Chuyển đến nội dung chính
Quay lại 60 Hoa Giáp

Bài tổng quan

Người nữ tuổi Thìn, tuổi Tỵ: thơ đoán vận và phụ giải

Tử Vi Nam Phái - 60 Hoa Giáp30/09/202612 phút đọc4 lượt đọc
Người nữ tuổi Thìn, tuổi Tỵ: thơ đoán vận và phụ giải

Con rồng và con rắn kề nhau trên vòng mười hai con giáp, và cả hai tuổi đều có những cô gái vừa cứng cỏi vừa nhiều duyên nợ đa đoan. Bài thơ nói có người thấy chết trước mặt rồi cũng qua, có người tay trắng làm nên cơ nghiệp. Nhưng ai gặp được người che chở ấy?


Nữ mạng tuổi Thìn

Sau tuổi Mẹo, sách đến tuổi Thìn. Mỗi tuổi có phần đầu ghi năm sinh, cung, nạp âm, xương, tướng tinh và vị nữ thần độ mạng, rồi bài thơ đoán vận mạng và đoạn phụ giải tổng quát.

Nhâm Thìn

Sinh các năm 1952 đến 2012 và 2072. Cung Khảm, mạng Trường lưu Thủy là nước chảy dài. Xương con rồng, tướng tinh con chó sói. Bà Cửu Huyền Thiên Nữ độ mạng. Thơ nói mạng Thủy như nước chảy chẳng hề ngưng tuôn. Lỗi sinh vào xuân hạ thì phải buồn, có khi mệt trí suốt đêm ngày; thu đông sinh đặng thời may. Phận nữ nhân là gái chẳng chịu lụy ai, tới đâu cũng thân với bề trên. Anh em xung khắc chẳng nên ở gần. Vợ chồng không phải chỉ một lần, đôi dòng ba thứ là do số ta. Phải ly hương, rời tổ quán ông bà, lập nghiệp xứ xa thì cửa nhà mới an.

Phụ giải: tuổi Nhâm Thìn số người phải cực về thể xác, dù giàu có cũng thế. Chỉ người nào sinh thuận vào mùa thu và mùa đông thì mới sung sướng, có chồng giàu có quý trọng, nhưng phải sinh ban ngày mới trọn tốt. Tính người khẳng khái cương trực, chẳng chịu bợ đỡ kẻ có thế lực. Tuổi này từ bốn mươi bốn tuổi trở đi mới chắc tụ tài. Số tay trắng làm nên sự nghiệp, anh em chẳng thuận hòa, chỉ nhờ người dưng mà tạo nên sự nghiệp. Số có căn tu thọ đến 79 tuổi.

Giáp Thìn

Sinh các năm 1904 đến 1964 và 2024. Cung Tốn, mạng Phúc đăng Hỏa là lửa đèn nhỏ. Xương con rồng, tướng tinh con rắn. Bà Cửu Thiên Huyền Nữ độ mạng. Thơ nói mạng Hỏa như lò lửa quanh ngọn đèn. Ở đoạn này thơ chép thu đông sinh thì khổ hèn, xuân hạ sinh thuận như đèn sáng trưng; nhưng đoạn phụ giải bên dưới lại nói sinh thuận thu đông thì phú quý, sách chép như vậy nên thuật đúng như in. Con gái sinh thuận thì gặp chồng mạng nhỏ, chịu nhường ngay từ đầu. Giáp Thìn mạng Hỏa, tuổi và mạng cùng hợp hòa tương sinh. Có duyên, vui vẻ hiền lành, tính điềm tĩnh không hay gian tà. Duyên nợ bền lâu, vợ chồng con cái an hòa gia môn. Số có tu niệm thì sống lâu, hưởng phước triền miên tuổi già.

Phụ giải: số tuổi Giáp Thìn nếu sinh thuận vào mùa thu và mùa đông thì được phú quý, có chồng giàu sang. Tuổi và mạng tương hạp, đàn bà con gái tuổi Giáp Thìn không giàu thì cũng có tướng sang, sống trường thọ. Con người có số đào hoa nên được nhiều ong bướm ve vãn. Số có tài lộc, từ trung vận đã làm nên sự nghiệp lớn, về hậu vận tiền bạc dư dả, con cháu đông đủ, con người phúc hậu, được ơn trên che chở; có tai nạn thấy chết trước mặt rồi cũng qua. Vợ chồng hòa thuận, sống đầy đủ hạnh phúc.

