Bài tổng quan
Cự Môn, ông vua thứ ba, và Thiên Đồng trẻ mãi không già
Ai cũng sinh ra giữa ba ông vua mà ít người nhìn thấy: ở nhà là cha mẹ, ở trường là thầy cô, còn ông thứ ba thì xã hội nào cũng có. Trên lá số, ông ấy là kẻ cầm đầu một phe, hay cãi và ưa quay lưng. Còn bên cạnh luôn có một người bạn đồng hành, giống ta đến mức khó biết ai là ai…
Mục lục · 7 phần
- 01Cự Môn, ông vua thứ ba trên lá số
- 02Cự Môn chủ can gián, phản đối, phản bội và phản động
- 03Cự Môn chủ cửa chính, Tang Môn chủ cửa sau
- 04Những câu phú về Cự Môn
- 05Thiên Đồng, ngôi sao thông minh và trẻ mãi không già
- 06Giống nhau, bắt chước, cùng chung và đồng hành
- 07Thiên Cơ chủ riêng, Thiên Đồng chủ chung
Ai cũng sinh ra giữa ba ông vua mà ít ai nhìn thấy: ở nhà là cha mẹ, ở trường là thầy cô, còn ông thứ ba thì xã hội nào cũng có, chỉ khác cách gọi. Trên lá số, ông thứ ba ấy là kẻ cầm đầu một phe, hay cãi và ưa quay lưng. Còn bên cạnh ông lại luôn có một người bạn đồng hành, giống ta đến mức khó biết ai là ai…
Cự Môn, ông vua thứ ba trên lá số
Hai ông vua đầu tiên: Tử Vi là nhà lãnh đạo của nhóm Tử Phủ Vũ Liêm Tướng, Phá Quân là vị quân vương của nhóm Sát Phá Tham. Ông vua thứ ba, và cũng là vị cuối cùng, là Cự Môn, đại diện cho nhóm Cơ Nguyệt Đồng Lương và Cự Nhật. Ông này hơi khó bàn nhưng không tránh đi đâu được.
Việc đặt cho Cự Môn một danh xưng chính danh cũng rắc rối tơ vò. Gọi là người cầm đầu e Phá Quân giận, vì cầm, nắm, bắt là việc của ngài. Gọi là người đứng đầu e Thiên Khôi giận, vì Thiên Khôi chủ đứng đầu. Gọi là người đứng trước thì Kình Dương lại bảo là khiêu khích, vì Kình chủ đi trước. Triết tự giải ra: Môn là bè đảng, phe phái, Cự là to lớn. Cự Môn là người đứng đầu một đảng, một phe, một nhóm, đến một tổ chức. Vậy thì Cự Môn là lãnh tụ, ngang hàng với nhà lãnh đạo Tử Vi, ngang vai với quân vương Phá Quân.
Như vậy ta có ba ông vua, cũng như Phật giáo có ba vị Phật quá khứ, hiện tại, tương lai, hay đạo Thiên Chúa có ba ngôi Cha, Con, Thánh Thần. Khi ra đời ta cũng có ba ông vua cai trị mà vội vàng không nhìn thấy: trong nhà là cha mẹ, đến trường là thầy cô, còn vị thứ ba thì xã hội nào cũng có. Mệnh, Tài, Quan mà có ba sao ấy đều có khả năng làm vua. Nhưng ông vua nào trước hết cũng phải làm cha làm mẹ, làm chủ một gia đình: tu thân, tề gia, trị quốc rồi mới bình thiên hạ, đúng đường lối Khổng Tử.
Cự Môn chủ can gián, phản đối, phản bội và phản động
Ngồi ở vị trí ông vua thứ ba nghĩa là đứng ở giữa, phe nào cũng được và phe nào cũng chống được.
Ngoài ba sao đầu, nhóm Cơ Nguyệt Đồng Lương bị cổ nhân phê là "tác lại nhân", tức người làm quan lại nhỏ. Đó là quan niệm cách đây hơn hai nghìn năm: làm quan lớn thì tốt, quan nhỏ thì xấu. Thực tế đó là những nhà khoa học không ưa dính dáng chính trị, hưởng cuộc sống an nhàn, thích nghiên cứu trong sách vở. Nhưng khi có Cự Môn hội họp thì khác. Vì thế mới có Lê Lợi vô chính diệu có Cự Môn xung chiếu với Hội thề Lũng Nhai, Lê Uy Mục có Cự Môn tại Mệnh, ông Nguyễn Cao Kỳ có Cự Môn tại Quan với đám đàn em không quân, Nhất Linh có Cự Môn cư Tài lãnh đạo một nhóm Quốc dân đảng.
Cự Môn là sao đứng hàng đầu thị phi chi diệu. Nói đến Cự Môn là nói đến bất mãn, chê bai, chỉ trích, cự cãi. Tùy trường hợp mà đó có thể là can gián, can ngăn, tùy vào hung, cát, quyền tinh mà có quyền can gián hay không. Ngày xưa các vua có đầu óc dân chủ rất coi trọng chức vụ này, còn vua độc tài thì chức ấy dễ bị dẹp bỏ, hoặc có cũng chỉ cho có.
