Bài tổng quan
Người nữ tuổi Dần, tuổi Mẹo: thơ đoán vận và phụ giải
Dần và Mẹo đứng cạnh nhau trên vòng mười hai con giáp, nhưng bài thơ của người nữ tuổi Dần khuyên lập nghiệp phương xa, còn tuổi Mẹo được khen hiền lành, nói có người nghe. Cổ nhân bảo cùng một tuổi, ban ngày hay ban đêm, mùa thu hay mùa hạ, số đã khác hẳn. Còn bạn sinh vào mùa nào?
Mục lục · 2 phần
Nữ mạng tuổi Dần
Mỗi tuổi theo một khuôn: năm sinh, cung, nạp âm, con vật của xương, con vật của tướng tinh, vị nữ thần độ mạng, rồi bài thơ đoán vận mạng và đoạn phụ giải tổng quát. Riêng tuổi Dần thứ tư bản in có chỗ lẫn, sẽ nói rõ ở phần thuật lại.
Giáp Dần
Sinh các năm 1914 đến 1974 và 2034. Cung Cấn, mạng Đại khê Thủy là nước khe lớn. Xương con cọp, tướng tinh con trâu. Bà Cửu Huyền Thiên Nữ độ mạng. Thơ nói số gái Giáp Dần khôn ngoan, mạng Thủy như nước khe chảy dài. Đàn bà sinh thuận vào thu đông thì thanh nhàn sung sướng, có chồng giàu sang. Sinh xuân hạ là lỗi mùa, đêm ngày lo lắng muôn phần chẳng an. Số vận mạng gian nan, có lúc tưởng đâu âm phủ đã gọi. Gái lập nghiệp phương xa, duyên tình trắc trở nhiều lần mới nên. Anh em cha mẹ chẳng ở gần được: ở gần thì xung khắc, đi xa lại nhớ buồn. Tiền vận có của như không, hậu vận mới tụ của, gia đình ấm no.
Phụ giải: con gái tuổi Giáp Dần sinh vào mùa thu và mùa đông, nếu sinh ban ngày thì là người đàn bà quý tướng, ít khi đau ốm bệnh tật. Sinh ban đêm là lỗi số, thường gặp chuyện chẳng may, tình duyên trắc trở, không thể sống một đời chồng. Lúc thiếu thời làm ăn giàu có nhưng chưa giữ được của, về sau mới tụ tài, đi xa lập nghiệp mới nên. Số này phải lo tu tâm tích đức thì mới thọ; nếu thiếu âm đức thì khó sống, đến ba mươi mốt tuổi là cùng. Sách khuyên ăn ở có đức thì mới trường thọ.
Nhâm Dần
Sinh các năm 1962 đến 2022 và 2082. Cung Cấn, mạng Bạch lạp Kim, sách chú là chân đèn bằng vàng. Xương con cọp, tướng tinh con ngựa. Bà Cửu Huyền Thiên Nữ độ mạng. Thơ nói Nhâm Dần cung Cấn mạng Kim, là vàng tây trắng, không dễ tìm ra. Sinh mùa thu là tốt số, được phần giàu sang; đông xuân ở mức trung bình; mùa hạ là mùa lỗi. Số này tuổi nhỏ khó nuôi, ốm đau bệnh tật triền miên, lớn lên áo lộc đủ dùng, không dư không thiếu, ung dung thanh nhàn. Người nữ số chân thật, gặp chồng hiền đức thì phải biết nhịn. Hay làm ơn cho bạn không nài nỉ, nhưng bạc tiền trợ giúp có ngày lại hại ta. Anh em cũng chẳng thuận hòa, tuổi nhỏ tự lập, tuổi già hiển vinh.
