Bài tổng quan
Hai nữ mệnh: tóc bạc sớm và mối tình không danh phận
Một người mới ngoài hai mươi đã mọc chòm tóc bạc trên đỉnh đầu, hỏi có phải gan mật sinh chuyện. Một người gần bốn mươi, thạc sĩ, xinh đẹp, tự nuôi được mình, mà chỉ đem lòng thương một người đã có vợ. Hai câu chuyện chẳng dính dáng gì nhau, vậy mà Khâm Thiên môn mở cả hai bằng cùng một chìa khóa.
HAI NGƯỜI ĐÀN BÀ, HAI CÂU HỎI CHẲNG DÍNH DÁNG GÌ NHAU, MÀ CÙNG MỘT PHÉP ĐỌC. Người thứ nhất sinh năm Mậu Thìn, bỗng dưng trên đỉnh đầu mọc một chòm tóc bạc, ngày càng nặng thêm, lại hay dị ứng nổi mẩn đỏ, không rõ có phải gan mật có vấn đề. Người thứ hai sinh năm Tân Hợi, tốt nghiệp thạc sĩ, xinh đẹp thông minh, gia thế không tệ, đến gần bốn mươi tuổi vẫn còn đơn chiếc.
Nữ Mệnh Mậu Thìn Và Chòm Tóc Bạc Trên Đỉnh Đầu
Mệnh bàn
Cung mệnh an tại Nhâm Tuất, có Thái Dương, Địa Kiếp, đại vận đầu khởi từ hai tuổi. Cung phụ mẫu ở Hợi có Văn Xương, Tả Phụ, Hồng Loan. Cung phúc đức ở Tí có Thiên Cơ Hóa Kị, Âm Sát, Địa Không. Cung điền trạch ở Sửu có Tử Vi, Phá Quân, Hỏa Tinh, Thiên Khôi. Cung quan lộc ở Dần không có chính diệu. Cung nô bộc ở Mão có Thiên Phủ, Văn Khúc, Hữu Bật Hóa Khoa. Cung thiên di ở Thìn có Thái Âm Hóa Quyền, Thiên Hình, Đà La. Cung tật ách ở Tị có Liêm Trinh, Tham Lang Hóa Lộc, Thiên Hỉ, Lộc Tồn. Cung tài bạch ở Ngọ có Cự Môn, Kình Dương. Cung tử nữ ở Mùi có Thiên Tướng, Thiên Việt. Cung phu thê ở Thân có Thiên Đồng, Thiên Lương, Thiên Diêu. Cung huynh đệ ở Dậu có Vũ Khúc, Thất Sát, Linh Tinh.
Kị ở tuyến huynh nô, cơ thể tiên thiên không tốt
Quan sát cung mệnh của nguyên cục có Thái Dương ở Tuất, can cung là Nhâm, phi Hóa Lộc nhập Thiên Lương ở cung phu thê, phi Hóa Kị nhập Vũ Khúc ở cung huynh đệ và xung cung nô bộc. Kị ở tuyến huynh nô là ý tượng tai ách, cơ thể tiên thiên không được tốt. Mệnh tạo thuộc vận đi nghịch; lúc đại vận trùng điệp với cung phu thê của nguyên cục, tức là đại vận thứ ba, thì phát bệnh.
Đại vận thứ ba, hai mươi hai đến ba mươi mốt tuổi
Cung mệnh của đại vận có Thiên Lương và Thiên Đồng tự Hóa Kị; can cung là Canh, phi Hóa Lộc nhập Thái Dương ở cung mệnh của nguyên cục. Lộc nhập cung mệnh là cung vị sinh số, là ý tượng: đại vận này có phá cách. Ngoài ra, phi xuất Lộc theo tượng Tham Lang Hóa Lộc năm sinh ở cung tật ách của nguyên cục, là ý tượng: phá cách trong đại vận này là vấn đề ở cơ thể. Vấn đề ở cơ thể thùy tượng tại Thiên Đồng tự Hóa Kị, mà Thiên Đồng chủ về tạng thận; vật tượng ở Thái Dương Hóa Lộc, mà Thái Dương chủ về phần đầu.
Cung tật ách của đại vận trùng điệp với cung nô bộc của nguyên cục, can cung là Ất, phi Hóa Lộc nhập Thiên Cơ ở cung phúc đức của nguyên cục, tức cung quan lộc của đại vận, gặp ngay Thiên Cơ Hóa Kị năm sinh; Lộc hậu thiên xung phá Kị tiên thiên thành Song Kị, là ý tượng: trong hạn này phúc khí cơ thể có vận thế không được tốt.