Bính Thìn

Sinh các năm 1916 đến 1976 và 2036. Cung Khảm, mạng Sa trung Thổ là đất pha cát. Xương con rồng, tướng tinh con chuột. Bà Chúa Ngọc độ mạng. Thơ nói Bính Thìn cung Khảm, mạng Thổ là cát trắng, thật chẳng sai. Sinh mùa hạ được thời may, giàu nghèo cũng có giày guốc, ăn trên ngồi trước; mùa xuân sinh sai thì khổ, rất cực nhọc chẳng màng tấm thân. Anh em cũng chẳng gần, tình đầu trắc trở bởi nỗi sầu lương duyên. Về sau nhờ phước lộc trời, cửa nhà yên ổn, gia môn phát tài. Trung vận còn phải bôn ba, trở về cuối vận mới hiển vinh. Nếu nàng tích đức tu thân thì về sau con cháu muôn phần nhẹ lo.

Phụ giải: số gái sinh nhằm mùa hạ là thuận số, dù giàu hay nghèo cũng được ăn trên ngồi trước; sinh nhằm ban ngày thì càng hợp hơn. Tính người hiền hậu, trí tuệ thông minh, không bao giờ phản bội ai, dù ai có quấy cũng sẵn sàng tha thứ. Tuổi nhỏ thường gặp cảnh gian truân khổ cực, từ trung vận mới tụ tài, gia đạo an hòa, có quý nhân phù trợ, dịp may thường đưa đến, có của hoạnh tài. Thọ đến 79 tuổi.

Canh Thìn

Sinh các năm 1940 đến 2000 và 2060. Cung Chấn, mạng Bạch lạp Kim, sách chú là chân đèn bằng vàng. Xương con rồng, tướng tinh con lạc đà. Bà Chúa Tiên độ mạng. Thơ nói Canh Thìn cung Chấn mạng Kim, như vàng trong sáp trắng, đi tìm khó ra. Sinh mùa thu mới là được; số sinh tháng Sáu, tháng Ba cũng được mùa. Đông xuân cũng chẳng ăn thua; Tỵ, Ngọ, Hỏa khắc như cua gãy càng. Tuổi nàng lập nghiệp xứ xa, cô bác có của thì ta chẳng nhờ được. Chữ Canh chữ Mậu là số cơ bần, ấy là lỗi số nên nàng khổ thân. Có người sung sướng an nhàn vì là thuận số sinh nhằm ban đêm. Ba mươi tuổi có của có tiền mà chẳng giữ được bền, rã tan. Gần bốn mươi tuổi mới sang, giàu sang đến lúc mới hanh thông.

Phụ giải: tuổi Canh Thìn nếu thuận sinh vào ban đêm thì số người được sang quý; sinh vào mùa thu và mùa đông thì mới trọn tốt. Còn nếu sinh nhằm mùa xuân, mùa hạ thì lại là lỗi số, phải chịu vất vả gian nan. Số này tuổi ba mươi cầm của chưa được, khoảng từ ba mươi tám trở đi thì giàu có lớn, số thọ và cao, về sau vinh hiển tột đỉnh.

Mậu Thìn

Sinh các năm 1928 đến 1988 và 2048. Cung Đoài, mạng Đại lâm Mộc là cây ở rừng lớn. Xương con rồng, tướng tinh con quạ. Phật Bà Quan Âm độ mạng. Thơ nói Mậu Thìn như cây lớn trong rừng, có tán mái to. Đông xuân sinh đặng thời sang; nhưng mùa xuân Mộc vượng cũng chẳng được yên, mùa hạ như tù, dù làm có của muôn ngàn cũng cực thân. Anh em cô bác chẳng gần, người dưng giúp của ân cần độ ta. Tuổi này vô số đàn bà, gặp chồng mạng lớn phải nhịn ngay. Buổi đầu chồng vợ đổi thay, nhiều chỗ nói đến nàng đều ngại chẳng ưng. Tuổi sinh biết đặng nhiều nghề, phiêu lưu xứ khác xa quê ông bà.

Phụ giải: tuổi Mậu Thìn sinh vào mùa đông hay mùa xuân thì có quý tướng, người có số giàu sang, có chồng sau này cũng có địa vị quan trọng trong xã hội. Về lương duyên thì buổi đầu có trở ngại, về sau phải chịu cảnh nuôi con cho chồng. Số người vượng phu ích tử, hoặc phải có hai dòng con. Người có trí sáng thông minh, trước tuổi tính toán nhiều, vận trước sau khá, sau mới hanh thông, không hưởng được của phụ âm, số cao thọ đến 79 tuổi.