Phụ giải: con gái tuổi Nhâm Dần phần đông có một đời chồng phải cách trở nợ duyên rồi sau đó mới tái hợp. Tính nóng nảy như đàn ông, hay nói những điều dữ nhưng lòng hiền hậu, không ích kỷ, chẳng hại ai, đúng là khẩu xà tâm Phật. Tính hay đa nghi, nhưng đã chịu lập gia đình thì khó ai ngăn cản được. Ai sinh vào mùa thu và mùa đông thì giàu sang phú quý. Số tuổi và mạng có khắc nên lúc nhỏ thường hay bệnh hoạn, gian nan, nhưng số này trường thọ, hậu vận mới an cư.
Mậu Dần
Sinh các năm 1938 đến 1998 và 2058. Cung Khảm, mạng Thành đầu Thổ là đất trên vách. Xương con cọp, tướng tinh con thuồng luồng. Phật Bà Quan Âm độ mạng. Thơ nói số này trước dài sau ngắn, anh em thân thích lạc ngoài phương xa. Sinh thuận vào mùa hè thì sung sướng, còn lại là lỗi ngay. Mùa xuân là lỗi số, vợ chồng chẳng hạp, duyên đầu phải xa. Anh em xung khắc chẳng hòa, nói ra gây gỗ tự nhiên rầy rà. Số tuổi tự lập gia đình, một mình toan tính trăm đường, tự lo. Tuổi già áo lộc hưng long, cây già kết trái, chồng phước dư.
Phụ giải: con gái sinh nhằm số tuổi Mậu Dần thì cuộc đời lận đận lắm. Chỉ cô nào sinh thuận là mùa hạ thì mới được an nhàn sung sướng, có chồng giàu sang phú quý. Còn phần đông phải chịu cảnh gian truân, thân tự lập thân, anh em họ hàng không ai giúp. Số có tay tạo ra tiền của nhưng không giữ được. Tình duyên cũng lận đận, trắc trở; số phải quen nhau trước rồi lấy nhau sau thì mới ở đời được, nếu cưới hỏi theo lối thường thì sẽ gãy đổ. Con cái đông, số có căn tu, biết ơn trời Phật, nên kiêng thịt chó, mèo, rùa, ngựa, trâu thì tốt.
Bính Dần, hay Canh Dần
Ở mục thứ tư này bản in bị lẫn. Phần đầu ghi tuổi Bính Dần, sinh các năm 1962 đến 1986 và 2046, cung Khảm, mạng Lư trung Hỏa là lửa trong lò, xương con cọp, tướng tinh con chim trĩ, Bà Chúa Ngọc độ mạng. Nhưng bài thơ liền sau lại mở bằng câu Canh Dần cung Cấn, mạng Mộc Tòng bá, và đoạn phụ giải cũng ghi số tuổi Canh Dần. Lời sách không phân định, nên dưới đây thuật lại đúng như in, không đoán thay.
Thơ nói mạng Tòng bá Mộc là quý. Đông xuân thuận số thì lo chi, tuổi gặp sung sướng, ít khi khổ nhiều; hạ thu là lỗi số, kẻ giàu thì mệt trí, người nghèo thì khổ thân. Sinh thuận thì sang trọng vô cùng, có người sai khiến, có chồng vinh thân. Sinh lỗi thì như mạng nhện giăng, miệng thì đói mà tay chân vẫn đùa. Số này cũng lắm ly kỳ, có khi hưng thịnh có khi điêu tàn. Ra ngoài có kẻ đoán người đưa, quý nhân giúp đỡ, phước dư có thừa.
Phụ giải: số tuổi Canh Dần nếu sinh thuận vào mùa thu và đông, nhằm ban ngày, thì được vinh hoa phú quý, có chồng giàu sang, có địa vị quan trọng trong xã hội. Cô nào sinh vào mùa xuân và mùa hạ, nhằm ban đêm, thì phải chịu gian truân, cực nhọc vất vả; số anh em đông nhưng ai làm nấy ăn, chẳng ai giúp ai, tự tay lập nghiệp, chẳng nhờ chồng con. Số có tiền của nhưng chưa giữ được, ngoài bốn mươi tuổi mới tụ tài.
Nữ mạng tuổi Mẹo
Con cọp nhường chỗ cho con mèo, và lời thơ chuyển sang giọng hiền lành, tài trí hơn.
