Di Trần Đoàn với nền văn hóa Trung Hoa đời Tống (Dương Thành biên soạn)
