Bài tổng quan
Người nữ tuổi Tuất, tuổi Hợi: thơ đoán vận và phụ giải
Người đàn bà tuổi Quý Hợi lanh lợi như đàn ông, miệng nói dữ mà lòng hiền, nhưng lại lỡ dở duyên đầu. Cô tuổi Giáp Tuất nếu sinh lỗi mùa thì được dặn giữ đức cho tốt, vì kinh xưa có câu về cái đức. Câu ấy nói gì?
Mục lục · 2 phần
Nữ mạng tuổi Tuất
Tuổi Tuất theo sau tuổi Dậu. Sách vẫn ghi mỗi tuổi theo thứ tự cũ: năm sinh, cung, nạp âm, xương, tướng tinh, vị thần độ mạng, thơ đoán vận và đoạn phụ giải tổng quát. Mùa sinh, ban ngày hay ban đêm vẫn là thước đo thuận số hay lỗi số của từng cô.
Canh Tuất
Sinh các năm 1910 đến 1970 và 2030. Cung Khảm, mạng Thoa xuyến Kim là chiếc xuyến bằng vàng. Xương con chó, tướng tinh con cáo. Bà Chúa Tiên độ mạng. Thơ mở đầu: đoán xem số mạng tuổi này, mạng Kim thoa xuyến là vàng đeo tay. Mùa thu sinh ra thì sang, gặp may, như cây gặp nước, như cua đủ càng. Mùa hạ thì Hỏa khắc, chẳng yên; đông xuân cũng lỗi, khiến nàng cực thân. Giá mà tuổi Tuất chẳng hiền thì gặp chồng mạng nhỏ cũng phải đành nhịn ngay. Canh Tuất số gái chẳng yên; lỗi sinh thì tiền bạc khó giữ, khi ăn chẳng hết, lúc cần chẳng ra. Số người hậu vận lao đao, không bằng vận giữa, là lúc như tiên giáng trần.
Phụ giải: số gái tuổi mang chữ Canh thì phần đông có nhiều chồng; gái can Mậu cũng thế, khó ở yên một chồng. Nhưng tuổi và mạng hạp nhau nên cao số. Số này trung vận tốt hơn hậu vận. Cô nào sinh vào mùa thu và mùa đông là thuận, sau này sung sướng, có chồng giàu sang, có địa vị, kẻ hầu người hạ, ăn trên ngồi trước. Nhân duyên thì đa đoan, phải ba lần thay đổi mới nên gia đình. Số thọ đến 67 tuổi; phải lo tích đức thì phước lại tăng.
Nhâm Tuất
Sinh các năm 1922 đến 1982 và 2042. Cung Đoài, mạng Đại hải Thủy là nước biển lớn. Xương con chó, tướng tinh con chim trĩ. Bà Cửu Huyền Thiên Nữ độ mạng. Thơ nói Nhâm Tuất mạng Thủy, nước ở biển lớn chảy hoài chẳng thôi. Tuổi này hạp số thu đông, ấy là mùa vượng phát, ở không cũng ăn hoài. Lỗi sinh vào các tháng Tuất, Sửu, Thìn, Mùi; sáu tháng Dần, Mẹo thì đắng cay vô ngần. Số này bị nạn nhiều lần, cũng may nhờ Phật Trời độ qua. Số nàng phải giữ gìn, kiêng cữ, sợ e gặp nạn có tật nguyền, chẳng sai. Vô phần chơi với bạn bè; thương người, giúp người thì số người phần ta. Tiền vận phải chịu lênh đênh, nhà cửa tuy có mà cũng tiêu. Hậu vận mới được tụ tài, lập nên cơ nghiệp bền lâu.
Phụ giải: số tuổi Nhâm Tuất phải coi chừng tránh vấp té mà mang tật nguyền. Cô nào sinh vào mùa thu và mùa đông thì thuận; nhằm ban ngày thì lại càng trọn tốt, còn ai sinh nhằm ban đêm thì vất vả, ấy là lỗi số. Vốn thật thà mà có đôi khi phải chịu thiệt thòi; không có phần chơi với bạn bè. Tiền vận vất vả lao đao, hậu vận mới yên cơ nghiệp.
