Bài tổng quan
Mỗi ngôi sao đều có mặt tốt, và lời ca cũng đọc được bằng sao
Hóa ra ngay cả Kình Dương, Địa Kiếp cũng có lúc đáng khen, miễn đứng đúng chỗ. Còn một bài hát về bóng mát cuộc đời, nghe quen đến thuộc lòng, lại giấu sẵn cả hàng chục ngôi sao trong từng chữ…
Mười bốn chính tinh và các bàng tinh: ai cũng có mặt tốt
Đến ngày xuân, người học Tử Vi nên thử nhìn các ngôi sao qua cặp kính màu hồng, để tự tin bước vào năm mới. Mỗi ngôi sao đều tốt cả; chỉ vì sắp xếp bất hợp lý mà hóa xấu, cũng như người với người vậy. Tác giả tóm tắt mặt tốt của từng sao như sau.
Thiên Lương là ngôi sao may mắn, được tác giả đặt tên “bóng mát cuộc đời”, là cậu ấm cô chiêu, là ngồi mát ăn bát vàng. Thiên Cơ là sao của thời cơ, vận hội, kẻ gặp thời. Thái Âm là ngôi sao âm thầm hưởng phúc. Thái Dương là ngôi sao dương dương đắc ý, nở nang mày mặt, rạng rỡ cha mẹ. Thiên Đồng là ngôi sao chủ phúc. Cự Môn là ngôi sao số dách, cự phách trong một phương diện nào đó. Tử Vi là ngôi sao lãnh đạo, gánh vác trọng trách; người tử tế là đây. Vũ Khúc là ngôi sao tài năng, kẻ đa tài. Liêm Trinh là ngôi sao đạo đức, trong sáng, có tài theo dõi giỏi. Phá Quân là quán quân, là vô địch, giỏi khám phá. Thất Sát là ngôi sao chiến thắng, giỏi khám phá và quan sát. Tham Lang là ngôi sao của tham vọng tốt đẹp, là niềm hy vọng. Thiên Phủ là ngôi sao che chở, vỗ về, an ủi, giỏi phán xét. Thiên Tướng là ngôi sao nghĩa hiệp, ngôi sao của tình yêu, tình thương.
Rồi đến những sao mà người ta thường đánh giá không công bằng, nói cách khác là không thấy được cái hay của chúng. Hóa Kỵ khi tốt là kỳ tài, kỳ nhân. Thiên Hình là khuôn mẫu, là tấm gương tốt cho ta học, là người mẫu. Kình Dương là ngôi sao đắc ý, giương cao cờ chiến thắng. Đà La là ngôi sao rung đùi tự mãn, phát triển khắp mọi nơi. Hỏa Tinh là ngọn đuốc chiến thắng, ngọn đuốc đưa đường chỉ lối. Linh Tinh là ngôi sao của linh lạc, vì sao sáng lóng lánh trên một nền trời nào đó. Thiên Không là ngôi sao “không ngờ mà ta làm được, không ngờ mà ta thắng được”. Địa Kiếp là ngôi sao cướp được bằng cấp, học bổng, huy chương, kể cả thành trì trong tay giặc. Tuần là giáo dục, Triệt là hiểu biết, kiến thức.
Trên là mười bốn chính tinh và mười bàng tinh quan trọng. Còn có Thiên Hỉ thiên về vui mừng; Hỷ Thần là niềm vui đến sớm; Đào Hoa là ồn ào mà vui vẻ; Hồng Loan là tiếng la to vì quá vui. Người học nên đem kiến thức ra soi sáng Tử Vi: các ngôi sao đều tốt, chỉ do sắp xếp, tổ hợp mà thành ra thế này thế khác, cũng như người ta nói chuyện bóng đá mà người kia nói chuyện Tử Vi, ai cũng có cái hay riêng.
Nếu mỗi sao đều là một từ, thì cả lá số là một bài văn; và một lời ca hay cũng có thể đọc ngược lại thành những ngôi sao.