Can Ất lại phi Hóa Kị nhập Thái Âm ở cung thiên di của nguyên cục, tức cung tài bạch của đại vận, rồi xung cung mệnh, tức cung phúc đức của đại vận. Thái Âm thuộc âm thủy, là ý tượng hao tổn; thông thường là ý tượng tạng thận, hoặc chủ về hệ thần kinh và mắt. Có thể thấy đây là bệnh biến do tạng thận dẫn đến. Thái Âm Hóa Kị nhập cung ấy, can Bính chuyển phi Hóa Kị nhập Liêm Trinh ở cung tật ách của nguyên cục, cũng là cung huynh đệ xung cung nô bộc của lưu nguyệt tháng hai âm lịch, cho nên bệnh biến xảy ra vào tháng này.
Hướng giải trong mệnh lí
Ngoài ra, cung nô bộc của nguyên cục là can Ất, khiến Hóa Khoa nhập Tử Vi ở cung điền trạch của nguyên cục, là nhập cung vị số sinh của mệnh tạo; Tử Vi cũng là sao tiêu tai giải nguy, vì vậy nên sớm đi về hướng tây bắc của nhà ở tìm nam bác sĩ để chữa trị. Bệnh của mệnh tạo ngoài việc phải tuân theo chỉ dẫn của bác sĩ, hạn này ít nhất cũng phải qua khỏi lưu niên cung Thìn, tức sau hai mươi lăm tuổi, mới có chuyển biến tốt.
Trên đây thuật lại một cách luận đoán của Khâm Thiên môn để tham khảo. Còn vấn đề da của mệnh tạo dễ bị dị ứng, thường nổi mẩn đỏ, thì xin cứ thử tự phân tích xem sao.
Nữ Mệnh Tân Hợi Và Mối Tình Không Danh Phận
Với một mối tình cũng vậy, phép xem vẫn là đi tìm cái tượng trước khi nói tới cát hung.
Nữ mệnh sinh giờ Tị, ngày bảy tháng năm nhuận, năm Tân Hợi. Lúc lập mệnh bàn này, nàng ba mươi chín tuổi, vẫn còn nhiều đàn ông theo đuổi, nhưng nàng chỉ yêu ông chủ, mà ông chủ lại không có nhiều tiền, diện mạo cũng không đẹp, hơn nữa đã kết hôn. Theo mệnh lí Đẩu Số phải giải thích thế nào?
Mệnh bàn
Cung mệnh an tại Tân Sửu, có Thiên Hình, đại vận đầu khởi từ năm tuổi. Cung phụ mẫu ở Dần có Phá Quân, Hỏa Tinh, Thiên Việt. Cung phúc đức ở Tân Mão có Linh Tinh. Cung điền trạch ở Thìn có Thiên Phủ, Liêm Trinh, Hồng Loan, Địa Kiếp. Cung quan lộc ở Tị có Thái Âm, Văn Xương Hóa Kị, Thiên Diêu. Cung nô bộc ở Ngọ có Tham Lang, Hữu Bật, Âm Sát, Địa Không, Thiên Khôi. Cung thiên di ở Mùi có Thiên Đồng, Cự Môn Hóa Lộc. Cung tật ách ở Bính Thân có Vũ Khúc, Thiên Tướng, Tả Phụ, Đà La. Cung tài bạch ở Dậu có Thái Dương Hóa Quyền, Thiên Lương, Văn Khúc Hóa Khoa, Lộc Tồn. Cung tử nữ ở Tuất có Thất Sát, Thiên Hỉ, Kình Dương. Cung phu thê ở Hợi có Thiên Cơ. Cung huynh đệ ở Tí có Tử Vi.
Mấy đặc tính của mệnh bàn
Ba cung mệnh, tật, phúc đều xung cung phu thê của nguyên cục, tượng trưng cho tính cách vốn không xem trọng danh phận.
Nữ mệnh tạo không bài xích chuyện nam nữ giao du; tuy trình độ học vấn không thấp, nhưng nàng không bị quan niệm xã hội hoặc lễ giáo trói buộc, chỉ cần hạnh phúc trong chuyện gối chăn, còn lại đều là thứ yếu.
Bản thân không lo lắng chuyện tiền bạc, có năng lực làm việc, cuộc sống tự lập tự túc, không dựa vào đàn ông cấp dưỡng, thuộc mẫu phụ nữ thời đại mới.
Vấn đề vứt bỏ quan niệm xã hội và lễ giáo, phân tích ở góc độ mệnh lí, là cách cục làm nhị phòng; nhưng không có nghĩa là ai cũng thuộc cách cục như vậy, bởi vì con người mới là nhân tố quyết định bản thân phải như thế nào.