Quý Mẹo
Sinh các năm 1903 đến 1963 và 2033. Cung Ly, mạng Kim bạch Kim là vàng trắng. Xương con mèo, tướng tinh con hươu. Bà Cửu Huyền Thiên Nữ độ mạng. Thơ nói Quý Mẹo mạng Kim cung Ly, là vàng tây trắng, gặp thời thì giàu sang. Sinh thuận mùa thu thì như nước chảy bon bon chẳng ngừng; mùa hạ thì nóng bức, như cây mọc đầu làng gió bay. Gái sinh được số này hiền lành, nhiều kẻ sang giàu. Lời nói ngọt ngào mềm mại, ít ai ghen ghét, người trên thương mình. Bụng người có tính linh, nghi ai thì thật tình chẳng sai. Số này cũng lắm nghề hay, tính tình ngay thẳng, chẳng ưa làm phiền ai.
Phụ giải: tuổi Quý Mẹo phần đông sang trọng. Sách có câu Nam Nhâm, Nữ Quý là đúng vậy. Hơn nữa, năm này cô nào sinh thuận ban đêm mà thuộc mùa thu thì cuộc đời sung sướng ít ai sánh bằng; trái lại sinh nhằm mùa hạ thì cùng một tuổi mà phải chịu gian truân, thay chồng ít lắm là hai lần sau mới bền duyên cầm sắc. Nếu tu nhân tích đức thì phước lại tăng. Người có tài có duyên, nói có người nghe, tính tình ngay thẳng.
Ất Mẹo
Sinh các năm 1915 đến 1975 và 2035. Cung Ly, mạng Đại khê Thủy. Xương con mèo, tướng tinh con dơi. Bà Cửu Huyền Thiên Nữ độ mạng. Thơ nói Ất Mẹo mạng Thủy cung Ly, như nước trong khe lớn tự nhiên chảy hoài. Thu đông sinh được hạp thời thì có phần sung sướng, hưởng đời giàu sang; xuân hạ là lỗi số, gian nan, phần đông vất vả tấm thân lạc loài. Người lòng dạ thông minh, nghĩ điều gì thì thật tình chẳng sai. Làm ăn tiền bạc có hoài nhưng ba chìm bảy nổi, đổi thay gia đình. Trong đạo vợ chồng thì hoa thơm, hương thơm, nhụy trăng vòng gương; chẳng qua đức gánh giữa đường, duyên sau chắp nối mới yên gia đạo.
Phụ giải: tuổi Ất Mẹo là người thông minh sáng suốt, học ít biết nhiều, có giác quan thứ sáu, nghi điều gì đúng điều ấy, tính lại hiền hòa nên có thần linh phụ trợ; gặp tai nạn thấy chết trước mặt nhưng nhờ trời Phật độ rồi cũng tai qua nạn khỏi. Số sinh ban đêm thì là quý tướng, có duyên lại tài hoa; người nào lỗi số phải chịu hai đời chồng hoặc phải nuôi em của chồng. Số này con cháu rất đông, từ trung vận trở lên mới được an cư lạc nghiệp. Số cao thọ đến 81 tuổi.
Đinh Mẹo
Sinh các năm 1927 đến 1987 và 2047. Cung Càn, mạng Lư trung Hỏa là lửa trong lò. Xương con mèo, tướng tinh con gà. Bà Chúa Ngọc độ mạng. Thơ nói Đinh Mẹo mạng Hỏa cung Càn, như lửa trong lò đỏ lên mau mà nguội cũng mau. Giận ai thì nóng nảy chẳng dạy nổi, nhưng người tới năn nỉ, nắm tay là chịu liền; xin lỗi bạn chớ có phiền, ít bữa lời ngọt có tiền cũng đưa. Gái sinh được số này phần đông giàu có, số cao có thừa. Con nhà cốt cách thu phong, cửa nhà tổ nghiệp tự mình làm nên. Hậu vận nhờ được con cháu, tiền vận lao khổ vẫn còn sầu bi. Tai nạn nhiều lúc hiểm nghi cũng đều qua khỏi nhờ ơn trên.