Giải mã một ca khúc nổi tiếng bằng ngôn ngữ các sao
Một ca khúc về bóng mát cuộc đời, nhớ làng quê và tuổi thơ bị chiến tranh cướp mất, được tác giả dùng để tập luận đoán: lấy từng chữ trong lời ca, hỏi chữ ấy ứng với sao nào. Dưới đây là cách tác giả “dịch” từng chữ sang sao, giữ nguyên ý, không chép lại lời ca.
Chữ “bóng mát” là Thiên Lương, ngôi sao của cậu ấm cô chiêu, ngồi mát ăn bát vàng, dễ hưởng tước phong và di sản cha để lại; dĩ nhiên cần đóng vị trí tốt. Nỗi “không còn gì nữa” là Lộc Tồn cùng Thiên Không: Lộc gặp Không có nghĩa là không còn, thiên thần phải chào thua ác thần. Nếu cách này mà còn sống thì đã là may, vì phải mất mát một thứ gì đó ác thần mới chịu, như công danh, tài lộc, người thân. Người nhạc sĩ khi đi ngang một đại hạn hay tiểu hạn có cách ấy mà nảy cảm hứng viết ca khúc, và dù nghệ sĩ thường hư cấu thì cái hư cấu ấy cũng không thoát khỏi định mệnh đã an bài. Vì thế có kẻ cả gan hư cấu cả lịch sử, còn văn nghệ sĩ thì ưa hư cấu chuyện tình.
“Tiếng hát” là Thanh Long cộng Xương Khúc, tức tiếng nói văn chương nghệ thuật; không có Xương Khúc thì chỉ là tiếng nói mà thôi. Cây cối liên quan đến Thiên Cơ, còn “cũ” liên quan đến Thiên Khôi; “cây đa, trường cũ” là Cơ Khôi. Cây đa, bến cũ, đình làng, con đò là những biểu tượng thân thương của làng quê; đình làng có nơi còn là trường học.
“Biết” là sao Triệt: hiểu biết, kiến thức là ngôi sao này, nhờ hiểu biết ta lánh xa bệnh tật, trừ cái xấu, triệt những ham muốn tầm thường; hợp với Tham Phá, kỵ gặp Tử Phủ. “Cho” là Hoa Cái: người có Hoa Cái tại Mệnh thường hơn người, được kính trọng, vì Hoa Cái là cái lọng vẽ hoa che cho người ngồi dưới. Thực chất Hoa Cái che cho sao Thái Tuế. Khi sao này phản tác dụng thì rách đi, xin ăn: thay vì úp xuống che mát, nó ngửa lên thành cái bát xin ăn. Hoa Cái cầm đầu nhóm sao “xin, cho, biếu, tặng, dâng, hiến”, và cần phân biệt cho xin với hiến dâng.
“Cuộc đời” là cái cục, như Hỏa lục cục, Thổ ngũ cục. Cái cục ấy không hòa hợp với bản Mệnh thì cho ta lá số Tử Vi xấu, thuận lợi thì lá số tốt. Tác giả nhấn mạnh rằng khi luận đoán không nên lấy cục khắc Mệnh, cục sinh Mệnh mà tăng giảm độ số, vì như thế vô tình giống kiểu học sinh giỏi thì cộng thêm điểm, học sinh kém thì trừ thêm điểm. Để an được Tử Vi cần biết cung Mệnh nằm đâu, đòi hỏi hai yếu tố là giờ sinh và tháng sinh; biết cục cần thêm yếu tố con nhà can nào; từ đó có cục, và từ cục cùng ngày sinh an được Tử Vi, tức an mười bốn chính tinh. Vậy thì cục đẻ ra ngôi sao Tử Vi, nên chẳng có lý do gì lập luận xấu rồi đổ cho xấu thêm. Người nhạc sĩ tài hoa ấy có Mệnh và Cục tương khắc nên có lá số không mấy thuận lợi.
“Rong chơi, lang thang, đi hoang” liên quan đến bộ Tham Vũ; đừng vội nghĩ đến Tham Vũ ở Sửu, Mùi, vì Liêm Tham cũng có cách đó. Bộ Tham Vũ chuyển động khi có bộ Phượng Mã Khách, tác giả đặt tên “ngựa cất vó”, hoặc bộ Long Phi Hà là “rồng chuyển”. “Bơ vơ một mình” là Thiên Mã cộng Cô Quả đi với nhóm sao lẻ loi khác, vì Vũ có tính cô đơn; nhưng Mã Cô Quả đi với Thiên Tướng, Thiên Đồng thì không đi một mình đâu.