Nữ mạng tuổi Tỵ

Con rồng nhường chỗ cho con rắn, và ba bài thơ đầu đều nhắc đến ngọn đèn, mảnh đất, rồi khu rừng.

Ất Tỵ

Sinh các năm 1905 đến 1965 và 2025. Cung Đoài, mạng Phúc đăng Hỏa là lửa đèn nhỏ. Xương con rắn, tướng tinh con trâu. Bà Cửu Huyền Thiên Nữ độ mạng. Thơ nói Ất Tỵ mạng Hỏa cung Đoài, là lửa cháy ở đèn tọa đăng. Thu đông là lỗi số, khó khăn; xuân hạ sinh đặng thì làm ăn phát tài. Hiền lành ăn ở thẳng ngay, chớ nên gian xảo mà mang tội tù. Thân tộc giàu có không nhờ được, nghèo thì phải chịu ai làm nấy ăn. Anh em cũng chẳng gần, khó khăn nghịch ý, nói năng chẳng hòa. Đầu tiên nhiều lớp cửa nhà nhưng chẳng giữ, sau này mới nên. Số này trắc trở lương duyên, vợ chồng lỡ được ở cũng chẳng yên một đời.

Phụ giải: số tuổi Ất Tỵ nếu cô nào sinh vào ban đêm thì hạp và thuận mùa; sinh mùa hạ và mùa xuân thì lại càng phát đạt hơn. Nhưng lúc nhỏ thường hay đau yếu, tuổi nhỏ phải chịu phiêu bạc nơi xa xứ. Lớn lên lập gia đình cũng tự chọn lấy, cha mẹ không ép buộc. Tuổi này phần đông phải chịu cảnh nuôi con cho chồng, tức làm vợ thứ, hoặc lấy người chết vợ hay lỡ dở, khó một vợ một chồng. Số trở về già cực, trung vận giàu sang, tiền vận vất vả. Số cao, thọ đến 81 tuổi.

Đinh Tỵ

Sinh các năm 1917 đến 1977 và 2037. Cung Khôn, mạng Sa trung Thổ là đất pha cát. Xương con rắn, tướng tinh con chim cú. Bà Chúa Ngọc độ mạng. Thơ nói Đinh Tỵ mạng Thổ cung Khôn, đất pha cát. Nếu sinh mùa hạ thì sang, như cá gặp nước, như rồng lên mây. Thu đông cũng chẳng được an; mùa xuân khắc Mộc nên nàng cực thân. Lỗi sinh thì cha mẹ chẳng gần, phải ly hương rời tổ quán. Vợ chồng phải gặp số xa cách. Tính tình ăn nói ai mà chẳng thương. Nhiều khi lắm phải tai ương, cũng nhờ Phật độ qua khỏi nạn. Tiền vận số phải lao đao, hậu vận ngồi hưởng giàu sang mấy hồi.

Phụ giải: số này lúc nhỏ phần đông phải chịu cảnh gian truân, cha mẹ anh em chẳng gần nhau, số khắc cha. Cô nào sinh vào mùa thu hay mùa hạ thì được phú quý sang giàu. Nếu sinh nhằm ban đêm là thuận số; còn sinh nhằm ban ngày là lỗi số, có cuộc sống cơ cực, phải tay gồng vai gánh, có chồng cũng chẳng được nhờ. Số lại đông con nhưng tay trắng làm nên, chẳng nhờ được ai. Số có chân tu nên có tai nạn cũng có quý nhân giúp đỡ.

Kỷ Tỵ

Sinh các năm 1929 đến 1989 và 2049. Cung Cấn, mạng Đại lâm Mộc là cây ở rừng lớn. Xương con rắn, tướng tinh con khỉ. Phật Bà Quan Âm độ mạng. Thơ nói Kỷ Tỵ cung Cấn mạng Mộc, cây lớn giữa rừng. Sinh đặng thu đông thì như cây gặp nước, như rồng gặp mưa; sinh nhằm lỗi số hạ thu thì cực nhọc nắng mưa phũ phàng. Số nàng chết hụt mấy lần, quý nhân độ mạng nên có phần khỏi lo. Tuổi này sáng láng thông minh, thấy điều gì làm được điều ấy, thật tình chẳng sai. Tiền vận chưa biết nên hư, hậu vận khá, của dư có xài. Lòng ở ngay thẳng thì trời Phật hộ độ, có ngày cũng nên.

