Bài tổng quan
Đinh Tiên Hoàng, Mạc Đĩnh Chi và những trang cuối cùng của cuốn sách
Không phải một con dái cá đã hiếp mẹ vua Đinh, mà là cả một nghi vệ loan kiệu không ai chạm tới được — có người đính chính chính sử của Đinh Tiên Hoàng, Mạc Đĩnh Chi, Lý Công Uẩn. Còn có hai lẽ dễ lầm nhất của người mới học: Dương cư Âm vị, và chuyện Đông Tây Nam Bắc sinh nhân...
Niên Nguyệt Nhật Thời được minh oan: không phải năm tốt tháng xấu thì số bị chiết giảm. Còn hai lớp lầm lẫn nữa cần gỡ: chuyện Dương cư Âm vị, Âm cư Dương vị, và chuyện Đông Tây Nam Bắc sinh nhân. Và có cả chuyện đính chính lại chính sử của mấy vị khai quốc.
Dương cư Âm vị, Âm cư Dương vị
Cũng như luận cứ số bị chiết giảm vì năm tốt mùa xấu, hay tháng tốt ngày xấu, còn có luận cứ Mệnh thuộc Dương hiềm cư Âm vị, hay Mệnh thuộc Âm hiềm cư cung Dương nên bị khắc chế mất nhiều. Nên gạt bỏ luôn việc luận định này: nếu như Mệnh thuộc Dương, cư cung Dương cũng còn phải xét xem cung Dương ấy vượng hãm ra sao, cũng như Mệnh thuộc Âm cư cung Âm thời cung Âm này miếu hãm ra sao, bởi Mệnh Âm cư cung Âm cũng cứ là hãm địa được và rất xấu.
Vả chăng việc lập Mệnh để biết quý, tiện, thọ yểu, thời phải căn cứ vào Mệnh hành ngồi ở cung nào là miếu hay bại địa và quy định vào các sao cư, chiếu để luận xét, vì thiếu gì trường hợp Âm Mệnh cư cung Dương vẫn phú quý, nhung lụa từ tuổi sơ sinh, và Âm Mệnh cư cung Âm mà khổ từ lúc sơ sinh cho tới lúc về chầu trời. Cho nên không thể nói bị khắc chế và chiết giảm vì năm, tháng, ngày, giờ, hoặc vì Dương Mệnh cư cung Âm, hay Âm Mệnh cư cung Dương được.
Hơn nữa, ở nhiều sách Tử Vi có nói: Mệnh Dương cư cung Dương nhưng vì Thân cư cung Âm nên bị khắc chế, chiết giảm. Thực ra, không bao giờ Mệnh cư cung Âm mà Thân cư cung Dương, hoặc Mệnh cư cung Dương mà Thân cư cung Âm được. Vì mười hai cung số, cứ tuần tự một cung Âm thời một cung Dương, mà Thân chỉ cư trên sáu cung Mệnh, Phu (Thê), Tài, Di, Quan và Phúc; nếu như Mệnh đã cư ở cung Âm thời năm cung kia cũng là cung Âm, và nếu cung Mệnh là cung Dương thời năm cung kia tất cũng phải là Dương cả. Như vậy Mệnh Thân nếu là Dương thì Dương cả, nếu là cung Âm thì Âm cả, không nên nhầm lẫn.
Đông sinh nhân và Tây Bắc sinh nhân
Một điều quan trọng gặp trên các sách vở là Đông sinh nhân, Tây sinh nhân, Đông Nam sinh nhân hay Tây Bắc sinh nhân, là nguyên do hàng Can Chi thường được định hướng: Đông phương là Giáp, Ất, thuộc Mộc; Nam phương là Bính, Đinh, thuộc Hỏa; Tây phương là Canh, Tân, thuộc Kim; Bắc phương là Nhâm, Quý, thuộc Thủy; Trung ương vi Mậu Kỷ Thổ.
Thí dụ người sinh năm Ất Mão: trong các sách Tàu hoặc các thuật số gia gọi là Đông sinh nhân, vì hàng can Ất là đông phương, chi Mão cũng phương đông. Người sinh năm Tân Dậu thường gọi là Tây sinh nhân, vì hàng can Tân thuộc tây phương, hàng chi Dậu cũng thuộc phương tây. Người sinh năm Bính Tuất thường gọi là Tây Nam sinh nhân, vì hàng can Bính thuộc nam phương, hàng chi Tuất thuộc phương tây. Người sinh năm Giáp Ngọ thường gọi là Đông Nam sinh nhân, vì hàng can Giáp thuộc đông phương, hàng địa chi Ngọ thuộc nam phương.