“Chim” là Hồng Loan; trong một số trường hợp thấy Hồng Loan phải đoán là tiếng hót con chim, nhưng cũng có khi phải đoán là vết máu loang, vì máu màu đỏ. Hồng Loan đi với Thiên Hình thì thế nào cũng có máu chảy, có Lưu Hà càng chắc; bộ Hồng Hình Lưu Hà nghĩa là vật nhọn sắc đâm vào, máu chảy ra, và lúc ấy Hồng Loan đúng nghĩa loan báo: ôi đau quá, cứu tôi với. Hồng Loan có nghĩa là la to.
“Quên đi, không nhớ, bị bỏ quên” liên quan đến bộ Tam Không, còn gọi là Tam Vong, tức Tuần Triệt Thiên Không. Triệt gặp Thiên Tướng bị chê là “vong ân bội nghĩa”, còn Tuần Tướng thì được khen “trọn nghĩa”, “trọng nghĩa”, “trượng nghĩa”.
“Mắt” là Thái Dương; nhiều sách Tử Vi cho cả Thái Âm nhưng tác giả không đồng ý. “Mái đình” là Thiên Phủ Phượng Các, ngôi nhà lớn để thờ phượng. “Dấu vết, vết tích, di tích” là Vũ Khúc; “tỳ vết, vết thương” là Lưu Hà; “mất tích” là cách Vũ Sát. “Lửa hồng” là Hỏa Tinh, “đốt phá” là Hỏa Phá. “Trả lại cái gì cho ai” là Phục Binh, “trả thù” là Phục Khốc, nghĩa là trả lại tiếng khóc. “Mộ hoang” liên quan đến Thái Âm cộng Cô Quả, tức hoang vu; “đêm” cũng là Thái Âm. “Chân tay, xe cộ” là Thiên Mã. “Mỏi, mệt mỏi, xuôi tay, chán chường, bỏ cuộc chơi” là Phá Quân. “Thương, yêu” là Thiên Tướng, ngôi sao tình yêu; tình yêu không cần cầu xin, chỉ có cái ăn cái uống mới cầu xin, rồi người ta ưa làm chủ cái ăn cái uống của người khác; tình thì phải cho không, biếu không mới đúng.
Câu cuối của bài ca, tác giả thấy hơi lạ: mỗi người đều có một cuộc đời của riêng mình, chẳng ai “xin được yêu mến cuộc đời”; có chăng là yêu mến xã hội mình sống, mong xã hội đừng ruồng bỏ mình. Mà xã hội có ruồng bỏ nhạc sĩ đâu, lời ca tiếng hát của ông vẫn vang vang suốt thập niên sáu mươi đến bảy lăm; ai bỏ ai? Đúng là “còn đâu nữa”.
Một bài hát đã đọc được bằng sao thì một bài thơ nhớ người đi chẳng trở về cũng thế, với cái khác là ở đây từng câu lại gói một cách trong Tử Vi.
Đi chẳng trở về: câu thơ và những cách ẩn trong đó
Một hôm tác giả ghé thăm trang cá nhân của một người bạn có Thất Sát và gặp bài thơ nổi tiếng, nhất là bốn câu đầu nói “anh biết em đi chẳng trở về”. Người nghiên cứu Tử Vi thì đọc gì cũng suy ra Tử Vi: cách “đi chẳng trở về” là cách gì? Mượn ý bài thơ ấy, ông viết một bài thơ khác của mình, rồi đánh số từng câu để giải mã. Mười điểm giải mã như sau.
Thứ nhất, đi không trở lại là cách Binh Tướng Không Kiếp, tức từ Phục Binh thấy Không Kiếp, tức thấy Tướng Quân xung. Đó là cách Binh Tướng Không Kiếp điển hình ở hạn Mậu Tuất của Hạng Võ. Nhưng không phải ai gặp cách này cũng không quay lại, thậm chí vẫn có cơ hội quay lại; có bộ Sát Phá tốt đẹp tại Mệnh thì tới lui gì mà không được.