Bính Tuất
Sinh các năm 1946 đến 2006 và 2066. Cung Cấn, mạng Ốc thượng Thổ là đất tổ tò vò. Xương con chó, tướng tinh con trâu. Bà Chúa Ngọc độ mạng. Thơ nói Bính Tuất mạng Thổ, tìm thấy ở nóc nhà mà ra. Thuận sinh mùa hạ thì sang, gái sung sướng thanh nhàn, lo chi. Mùa xuân là lỗi số, khổ bần; thu đông cũng lỗi, lắm lần gian nan. Lỗi sinh thì cực nhọc, thở than; thuận sinh thì phú quý, vinh sang hơn người. Số có lòng tốt, ngay thẳng; rủi gặp tai nạn thì nhờ thần độ cho. Đàn bà can Bính, người nào cũng quý, cũng sang, không hèn. Số nàng lắm kẻ mến thương. Thơ còn có câu: thang mấy bước tới hang thông có ngày. Hạn xưa còn khó nhọc, đến chừng bốn mươi bốn tuổi mới nên.
Phụ giải: số người tuổi Bính Tuất phần đông là người cao sang; dù nghèo khó cũng không đến nỗi bần tiện. Số gái có chồng giàu sang, có địa vị, mọi người mến thương. Sách chép nếu sinh vào mùa hạ và nhằm ban ngày thì lỗi số, phải chịu lận đận lúc thiếu thời. Số lập nghiệp giàu có phải từ 44 tuổi trở đi, đến lúc ấy giàu sang tột đỉnh. Số có căn tu nên dùng trai lạt mỗi tháng sáu hoặc mười ngày thì tốt.
Giáp Tuất
Sinh các năm 1934 đến 1994 và 2054. Cung Cấn, mạng Sơn đầu Hỏa là lửa trên núi. Xương con chó, tướng tinh con ngựa. Bà Cửu Huyền Thiên Nữ độ mạng. Thơ nói Giáp Tuất mạng Hỏa, lửa ở đầu núi sáng trưng, rõ ràng. Thuận sinh vào mùa hạ mùa xuân thì giàu nghèo cũng sướng, buồn lo làm chi. Số gái sinh được hợp thời thì làm ăn có của, chồng giàu, vinh sang. Lỗi sinh, ăn ở ác, trật giờ thì cuộc đời như nắm bèo trôi đi. Tuổi sinh thuở nhỏ chẳng yên, bệnh tật đau ốm liên miên tháng ngày. Số này lại khắc cha mẹ: đi xa thì thương nhớ, ở gần thì ốm đau. Xét qua trang sử lương duyên, ngựa, trâu, rồng, hổ kết duyên mới thành. Tuổi nhỏ và hậu vận gian nan; trở về lứa tuổi lớn mới mong thanh nhàn.
Phụ giải: số đàn bà tuổi Giáp Tuất, số và mạng hạp nhau nên được tương sinh. Nếu thuận sinh vào mùa thu và mùa đông thì có số giàu sang phú quý. Còn ai sinh nhằm vào mùa hạ và mùa xuân thì số cực khổ, lúc nhỏ khó nuôi, phải chịu đau ốm bệnh tật liên miên, lớn lên vất vả gian truân. Nếu cô nào sinh vào mùa lỗi số thì nên giữ âm đức cho tốt, hầu mong lấy cái đức mà thắng số trời vậy. Sách kinh có câu: đức năng thắng số, là đúng chứ chẳng sai.
Mậu Tuất
Sinh các năm 1958 đến 2018 và 2078. Cung Tốn, mạng Bình địa Mộc là cây mọc trên đất bằng. Xương con chó, tướng tinh con vượn. Phật Bà Quan Âm độ mạng. Thơ mở đầu: đoán xem số mạng tuổi này, mạng Mộc, bình địa là cây đất bằng. Gái sinh nghiệp số hạ thu thì thanh nhàn sung sướng, ít ai dám sánh. Có lúc tai nạn hiểm nguy, thế mà Phật độ được qua. Buổi đầu tai nạn lôi thôi, nhà cửa nhiều lớp, có nhiều cũng tiêu. Vợ chồng khắc khẩu, cãi hoài, thế mà con cái đầy đàn, phải lo. Nữ nhân ít kẻ hiền lương; gặp chồng mạng nhỏ thì cầm quyền ngay. Số gái tính cũng như trai: giận ai thì muốn xé, nuốt tươi mới mừng. Có tính khẳng khái đảm đương, thấy mạnh hiếp yếu thì thương mà nhảy vào.