Cũng ví như ở môn học địa lý Bát Trạch, gồm các tứ dương trạch và tứ âm trạch cũng chỉ thường gọi là dương trạch hay âm trạch, nhất là về Hán tự thường nói và viết khác nhau, nhưng tựu trung phải hiểu rõ ý nghĩa Đông Tây Nam Bắc hay Tây Bắc sinh nhân, là tại sự phối hợp hàng can và chi. Vì can chi ấy ở phương vị nào, chớ không thể lầm lẫn sang việc sinh đẻ ở phương Đông, phương Nam, Đông Nam hay Tây Bắc được; giải nghĩa như vậy thì người học Tử Vi không biết đâu là ranh giới phân luận cả, vì thí dụ nước Nhật Bản cư về phương đông của địa cầu, thì tất cả người Nhật Bản đều được hưởng sự hay hoặc là xấu của cùng một hướng sao, nên xin hiểu lại vấn đề nêu trên, để tránh sự sai lạc về phương hướng sinh đẻ và sự cư ngụ theo hướng nữa. Còn về việc xây cất nhà cửa cổng ngõ là một môn địa lý dương trạch rất kỳ diệu và tỷ mỷ.
Vấn đề sử liệu lưu truyền hiện tại
Đức Đinh Tiên Hoàng
Cũng như dân ta đã bị sai lạc và thường đọc trong các sách: Đức Đinh Tiên Hoàng là con một con dái cá, vì bà thân mẫu bị dái cá hiếp. Thật là đau lòng, một bậc anh hùng, một vị tiên vương của dân tộc ta, giá trị đã bị hạ thấp như thế. Thực ra Đức Đinh Tiên Hoàng là con quan Thứ Sử Hoan Châu Đinh Công Trứ, một vị quan rất phúc đức, thấy nước loạn thời thường nhật luôn luôn khấn vái thiên địa, xin được một vị anh hùng cứu dân, độ thế, cũng do tiên tích đức nhi hậu tầm long, mà sau này ngài gặp được cơ duyên, có thầy địa lý để cho một ngôi âm phần kết phát cho Đức Đinh Tiên Hoàng.
Thời xưa, là vợ một vị quan Thứ Sử thời sự thâm nghiêm khuê các là sự hiển nhiên, bất kể du hành nơi nào cũng phải có nghi vệ loan kiệu, cờ lọng, kèn trống và vài chục quân gia tháp tùng, thì làm sao một con dái cá bé nhỏ có thể hiếp được. Sau khi thân mẫu mất, Tiên Hoàng về ở với chú ruột là ông Đinh Công Dự, cũng làm quan gia đình, chẳng những thuộc hàng quý tộc mà còn kiêm hào tộc ở đất Hoa Lư nữa. Ngôi mộ kết phát có địa đồ minh chứng là nơi sơn thanh thủy tú, thật thắng cảnh, được ghi lại:
Huyệt an long phúc
Hữu thủy thuận giang
Tả xa nghịch thăng
Hiềm sơn chiết cước
Nhất đại nhi chung.
(Trích Đinh gia ngọc phả.) Sau khi bị mưu sát cùng với con cả là Nam Việt Vương Đinh Liễn, quyền binh về tay Thập Đạo Tướng Quân Lê Hoàn. Hậu duệ của đại vương hiện nay là các họ Đinh, Quách, Bạch, Hà rất đông đảo từ Hòa Bình tới Thanh Hóa và đã di cư vào Nam, theo chế độ Lang Đạo cha truyền con nối. Trải qua hơn một ngàn năm, nước Nam mới thoát khỏi vòng nô lệ, có một chính thống triều đầu tiên, đã bình Chiêm và khiến nhà Tống phải kiêng nể, sách phong, nên mới có các triều Lê, Lý, Trần, Lê, Nguyễn hưng khởi sau này.
Bà Từ Thục phu nhân và hai ông Trạng cùng mẹ
Bà là con gái quan Hộ Bộ Thượng Thư Nhữ Văn Lan, đậu đệ tam giáp Tiến Sĩ năm Quý Mùi, tức là niên hiệu Quang Thuận thứ tư (1463) thời vua Lê Thánh Tông, người làng Yên Tử hạ, nay là làng Tiên Lãng thuộc tỉnh Kiến An, Bắc Việt, một vọng tộc mấy đời Tể Tướng triều Lê.
