Chuyển đến nội dung chính
Quay lại 60 Hoa Giáp

Bài tổng quan

Người nam tuổi Tuất, tuổi Hợi: thơ đoán vận và phụ giải

Tử Vi Nam Phái - 60 Hoa Giáp01/10/202613 phút đọc2 lượt đọc
Người nam tuổi Tuất, tuổi Hợi: thơ đoán vận và phụ giải

Người tuổi Bính Tuất cho vay, giúp bạn nghèo, rồi bị lấy oán trả ơn. Người tuổi Tân Hợi nghe thơ báo rằng ngay hay gian cũng có lúc bị kéo lôi vào ngục tù. Lời dặn cuối cùng cho họ là gì?


Nam mạng tuổi Tuất

Tuổi Tuất theo sau tuổi Dậu trong phần nam mạng. Sách vẫn ghi mỗi tuổi theo thứ tự cũ: năm sinh, cung, trực, mạng, con nhà đế nào, xương, tướng tinh, vị thần độ mạng, rồi thơ đoán vận và đoạn phụ giải tổng quát. Năm tuổi Tuất nam mạng được xếp theo thứ tự Giáp, Mậu, Canh, Bính, Nhâm. Vị thần độ mạng của năm tuổi này khi thì là Ông Quan Đế, khi thì là Cậu Tài, Cậu Quý, khi thì là Phật Bà Quan Âm hoặc Phật độ mạng. Cũng như các tuổi trước, mùa sinh cùng việc sinh ban ngày hay ban đêm vẫn là thước đo thuận số hay lỗi số của từng người.

Giáp Tuất

Sinh các năm 1934 đến 1994 và 2054. Cung Chấn, trực Kiến, mạng Sơn đầu Hỏa là lửa trên núi, khắc Sa trung Kim. Con nhà Xích Đế, cô quạnh. Xương con chó, tướng tinh con ngựa. Ông Quan Đế độ mạng. Thơ nói đoán xem số mạng tuổi này: tuổi cùng với mạng thuận hòa, tương sinh. Nếu sinh xuân hạ thì mừng, có quyền có chức, thanh nhàn tấm thân. Thu đông là lỗi số ta, giàu có cũng cực, nghèo thì bơ vơ. Vận hanh thông ở hạn sau, tự nhiên phước lộc theo nhau tới lần. Tuổi này thuở nhỏ chẳng yên, tật bệnh đau ốm liên miên tối ngày. Tâm tính sáng dạ rất hay, nghĩ gì cũng biết, ai dám sánh. Giáp Tuất có chí làm nên, quyền tước khá lớn, vững bền an thân.

Phụ giải: người có số tuổi này thuận sinh vào mùa đông và mùa thu là được sang quý, có vợ giàu có, sau cũng có địa vị quan trọng trong xã hội; còn sinh nhằm vào mùa xuân và mùa hạ thì bị lỗi số, nên khổ cực gian truân, vận trước không mấy khá, tuổi từ 44 về sau mới tụ tài. Số có con đông và được trường mạng.

Mậu Tuất

Sinh các năm 1958 đến 2018 và 2078. Cung Chấn, trực Bình, mạng Bình địa Mộc là cây mọc trên đất bằng, khắc Sa trung Kim. Con nhà Thanh Đế, phú quý. Xương con chó, tướng tinh con vượn. Phật Bà Quan Âm độ mạng. Thơ nói đoán xem số mạng tuổi này: mạng Mộc, bình địa là cây đất bằng. Hạ thu lỗi số, khó khăn; hai mùa vất vả, lăng xăng, cực hoài. Đông xuân thì được gặp may, thanh nhàn sung sướng, ít ai dám sánh. Có lúc tai nạn hiểm nguy, may nhờ Phật độ, không thì bỏ thân. Tiền vận lắm lúc lôi thôi, nhà cửa nhiều lớp có rồi cũng tan. Nhưng mà mạng số giàu sang, vinh hoa phú quý, an nhàn tấm thân. Số được vui vẻ thảnh thơi; người nhờ âm đức của trời ban cho.

Phụ giải: tuổi Mậu Tuất là người quý tướng. Nếu sinh nhằm mùa đông và mùa xuân thì lại càng phúc đức đầy đầy, vợ đẹp con ngoan. Gia đình hưởng thụ từ trẻ, cho nên đến già số này nhờ có căn tu và âm đức của tiền nhân để lại, nên hưởng được phước lộc của trời cho, tức thiên lộc tấn. Số được trên thuận dưới hòa. Gia đình sống có hạnh phúc. Số có căn tu nên dùng trai lạt sáu hoặc mười ngày thì tốt.