Phụ giải: số gái sinh nhằm can Mậu thì có phần khổ hơn các can khác; người nào sinh thuận vào mùa đông và mùa xuân thì được phú quý. Còn ngoài ra thì dù có tiền của giàu có cũng phải cực thân, nhưng phải sinh nhằm ban ngày thì trọn tốt; số người được hưởng của trời cho, tức Thiên, Lộc, Tấn, trọn đời vinh hoa phú quý. Số này phải chịu xa quê nhà mới lập nghiệp được; có chồng phải là người quen nhau trước rồi cưới nhau thì ăn ở mới hòa hợp.
Nữ mạng tuổi Hợi
Tuổi Hợi là tuổi cuối của vòng mười hai con giáp, và là tuổi cuối của phần nữ mạng trong sách. Mỗi cô vẫn được ghi theo thứ tự cũ: năm sinh, cung, nạp âm, xương, tướng tinh, vị thần độ mạng, thơ đoán vận và đoạn phụ giải tổng quát. Mùa sinh, ban ngày hay ban đêm vẫn là thước đo thuận số hay lỗi số.
Quý Hợi
Sinh các năm 1923 đến 1983 và 2043. Cung Cấn, mạng Đại hải Thủy là nước biển lớn. Xương con heo, tướng tinh con gà. Bà Cửu Huyền Thiên Nữ độ mạng. Thơ nói Quý Hợi cung Cấn, mạng Thủy, nước biển chảy tràn vào sông. Số gái sinh thuận thu đông thì thanh nhàn sung sướng, ít ai sánh bằng. Xuân hạ là lỗi số nàng, giàu nghèo cũng cực thân thảm thương. Tưởng đã chết hụt, chết oan, cũng nhờ mạng lớn mà khỏi mang tật nguyền. Có chồng cũng kể như không, vì đâu nên nỗi thừa đắng cay. Anh em xung khắc chẳng hòa, ở gần gây gổ, đi xa thì buồn. Miệng thì nói dữ mà lòng hiền; biết người phần phúc ít thì có tiền cũng đưa cho. Trung niên tài lộc có thừa, thế mà hậu vận lại hưởng phần giàu sang.
Phụ giải: số tuổi Quý Hợi, đàn bà mà lanh lợi như đàn ông, giàu lòng vị tha, không oán thù ai; tuy miệng nói dữ nhưng lòng hiền hậu. Nhưng số lỡ dở duyên đầu, có chồng phải là người đã có vợ rồi chứ không phải là con trai. Nếu sinh vào mùa thu hay mùa đông thì làm ăn phát đạt khá giả. Số người rất sang quý. Sinh vào mùa hạ và mùa xuân, nhằm ban đêm, là lỗi số. Hậu vận mới an cư lạc nghiệp, sung sướng an nhàn.
Tân Hợi
Sinh các năm 1911 đến 1971 và 2031. Cung Khôn, mạng Thoa xuyến Kim là chiếc xuyến bằng vàng. Xương con heo, tướng tinh con cọp. Bà Chúa Tiên độ mạng. Thơ mở đầu: đoán xem số mạng tuổi này, mạng Kim thoa xuyến là vàng đeo tay. Mùa thu là thuận số nàng, đều được sung sướng, an nhàn tấm thân. Mùa hạ thì bị lỗi thời; đông xuân cũng cực, làm giàu chẳng nên. Anh em xung khắc chẳng gần: ở xa thương nhớ, lại gần thì xung khắc. Giận ai nói dữ nói hung mà lòng chẳng giận, vậy giận ai bây giờ. Số này là gái thật thà, vì trời phú tặng nên nàng dễ thương. Số nàng cách trở nợ duyên: trước thì có của, nhiều lần rã tan; trung niên vất vả gian nan; kể từ hậu vận thì an vui thanh nhàn.
Phụ giải: số gái tuổi Tân Hợi phần đông giàu hay nghèo cũng sướng thân, ít có cơ cực bần hàn. Nếu sinh nhằm mùa thu hay ban đêm thì là thuận số, sau đó của cải tài lộc về, có chồng giàu sang, lại được cầm quyền, quán xuyến gia đình; số và mạng được tương sinh tốt cho nên cao số. Người tuổi này nết na, đoan chính, hiền lương; tuy vậy lúc nhỏ cũng phải chịu vất vả. Lập nên cơ nghiệp sớm, từ 32 tuổi đã tụ tài.