Tục truyền bà là người giỏi về văn chương, nhất là rành môn lý học, tự xem tướng mình, sẽ sinh con đại quý làm tới bậc thiên tử, nên kén chồng, mãi tới ngoài ba mươi tuổi mới kết hôn với ông Văn Định Công, người làng Cổ Am, huyện Vĩnh Lại, tỉnh Hải Dương, vì nhận thấy ông này có tướng sinh con đại quý. Bà sinh được cụ Trình Quốc Công năm Tân Hợi, dương lịch 1491, tức là triều vua Lê Thánh Tông, niên hiệu Hồng Đức năm thứ hai mươi hai. Bà xem tướng số, biết sau này con chỉ đỗ tới Trạng Nguyên và làm đến Tể Tướng là cùng, nên giao con cho ông Định Công và tái hôn với một người khác ở làng Phùng Xá (tức gọi là làng Bùng) huyện Thạch Thất, tỉnh Sơn Tây, sinh ra ông Phùng Khắc Khoan, năm Mậu Tý, dương lịch 1528, đời Mạc Đăng Dung, niên hiệu Minh Đức thứ hai.
Xét về phong tục Nho giáo, thời không thể nào bà Từ Thục phu nhân có thể làm được việc kỳ quái này, và hơn nữa, ông Văn Định Công đã có tới tước Công của triều đình, biết vợ có tướng sinh con đại quý, khó lòng chấp nhận cho bà tái hôn được. Giả như bà ba mươi sáu tuổi sinh cụ Trạng Trình năm 1491, lại sinh ông Trạng Phùng năm 1528, thời gian cách nhau ba mươi bảy năm, bà đã bảy mươi ba tuổi, như vậy không có phụ nữ nào còn sinh nở vào tuổi cổ lai hy được. Hơn nữa sử chép về ông Trạng Phùng Khắc Khoan thật rõ ràng; câu chuyện sinh hai ông Trạng cùng một bà mẹ lưu truyền trong dân gian và thường thấy ở sách sử, không thể chấp nhận được vì quá tổn thương cho nền lý luận Đông phương.
Đại văn nho Trạng Nguyên Mạc Đĩnh Chi
Ông Trạng Nguyên Mạc Đĩnh Chi, người xã Long Động, tổng Cao Đôi, huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương, là dòng dõi ông Mạc Hiển Tích và Mạc Kiến Quan, đỗ đầu bảng Thái Học Sinh, cũng như Trạng Nguyên, khoa Bính Dần và khoa Kỷ Tỵ là hai khoa thi đầu tiên của nước ta về triều nhà Lý, làm quan tới chức Thượng Thư. Ông Mạc Đĩnh Chi đỗ Trạng Nguyên khoa Giáp Thìn, dương lịch 1304, đời vua Anh Tông triều Trần; cháu bảy đời của ông là vua Thái Tổ nhà Mạc, tức vua Mạc Đăng Dung, đã phong tặng Kiến Thủy Khâm Minh Văn Hoàng Đế cho ông Mạc Đĩnh Chi.
Từ khoa thi Kỷ Tỵ tới khoa Giáp Thìn cách nhau ba mươi lăm năm, hai ông Mạc Hiển Tích và Mạc Kiến Quan quý hiển tột bực, danh Văn Trạng Nguyên khai khoa nước Việt, chức Thượng Thư, thật là một danh gia vọng tộc, mà nếu nói bà thân mẫu ông Mạc Đĩnh Chi lại nghèo hèn, phải đi kiếm củi, đến nỗi bị khỉ hiếp, thời sao có thể nuôi con ăn học đỗ tới Trạng Nguyên được. Hơn nữa, ngôi đất kết phát của dòng họ Mạc tại Long Động, được phê là "mộc bảng khai oa" kinh thiên bút, dài phỏng định bảy mươi bước, nên mới đắc cách văn chương thanh hiển tột bực như thế, chỉ hiềm quá thiên sang đông phương, không kiêm được Tốn hướng nên Mạc triều mới không được xếp là chính thống triều đối với lịch sử.