Phụ giải: tuổi này nếu sinh thuận mùa đông và mùa xuân là thuận số, nhưng sinh nhằm ban ngày mới trọn tốt, sau này có chồng giàu sang phú quý; số có tay làm nên sự nghiệp, tay trắng thành gia, chẳng nhờ cha mẹ. Lúc nhỏ có chết hụt hai lần nhưng nhờ quý nhân phù trợ nên tai qua nạn khỏi. Tiền vận ba chìm bảy nổi, giàu như nước lớn rồi lại ròng, cầm của chưa được; tuổi này từ năm ba mươi tám trở đi mới tụ tài, về sau giàu có, nhờ con cái, nhất là con gái.

Tân Tỵ

Sinh các năm 1941 đến 2021 và 2061. Cung Tốn, mạng Bạch lạp Kim, sách chú là chân đèn bằng vàng. Xương con rắn; bản in không ghi vị nữ thần độ mạng ở tuổi này. Thơ nói Tân Tỵ cung Tốn mạng Kim, như vàng ở trong sáp, khó tìm lắm. Mùa thu thuận số là may, Thổ vượng ở bốn quý nên ít ai dám sánh. Lâm nạn thì có người giải nguy; giàu nghèo cũng sướng, sau thì an thân. Sinh mùa hạ thì khổ bần, đông xuân cũng lỗi, chịu phần gian nan. Đặng sinh trúng tuổi thì nàng hiền lương, quân tử, như tiểu thư. Sinh sai số sai giờ thì vét mương, phát cỏ, đắp bờ, nám da. Duyên tình dở dang đôi ba lần, tiền vận có của cũng lôi thôi, hậu vận đặng khá, yên nơi; trời Phật độ mạng, thảnh thơi an nhàn.

Phụ giải: tuổi Tân Tỵ nên sinh lúc ban đêm mà vào mùa thu là thuận, làm ăn phát đạt, người có số mạng lớn nên gặp tai nạn thì có quý nhân che đỡ, có người giải nguy. Còn nếu sinh ban ngày mà nhằm mùa hạ thì khổ sở vô cùng. Tình duyên trắc trở nhiều lần, sống cuộc đời tự lập, không nhờ anh em họ hàng gì cả. Tiền vận ba chìm bảy nổi, hậu vận mới được an tâm.

Quý Tỵ

Sinh các năm 1953 đến 2013 và 2073. Cung Khôn, mạng Trường lưu Thủy là nước chảy dài. Xương con rắn, tướng tinh con chó sói. Bà Cửu Huyền Thiên Nữ độ mạng. Thơ nói cung Khôn mạng Thủy, nước đầy chảy ra. Nàng sinh thuận mùa đông thì giàu nghèo cũng sướng, tấm thân an nhàn; xuân hạ sinh ra thì khổ bần, chịu phần khổ sở, lắm phần gian nan. Số này có chết một lần nhưng nhờ âm đức, thánh thần che chở. Lỗi số thì vận mạng đổi dời, ly hương rời tổ quán, ở nơi khác mới an. Anh em có kẻ giàu sang, ta nghèo phải chịu khó toan cậy nhờ. Ngày mai mọi sự thành công, thanh nhàn giàu có, hưởng phần ấm no.

Phụ giải: phần đông tuổi này là người cao số, khi gặp tai nạn trong đời có chết hụt một lần, nhờ âm đức của cha mẹ nên thoát nạn. Cô nào sinh thuận vào mùa thu thì được hưởng giàu sang phú quý, sống có hạnh phúc, chồng là người có địa vị trong xã hội. Còn lỗi sinh nhằm vào mùa hạ và mùa xuân thì số phải chịu duyên nợ đa đoan, khổ cực trăm đường; nhưng nếu sinh vào hai mùa này mà được ban ngày thì không đến nỗi xấu. Số có lưu lạc nhiều nơi, nếm đủ phong trần, sau mới thành đạt, nhờ có chí lớn mới thành công. Số thọ đến 81 tuổi.

Nguồn: Bửu Sơn, Tử Vi Tướng Pháp Trọn Đời.

Chủ đề của bài

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại 60 Hoa Giáp