Định tượng từ tứ hóa năm sinh
Nghiên cứu cách cục và tính cách của nữ mệnh tạo, trước tiên phải quan sát từ tứ hóa năm sinh, vì tứ hóa năm sinh là dùng để xem cách cục tiên thiên của một người; cách cục có tốt hay không đương nhiên sẽ ảnh hưởng đến quan niệm và hành vi hậu thiên.
Xem tứ hóa năm sinh ở cung nào để định tượng. Nữ mệnh tạo sinh năm Tân Hợi, can Tân có hai cung là cung phúc đức và cung mệnh; nói cách khác, cung dùng để định tượng là cung phúc đức và cung mệnh. Cung mệnh chủ về cá tính và hành vi, cung phúc đức chủ về thị hiếu, quan niệm và tư duy của mệnh tạo; tức mệnh cách tốt hay xấu đều do cách nhìn cuộc đời và hành vi của bản thân, không liên quan đến người khác.
Nữ mệnh tạo có Cự Môn Hóa Lộc năm sinh ở cung thiên di của nguyên cục, là ý tượng: ở bên ngoài rất có duyên với người, hơn nữa ra ngoài được nhiều quý nhân tương trợ. Thái Dương Hóa Quyền năm sinh cùng Văn Khúc Hóa Khoa năm sinh ở cung tài bạch của nguyên cục, là ý tượng: người này kiếm tiền trong lãnh vực chuyên nghiệp về khoa văn. Văn Xương Hóa Kị năm sinh ở cung quan lộc của nguyên cục là ý tượng: mắc nợ sự nghiệp hoặc công việc, rất cố chấp công việc, phàm việc gì cũng không yên tâm, phải đích thân làm. Ngoài ra, Kị ở cung quan lộc cũng chủ về không có bối cảnh nhân sự trong sự nghiệp, mà phải dựa vào nỗ lực của bản thân, nhưng khó thăng tiến; vì vậy nên đi làm hưởng lương, không nên tự sáng lập cơ nghiệp.
Ba cung mệnh, tật, phúc phi hóa
Cung mệnh và cung phúc đức đều là can Tân, khiến Cự Môn Hóa Lộc ở cung thiên di của nguyên cục. Cung thiên di của nguyên cục là cung vị tài bạch của cung phu thê, là ý tượng: đối xử tốt với người phối ngẫu và có trợ giúp cho sự nghiệp của người phối ngẫu. Chuyển phi Hóa Kị nhập Thái Âm ở cung quan lộc của nguyên cục rồi xung cung phu thê của nguyên cục, là chủ về vợ chồng không có danh phận chính thức.
Cung tật ách của nguyên cục là can Bính, phi Hóa Lộc nhập Thiên Đồng ở cung thiên di của nguyên cục, chuyển phi Hóa Kị nhập Thái Âm, cũng là nhập cung quan lộc của nguyên cục rồi xung cung phu thê của nguyên cục; ý tượng như nhau.
Đại vận ba mươi lăm đến bốn mươi bốn tuổi
Nữ mệnh tạo là vận đi thuận, hiện vào đại vận trùng điệp với cung điền trạch của nguyên cục. Quan sát cung phu thê của đại vận để biết xu hướng tình cảm: can Canh khiến Hóa Lộc nhập Thái Dương ở cung tài bạch của nguyên cục, tức cung nô bộc của đại vận; trong cung lại gặp hai sao Hóa Quyền và Hóa Khoa năm sinh, cấu tạo thành điều kiện tất yếu của tam tượng nhất vật.
Can Canh còn phi Hóa Kị nhập cung thiên di của nguyên cục và xung cung mệnh của nguyên cục, là ý tượng: không có duyên làm vợ chồng chính thức theo pháp định. Hóa Kị ở cung thiên di lại hùa theo tượng Văn Xương Hóa Kị năm sinh ở cung quan lộc của nguyên cục, cũng xung cung phu thê của nguyên cục, cũng là ý tượng: nữ mệnh tạo không có thân phận làm vợ chính thức. Cung quan lộc của nguyên cục cũng là cung vị tật ách của cung tử nữ; nói cách khác, chỉ là vợ chồng trên thực chất mà không có danh nghĩa, hơn nữa đối tượng giao phối là người đã kết hôn, cho nên chủ về làm nhị phòng.
Nguồn: Trung Châu Tử Vi Đẩu Số — Tứ Hóa Phái (Nguyễn Anh Vũ), Chương 11 "Luận đoán mệnh bàn thực tế", mục "Nữ mệnh sinh năm Mậu Thìn" và "Nữ mệnh sinh năm Tân Hợi".