Canh Tuất

Sinh các năm 1910 đến 1970 và 2030. Cung Ly, trực Thâu, mạng Xoa xuyến Kim là xuyến bằng vàng, khắc Đại lâm Mộc. Con nhà Bạch Đế, phú quý. Xương con chó, tướng tinh con cáo. Ông Quan Đế độ mạng. Thơ nói Canh Tuất cung Ly số này: mạng phần khó dưỡng lúc còn tuổi thơ. Thuận sinh thì được mùa thu; mùa hạ khắc như cua gãy càng; đông xuân cũng lỗi số sinh. Người thì vất vả, gặp điều chẳng may. Sớm ra có bệnh chẳng yên, trong mình yếu đuối hoặc là tật chi. Nhân duyên trắc trở buổi đầu; không thì chồng vợ long đong đôi ba. Tiền vận cực khổ lao đao; trở về hậu vận mới yên gia đình. Tu nhân tích đức thì may, trời ban cho phước lộc, tiền tài thiếu chi.

Phụ giải: số tuổi Canh Tuất trong cuộc đời thường gặp nhiều gian khổ, lúc nhỏ có bệnh tật ốm đau, khó nuôi; hoặc có tật nguyền. Trở về sau, từ trung vận mới làm ăn khá. Có bôn ba cũng chẳng ích gì; nếu người nào có tâm đạo, ăn ở hiền lành thì về sau gia nghiệp vui vẻ, tài lộc đầy đủ. Còn nhân duyên thì đời vợ sau mới thành.

Bính Tuất

Sinh các năm 1946 đến 2006 và 2066. Cung Ly, trực Phá, mạng Ốc thượng Thổ là đất ở tổ tò vò, khắc Thiên thượng Thủy. Con nhà Huỳnh Đế, phú quý. Xương con chó, tướng tinh con trâu. Cậu Tài, Cậu Quý độ mạng. Thơ nói đoán xem số mạng tuổi này: mạng Thổ là đất nóc nhà ở an. Số người lao lực lao tâm, làm ăn vất vả mới mong sang giàu. Số nhờ kẻ quý giúp nên; thang mấy bước tới hanh thông có ngày. Xét qua tâm tính ở đời: thấy ai nghèo khó thua mình thì giúp cho. Thế mà người ấy chẳng lo; yên rồi quẹt mỏ, trả cho oán thù. Lòng dạ rất tốt cho nên thương người phải chịu, không thù giận ai. Con người ăn ở thẳng ngay, rủi gặp tai nạn thì ơn trên độ liền.

Phụ giải: số tuổi này con người hiền lương nhưng vất vả lao lực về tâm trí; làm có của nhưng không dám ăn xài; thấy bạn bè nghèo khó thì hay giúp đỡ nhưng không có phần chơi với bạn bè, thường bị lấy oán trả ơn. Số người truân chuyên từ lúc nhỏ, tuổi khá giả hơn. Số này nhờ âm đức Phật Trời, cho nên sống cuộc đời may nhiều rủi ít.

Nhâm Tuất

Sinh các năm 1922 đến 1982 và 2042. Cung Càn, trực Phá, mạng Đại hải Thủy là nước biển lớn, khắc Thiên thượng Hỏa. Con nhà Hắc Đế, quan lộc, tận khổ. Xương con chó, tướng tinh con chim trĩ. Phật độ mạng. Thơ nói Nhâm Tuất số mạng như vầy: nước ở biển lớn chảy vào tràn sông. Thuận sinh gặp được thu đông thì mạng được sung sướng, ở không ăn hoài. Sinh nhằm tháng khác thì chẳng may, tưởng đâu chết hụt đã rồi, nhờ Trời Phật độ thuở hồi ấu niên. Số này phải giữ gìn, phải kiêng, có khi té nặng, tật nguyền chẳng sai. Không có phần chơi với bạn bè; bạc tiền giúp đỡ, sau là phần ngay. Tiền vận phải chịu gian truân; nhà cửa nhiều lớp kinh doanh, đổi dời. Hậu vận mới được yên thân; lập nên cơ nghiệp ở thời bền lâu.

Phụ giải: tuổi Nhâm Tuất mạng Thủy trong năm nên để ý những tháng Dần, Mẹo, Thìn, Tuất, Sửu, Mùi là những tháng có khắc kỵ; có làm ăn thì nên dè dặt. Số không có phần chơi với bạn bè, gặp bạn phải ít chân tình. Tiền vận phải chịu gian truân, hậu vận mới khá.