Phụ giải: tuổi Đinh Mẹo lúc nhỏ vất vả cực nhọc nhưng lớn lên sung sướng hơn người. Cô nào sinh vào mùa thu hay mùa đông là thuận, con người giỏi dắn, giàu có nhưng phúc hậu. Tóm lại phần đông tuổi Đinh Mẹo sung sướng, chỉ trừ người lỗi số, cùng một tuổi mà cực nhọc vì sinh lỗi mùa hạ và xuân. Sách khuyên cô nào sinh lỗi số nên cố giữ âm đức, để được câu: đức năng thắng số. Số này thọ đến 69 tuổi; nếu kém phúc đức thì sống đến 33 là cùng.
Kỷ Mẹo
Sinh các năm 1939 đến 1999 và 2059. Cung Khôn, mạng Thành đầu Thổ là đất trên vách. Xương con mèo, tướng tinh con rồng. Phật Bà Quan Âm độ mạng. Thơ nói Kỷ Mẹo mạng Thổ, đất ở trên vách mà chẳng khô. Sinh mùa hạ thì gái được an nhàn, có danh có vị, giàu sang muôn đời, hiển vinh có thừa. Mùa xuân là lỗi số đắng cay, mồ hôi nước mắt chảy ròng ròng. Tuổi Mẹo tài trí có thừa, không học cũng biết, ít người giỏi hơn. Anh em cha mẹ hai dòng, không thì chồng vợ lòng dòng đôi ba. Tiền vận có cửa có nhà nhưng tuổi nhỏ khó an, phải tàn; hậu vận mới đặng vinh quang, lập nên nhà cửa vững vàng về sau.
Phụ giải: tuổi Kỷ Mẹo tài trí thông minh, học ít biết nhiều; anh em khác dòng, nếu không thì cũng lỡ dở duyên phận. Số làm ra tiền nhưng khó giữ. Người sinh ban đêm là thuận số. Tuổi nhỏ khó nuôi, hậu vận trở về sau mới được vinh hiển. Số này nên lập gia đình từ năm hai mươi bốn đến hai mươi sáu tuổi thì vợ chồng bền duyên cầm sắt, hoặc muộn hơn càng tốt. Số có căn tu nên kiêng ăn thịt chó, mèo, ngựa. Số ít con, thọ đến 79 tuổi.
Tân Mẹo
Sinh các năm 1951 đến 2011 và 2071. Cung Ly, mạng Tòng bá Mộc là cây tòng cây bá. Xương con mèo, tướng tinh con rắn. Phật Bà Quan Âm độ mạng. Thơ nói Tân Mẹo mạng Mộc cung Ly, cây tòng cây bá ai bì mạng ta. Đông xuân sinh thuận hai mùa thì giàu sang, quý nhân cũng nhiều; thu hạ thì chẳng an, vì xung khắc mà sinh ra lỗi mùa. Sinh đặng như ở nhà lầu, sinh nghịch như cây cầu gãy ngang. Gái tuổi Mẹo rất hiền, thấy ai lời ngọt có tiền cũng đưa. Vợ chồng lỡ được duyên xưa, nhiều chỗ nói cưới chẳng vừa ý ta. Anh em xung khắc chẳng hòa, ở gần thì gây gổ, đi xa mới nhờ.
Phụ giải: tuổi Tân Mẹo nếu cô nào thuận sinh hai mùa xuân và đông thì giàu sang phú quý, nhưng phải là ban ngày mới trọn tốt. Cô nào sinh ban đêm mà nhằm mùa hạ thì số phải cực khổ, thay chồng ít lắm là hai lần sau mới thành. Số này từ năm ba mươi mốt đến ba mươi ba tuổi gặp nhiều gian lao khổ sở, cần phải tu tâm tích đức mới mong thoát qua tai nạn.
Nguồn: Bửu Sơn, Tử Vi Tướng Pháp Trọn Đời.