Đinh Hợi
Sinh các năm 1947 đến 2007 và 2067. Cung Cấn, mạng Ốc thượng Thổ là đất tổ tò vò. Xương con heo, tướng tinh con dơi. Bà Chúa Ngọc độ mạng. Thơ nói Đinh Hợi cung Cấn, số nàng như đất ở dưới thấp mà leo lên nóc nhà. Số sinh mùa hạ thì thuận mùa, gái thì tốt số. Thổ vượng ở bốn tháng tứ quý, lo chi: tháng chín, tháng chạp, không thì tháng ba. Mùa xuân Mộc khắc, khô khan; thu đông lỗi số, sinh ra cực hoài. Đinh Hợi số gái tài hay, hiền lành ngay thẳng, ít ai bạo tàn. Số người tính nết đoan trang. Họ hàng cốt nhục ai mà chẳng thương. Số nàng sang quý tự nhiên, vận sau sẽ thấy có duyên phú hào. Tuổi xanh cho đến lúc tuổi cao, tự mình lập thân, biết bao tủi hờn.
Phụ giải: số đàn bà tuổi Đinh Hợi mặc dù tính đoan trang, song về tình duyên thì phải chịu đa đoan. Người phú quý giàu sang cũng tự mình dựng nên cơ nghiệp, chứ chẳng ai giúp đỡ. Số này thuận sinh phải là ban đêm thì được phú quý; còn sinh nhằm ban ngày thì phải chịu gian lao khổ cực, thay đổi tình duyên. Số được quý nhân phù trợ. Số thọ đến 73 tuổi; về sau nhờ con gái hơn con trai.
Kỷ Hợi
Sinh các năm 1959 đến 2019 và 2079. Cung Cấn, mạng Bình địa Mộc là cây mọc trên đất bằng. Xương con heo, tướng tinh con trâu. Phật Bà Quan Âm độ mạng. Thơ nói Kỷ Hợi cung Cấn, mạng Mộc, bình địa là cây đất bằng. Đông xuân sinh được thời sang; hai mùa thuận số, có căn, thanh nhàn. Hạ thu sinh gái là lỗi số, thiếp đành cực thân. Thuận sinh thì gái sướng hơn trai, giàu cũng thong thả, guốc dày. Gái có tính hiền lương, thấy ai nghèo khó thì thương, giúp liền. Số phải niệm Phật ăn chay, lòng ở nhân đức thì có ngày làm nên. Số người ăn trước ngồi trên, chức cao tước trọng, người bề trên giúp mình.
Phụ giải: số tuổi Kỷ Hợi này là người đàn bà cao số, làm việc gì cũng có quý nhân giúp đỡ. Nếu sinh thuận vào ban ngày, mà mùa đông và mùa xuân, thì hạp mùa, người có chân tử, như sách chép. Về chồng vợ thì có phần trắc trở; tính người hiền lương, ăn ở có đức độ, cho nên không đến nỗi nào. Vận trước lận đận gian lao, chưa được tụ tài. Vận sau mới khá, từ 40 tuổi trở đi thì được giàu sang phú quý, ít ai sánh bằng.
Ất Hợi
Sinh các năm 1935 đến 1995 và 2055. Cung Đoài, mạng Sơn đầu Hỏa là lửa trên núi. Xương con heo, tướng tinh con hươu. Bà Cửu Huyền Thiên Nữ độ mạng. Thơ mở đầu: đoán xem số mạng tuổi này, lửa ở đầu núi tỏa bay khắp trời. Mùa hạ sinh được hạp thời, là số sung sướng, có trời giúp cho. Ất Hợi mạng Hỏa nhưng hiền, lòng dạ chẳng chấp, nói rồi bỏ qua. Số nàng xung khắc anh em, chẳng nhờ, chẳng cậy, ai làm nấy ăn. Thuở nhỏ chìm nổi lênh đênh, sau nhờ bền chí lập nên gia đình. Tuổi muộn giàu có, yên thân; sớm lập gia thất thì nhiều lần chẳng nên. Số tuổi hai mươi bốn mới là lập nên chồng vợ, cuộc đời an vui. Bốn mươi tuổi sắp tới trở lên, làm ăn có của, vững bền được lâu.
Phụ giải: số tuổi Ất Hợi, nếu cô nào có gia đình trước hai mươi tuổi thì khó mà ở đời được. Nếu sinh mùa hạ hay mùa xuân mà ban đêm, chịu đựng mọi vất vả, kể từ bốn mươi tuổi trở đi thì mới mong giàu sang. Số này khuyên nên cữ ăn thịt chó, mèo, rùa, ngựa, vì số có căn tu, nên dùng trai lạt thì tốt.
Nguồn: Bửu Sơn, Tử Vi Tướng Pháp Trọn Đời.