Nam mạng tuổi Hợi

Tuổi Hợi là tuổi cuối của vòng mười hai con giáp, và là tuổi cuối của phần nam mạng trong sách. Năm tuổi Hợi nam mạng được xếp theo thứ tự Kỷ, Ất, Đinh, Quý, Tân. Mỗi người vẫn được ghi theo mùa sinh, ban ngày hay ban đêm, và theo nạp âm của năm sinh.

Với người con trai tuổi Hợi, thơ nhắc đến cả cảnh phong trần xa xứ lẫn cảnh bị kéo lôi vào chốn giam cầm.

Kỷ Hợi

Sinh các năm 1959 đến 2019 và 2079. Cung Khôn, trực Định, mạng Bình địa Mộc là cây mọc trên đất bằng, khắc Sa trung Kim. Con nhà Thanh Đế, phú quý. Xương con heo, tướng tinh con gấu. Phật Bà Quan Âm độ mạng. Thơ nói đoán xem số mạng tuổi này: mạng Mộc, bình địa, cây trên đất bằng. Đông xuân cũng thuận, ai bằng; hai mùa thuận số, có ăn, thanh nhàn. Số này có nạn vào thân; gian truân lắm độ, phong trần lắm khi. Tha phương lập nghiệp xứ xa; trở về hậu vận cuối làm ra có tiền. Vợ chồng trắc trở nhiều phen, nếu không thì cũng long đong đôi ba. Kỷ Hợi có số hiền lương, thấy ai ngọt dịu thì thương, giúp liền. Số tuổi tu niệm ăn chay, lòng ở nhân đức thì có ngày làm nên.

Phụ giải: số tuổi này nếu không có âm đức e sẽ mang họa vào thân, cho nên khuyên ai gặp tuổi Kỷ Hợi phải ráng mà giữ mình. Nếu sinh vào ban ngày thì mùa hạ được sung sướng, ấy là thuận sinh. Số tự tay lập nên cơ nghiệp, chứ chẳng phải nhờ anh em họ hàng. Nhưng phải đi xa lập nghiệp thì mới khá. Vận trước có phần lận đận gian nan, lưu lạc nơi xa, về sau mới an cư lạc nghiệp. Số có căn tu, nên giữ gìn đạo đức.

Ất Hợi

Sinh các năm 1935 đến 1995 và 2055. Cung Khôn, trực Trừ, mạng Sơn đầu Hỏa là lửa trên núi, khắc Sa trung Kim. Con nhà Xích Đế, cô quạnh. Xương con heo, tướng tinh con hươu. Ông Quan Đế độ mạng. Thơ nói Ất Hợi mạng Hỏa số này: lửa ở trên núi sáng bay đỏ trời. Thuận sinh xuân hạ gặp thời, giàu nghèo cũng sướng, gặp nơi thanh nhàn. Thu đông chẳng lợi, hao tài; trai thì lỡ duyên tình phôi pha. Ất Hợi nhiều kẻ lòng hiền; ai mà nói dữ thì ta nhịn ngay. Anh em xung khắc chẳng gần, nói ra gây gỗ, chẳng hòa chẳng yên. Lớn lên cách trở xứ xa, học tập nghề nghiệp sau này mới nên. Đầu tiên có của chẳng bền; làm có hao tán như tên mây hồng.

Phụ giải: người tuổi Ất Hợi số lận đận về công danh. Sự nghiệp cũng như đường lương duyên có phần trắc trở. Nếu người nào sinh vào mùa hạ và mùa thu thì trọn tốt, mà sinh vào ban đêm thì lại càng quý hơn. Số phải cực nhọc về tiền vận, hậu vận lại càng tốt đẹp hơn. Nên giữ âm đức để được phước trời ban.

Đinh Hợi

Sinh các năm 1947 đến 2007 và 2067. Cung Cấn, trực Nguy, mạng Ốc thượng Thổ là đất ở tổ tò vò, khắc Thiên thượng Thủy. Con nhà Huỳnh Đế, phú quý. Xương con heo, tướng tinh con dơi. Cậu Tài, Cậu Quý độ mạng. Thơ nói Đinh Hợi cung Cấn số này: đất ở dưới thấp, bò lên nóc nhà. Thuận sinh mùa hạ thì sang, có phần sung sướng, người sang nể vì. Thổ vượng ở bốn tháng tứ quý, lo chi; thu đông xuân Mộc khắc, lòng chẳng yên. Làm trai Đinh Hợi gan lì, nhưng mà ngay thẳng, ít ai bạo tàn. Số người chết hụt, chết oan, nhưng nhờ trời độ qua cơn tai nạn. Vợ chồng lỡ dở đò ngang; duyên sau mới hiệp, mới yên cửa nhà. Ra ngoài sang quý là số này; vận sau cùng lại thêm phần giàu sang.