Đức Thái Tổ Lý triều, Lý Công Uẩn
Khi nhà Đường bị loạn lạc mất ngôi, hai ông Lý Khánh Vân và Lý Khánh Đản là hoàng thúc phải chạy qua Việt Nam lánh nạn, để tìm kế mưu phục tương lai; hai ông đều là nhà thông thiên văn, đạt địa lý, nên khi đi qua miền từ Đình Bảng Bắc Ninh tới Thăng Long, tất nhiên không lọt qua được sự hiểu biết của hai ông. Hoàng thúc Lý Khánh Vân, vì hài cốt gia đình bị thất lạc trên đường lưu vong, nên mới ngầm kết hôn với một cô gái và để ngôi âm phần tường vân ấp nguyệt, chỉ kết phát cho dòng ngoại, tại cánh đồng làng Đình Bảng mà sau này gọi là rừng Báng, tức là bà ngoại của Lý Thái Tổ. Hai ông định xưng là thiền sư, đã dạy dỗ tán trợ và mưu đồ công nghiệp sau này. Như vậy, Đức Thái Tổ Lý triều đâu phải là con hoang, nhưng vì hoàn cảnh đương thời.
Khi ngôi báu về tay Trần Cảnh, vì dòng họ Lý bị mưu sát tuyệt diệt bởi quân sư Trần Thủ Độ, nên ông Lý Long Tường là hoàng thúc bà Lý Chiêu Hoàng, chức Tư Không kiêm Binh Bộ Thượng Thư, thu bài vị gia tiên và ấn tín xuống chiến thuyền cùng gia nhân thân tín, định qua Trung Quốc, không may bị bão bạt qua Cao Ly, ít năm sau thắng giặc Mông Cổ được phong tặng chức Bạch Mã Tướng Công, dòng dõi thật là hiển đạt, cao sang, rất nhiều người đỗ Trạng Nguyên, Tiến Sĩ, kế tiếp tới nay là đời thứ ba mươi, đóng góp một phần lớn cho nền văn hóa Hàn Quốc. Vọng đài làm trên núi từ lúc ông Lý Long Tường còn sinh tiền, để hằng ngày bái vọng nam phương cố quốc, và đền thờ rất nguy nga tráng lệ ở Hoa Sơn tỉnh, được trùng tu cẩn thận, đến nay vẫn là các di tích tồn cổ của Hàn Quốc.
Như vậy phải chăng con người biệt phân vạn vật, có tâm óc hướng thượng, tuy nhập thế, nhất trần bất nhiễm vô lao, nhưng cũng phải mưu đồ mới có công nghiệp được, còn sự thành bại phải cộng thêm với yếu tố phong thủy, thời vận, nói chung là định mệnh, nhưng chỉ khác nhau, kẻ không biết tướng số khi thất bại thì đau đớn vô cùng, mà người thông lý học được yên ủi, bởi lẽ cùng thông thái bĩ thái, biết đãi thời nhi phát, âu cũng là sự đại ích vậy.
Trên đây chỉ là các sự kiện nêu lên để nhận xét được sự chân giả, để đính chính lại bao nhiêu gương anh hùng, tiết liệt của dân tộc ta đã bị bọn đô hộ chủ mưu xuyên tạc, và mang tâm băng hoại bằng văn hóa sai lạc, in các man thư để đầu độc, nên nhà Minh đã sai các tướng Trương Phụ, Hoàng Phúc tận thu các sách vở quý báu của ta, và phải nộp cả đến những thợ thuyền thuộc các nghề tinh xảo vào các kỳ cống tuế nữa, kể cả các thầy bói danh tiếng, nói tóm lại tất cả các tinh hoa của dân tộc ta. Thanh triều dưới thời Càn Long mới biệt thái giáo sư Văn Chính Quốc Công và Minh Thái Sư Văn Thành thu nạp, in các sách, dành riêng cho nhà vua, gọi là quân vương chi đạo, tể phụ chi học, mà các đại thần cũng không được biết tới, không thiếu chi những đại thần vì vi phạm đã bị tử hình. Họ in các man thư để đầu độc Cửu Di, Bát Man và người da chủng khác; sự việc Càn Long du Giang Nam, phải chăng là Càn Long đã ngầm sợ sự lai vãng của người da trắng Tây phương hiệp cùng Cửu Di, Bát Man để thôn tính thiên quốc Trung Hoa vậy.
HẾT.
Nguồn: Hà Lạc Dã Phu Việt Viêm Tử, Tử Vi Áo Bí Biện Chứng Học.