Thứ hai, lời thề là cách Tử Tướng. Khi Tử Tướng xung chiếu nhau, tức cách Tử Phá ở Sửu Mùi, bên này Tử Vi định sao thì bên kia Thiên Tướng cũng định như vậy. Ai thề thì Tử Vi thề trước, Thiên Tướng thề theo. Trong đời sống, cách này thường là bản hợp đồng lợi cho sự hợp tác làm ăn; đừng gà mờ Tử Vi mà cho rằng vợ hay chồng ngoại tình là rách việc.
Thứ ba, có người lôi kéo thì người ta mới đi. “Bụi hồng” là Hồng Loan la lên, Đà La lôi kéo; Hồng Đà là la to rủ rê ai đó làm gì, như chiêu sinh là vẫy tay lôi kéo sinh viên vào học. Hồng Đà đi với dâm tinh là chuyện gái vẫy.
Thứ tư, cung đàn lỗi nhịp là cách Vũ Phá: Vũ là khúc nhạc, Phá là dễ bỏ đi một khúc; tốt là gắn bó với khúc nhạc đó. Về kinh tế là cách phá sản, về tình cảm là cách dễ bỏ nhau, về bệnh tật là cắt bỏ một phần thân thể. Tác giả hứa sẽ mô tả dồi dào cách luận này, điều mà sách Tử Vi trước đây chưa hề biết.
Thứ năm, khúc hận tình: cuộc tình ngắn là cách Vũ Tướng, vì Thiên Tướng chủ thương yêu và Vũ chủ ngắn. Thấy Kỵ Khốc thì rất hận; muốn lấy ngắn làm dài thì cắt bỏ rồi nối lại.
Thứ sáu là ý: mai đây anh cũng có vợ, anh cũng vui nhưng lòng vẫn buồn, mắt môi vẫn cười tươi để trả thù em và để vui lòng người. Thứ bảy, “sử tình” là cách Vũ Tướng, nhưng sử tình sao ngon bằng sử xanh. Thứ tám, khởi đầu, mối tình đầu là cách Cự Binh, Cự Tướng, nhất là có thêm Cơ Âm đối với nam; trong tranh đấu thì là khởi nghĩa. Tác giả cho một ví dụ: trên lá số mẫu vừa xét, nếu xóa Hỏa Tinh mà thay vào Linh Tinh thì thành Cự Binh tức khởi nghĩa, quậy được đấy. Chỉ một ngôi sao thay đổi một hoàn cảnh. Vậy muốn xóa bỏ một hoàn cảnh thì cần xóa một ngôi sao, tức vượt qua định mệnh: xóa trong lòng những Hóa Kỵ ghen ghét nghi ngờ, Thiên Hình bắt bẻ răn đe, trấn áp cơn giận của Hỏa, cơn điên của Linh. Nếu có người bên ngoài ghét mình thì đành chịu, có người thương mình cũng không thể cấm được; nhưng nếu mình ghét ai thì mình tự xóa được, thôi đừng bận tâm đến họ nữa.
Thứ chín, giữ trọn một câu thề là Thiên Tướng Tuần có Tử Vi xung: Thiên Tướng đã tương đương với những gì Tử Vi định, và Thiên Tướng ôm Tuần là trọn vẹn, vì Tuần là Tuần Trung. Tướng Tuần là thương yêu trọn vẹn, Tướng Triệt là thương yêu nửa chừng, nhưng phải có Tử Vi xung mới luận như vậy. Chuyện thề thốt không chỉ của trai gái: còn có lời thề của ngành y, lời thề gia nhập đảng, lời tuyên thệ khi nhậm chức.
Thứ mười, đá là Thiên Cơ và dạ là Thiên Đồng; hai sao này luôn tam hợp nhau. Khi xấu ta nghe câu than phiền “lòng dạ trơ trơ như đá”, nghĩa là không thấy nỗi khổ của người khác.
Nguồn: Tử Vi Bửu Đỉnh – Chính Tinh.