Phụ giải: tuổi Đinh Hợi nếu sinh nhằm ban đêm thì về sau được phú quý, có vợ giàu sang, số người quyền quý, mọi người chung quanh kính nể, vì có bản tính hiền lương ngay thẳng. Còn nếu sinh nhằm ban ngày thì bệnh tật gian lao. Số có thay đổi tình duyên, và lập nghiệp phương xa thì mới khá. Có phước nhờ trời độ mạng, không thì phải có tật nguyền, có tai nạn.

Quý Hợi

Sinh các năm 1923 đến 1983 và 2043. Cung Khôn, trực Nguy, mạng Đại hải Thủy là nước biển lớn, khắc Thiên thượng Hỏa. Con nhà Hắc Đế, tận khổ. Xương con heo, tướng tinh con gà. Ông Tử Vi độ mạng. Thơ nói Quý Hợi số mạng như là: mạng Thủy, nước biển chảy tràn vào sông. Số này thuận hạp thu đông, cuộc đời sung sướng, ít ai sánh bằng. Nhưng sinh xuân hạ thì lỗi thay, nghèo giàu cũng cực tay chân không ngừng. Vợ chồng có khắc chẳng yên; con thì nhiều đứa làm phiền cho ta. Anh em xung khắc chẳng gần; người dưng giúp đỡ, lập nên nghiệp nhà. Số này tài lộc có nhiều; tuổi nhỏ chưa được, tuổi già hiển vinh. Lắm lúc buôn tảo bán tần; nhà cửa dời đổi nhiều lần, chẳng yên.

Phụ giải: số người tuổi Quý Hợi chỉ có thuận là người sinh nhằm thu và đông; còn ngoài ra thì có phần gian nan khổ cực, dù có giàu nhưng vất vả lắm, chứ không được sung sướng như kẻ khác. Số lúc nhỏ giàu có nhưng không giữ được của; tuổi từ 44 trở đi mới an hưởng giàu sang.

Tân Hợi

Sinh các năm 1911 đến 1971 và 2031. Cung Cấn, trực Khai, mạng Xoa xuyến Kim là xuyến bằng vàng, khắc Đại lâm Mộc. Con nhà Bạch Đế, phú quý. Xương con heo, tướng tinh con cọp. Ông Quan Đế độ mạng. Thơ nói số này cung mạng tương sinh; chẳng sinh cũng quý, số người thuận sinh. Mùa thu là hợp với chàng, đều được sung sướng, thanh nhàn, lo chi. Mùa hạ bị khắc, hàn vi; đông xuân cũng lỗi, sau này cực thân. Số này cách trở quê hương, tha phương cầu thực mới nên cửa nhà. Trung vận vất vả gian nan; kể từ hậu vận thịnh hưng một bề. Tiền vận rắc rối lôi thôi; ngay hay gian cũng bị kéo lôi vào ngục tù. Số may gặp được phước hồng; không thì cũng ở ngục tù từ lâu.

Phụ giải: số tuổi Tân Hợi người gặp hoạn nạn nhiều hơn là thanh nhàn; anh em nghịch ý, chẳng thuận, nhưng khá là nhờ số mạng tương sinh. Tuổi có bị sa nơi giam cầm, nhưng nhờ âm đức của ông cha cho nên được quý nhân che chở, được thoát. Số cực nhọc từ lúc nhỏ; xa quê lập nghiệp thì mới khá. Nên tu hành, giữ gìn đạo đức để được an hưởng thanh nhàn về sau.

Hết phần đoán vận mạng từng tuổi, sách ghi một lời dặn để người đọc tự tra: xem cho biết tuổi năm sinh thuộc vào cung nào, trực nào, mạng nào, con nhà vị đế nào; khắc hay hạp, giàu hay nghèo. Bảng tính tuổi Tử Vi từ một đến chín mươi tuổi được lập thành vào năm Ất Mẹo, nhằm năm 1975 dương lịch; rồi qua mỗi năm sau, người xem tính lên một tuổi nữa là đúng.

Nguồn: Bửu Sơn, Tử Vi Tướng Pháp Trọn Đời.

Chủ đề của bài

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại 60 Hoa Giáp