Từ can gián, phản đối đến phản bội đôi khi chỉ một bước ngắn. Phản bội nghĩa đen là xoay lưng lại: hôm trước còn xoay mặt vào nghe ta nói, hôm nay xoay lưng đi theo người khác. Vì thế bề tôi của vua thường đi lùi vài bước mới dám xoay lưng. Từ phản bội theo người đến phản động đem quân chống lại cũng chẳng mấy xa, xem truyện Tàu thì thấy là chuyện thường. Chạy từ phòng tuyến này sang phòng tuyến kia, biến thù thành bạn, lấy bạn làm thù, chơi chán chạy về lại lấy thù làm bạn lần nữa, nên sao này có tính phản trắc rất cao, sớm đầu tối đánh. Như người vợ theo trai chán chê rồi lủi thủi về lại mái tranh nghèo bên ông chồng, như người con trai mê bùa mê thuốc lú tỉnh ra: ta về tắm lại ao ta, dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn.
Cự Môn chủ cửa chính, Tang Môn chủ cửa sau
Kẻ hay chống đối ấy thường đứng ngay trước một cánh cửa, và cánh cửa nào cũng kể được một câu chuyện.
Trong nhà cửa, Cự Môn chỉ cửa chính, cửa lớn, cửa trước, còn Tang Môn chỉ cửa sau, cửa phụ. Cự Môn gặp Tang Môn là cách Lưỡng Môn. Ngày xưa cửa một cánh gọi là hộ, cửa hai cánh gọi là môn. Cửa sau dùng cho người địa vị thấp, và đôi khi bị ai đó dùng vào mục đích bất chính, nên có câu "đưa người cửa trước, rước người cửa sau". Từ cái cửa ta đoán ra cái nhà. Ngọ Môn, Thiên An Môn đằng sau đó là cung cấm. Có cửa ngõ rất đơn sơ, có khi chẳng có vì có gì đâu để mất. Ở Huế nhìn cái cổng mà biết quan chức của người ở trong. Cách Lưỡng Môn chưa chắc đã hay, vì đó là dấu hiệu bất chính, chia rẽ. Không có dấu hiệu ấy mới là thật tuyệt.
Những câu phú về Cự Môn
Cổ nhân đã đóng những lời cảnh báo về Cự Môn thành từng câu phú.
Cự Môn định chủ thị phi.
Cự Cơ chính hướng hạnh ngộ Song Hao, uy quyền quán thế.
Cự phùng Tồn tú, cát xứ tàng hung.
Cự Môn tứ sát hãm nhi hung.
Cự Hỏa Kình Dương, chung thân ải tử.
Cự Hỏa Kình Dương Đà La, phùng ác diệu tử ư ngoại đạo.
Cự Môn ngộ Đà La tất sinh dị chí. Thiên Đồng Cự Môn Hỏa Tinh tất sinh dị chí.
Cự Môn Dương Đà ư Thân Mệnh, loa hoàng khốn nhược đạo nhi phá đãng.
Câu này hàm ý tuổi nhỏ ưa nặng chứ không ưa nhẹ, loa tức là la, con la, la hoàng là con la còn bé.
Cự tú Thiên Cơ nhi phá đãng.
Kỵ Hao chỉ ngộ Cự Môn tất hoại tổ tông chi nghiệp.
Cự Môn Hóa Kỵ giai bất cát, Mệnh Thân Vận Hạn kỵ tương phùng.
Thiên Đồng ngộ Kiếp Không bất cát, Cự Môn phùng Đà Kỵ tối hung.
Cự Kỵ nên tránh đò sông, Phục Binh Hình Việt mắc vòng binh đao.
Tuế Đà Cự Kỵ phận nghèo, một thân lên thác xuống đèo không yên.
Kình Đà Linh Hỏa cùng ngồi, với sao Cự tú trọn đời tai ương.
Cự gặp Hổ Tuế Hình viên hội, ấy là nghề thầy kiện quan tòa.
Cự Môn thủ Mệnh ngộ Kình Dương, Linh Hỏa phùng chi sự bất tường, vi nhân tính cấp đa điên đảo.
Phụ Cáo hoan ngộ Tướng Ấn, ố kỵ Cự Đồng, nhược ngộ Khôi Xương cử khoa ngao đầu tất chiếm.
Dương Cự Hao thật không lành, chồng con phối hợp bất thành hôn nghi.
Kiếp Phù Khốc Khách mạc ngộ Cự Nhật, chung thân đa lệ phối duyên.
Thiên Đồng, ngôi sao thông minh và trẻ mãi không già
Sau một chuỗi lời cảnh báo nặng nề, ta chuyển sang một ngôi sao nhẹ nhàng hơn, ngôi sao của những đứa trẻ.
Thiên Đồng luôn tam hợp với Thiên Cơ bên trái và nhị hợp với Tham Lang, thuộc chòm Tử Vi, hành thủy, tính dương. Ngôi sao được mô tả là thông minh, thông suốt sự việc. Khi thông suốt mọi việc ta gọi là quán triệt, nghĩa là thấy tận đáy vấn đề. Tuy nhiên công bằng mà nói, sao nào cũng thông minh: Tử Vi không thông minh sao có năng khiếu lãnh đạo, Sát Phá Tham không thông minh sao biết thăm dò khám phá, Cự Môn không thông minh sao biết cự cãi và đặt vấn đề đúng chỗ, Vũ Khúc không thông minh sao được tôn là sao tài ba. Chỉ là để thông suốt một vấn đề thì Thiên Đồng nắm bắt rất nhanh.
Đâu đó thỉnh thoảng ta nghe có thần đồng xuất hiện với năng khiếu lạ lùng, khiến nhà khoa học bóp đầu bóp trán. Thần đồng là cách Thiên Đồng cộng với Hỉ Thần.
Thiên Đồng còn là con nít: thiên nghĩa là thiên về, đồng là con trẻ. Vì thế gọi là "trẻ mãi không già". Người cao tuổi hỏi tâm hồn mình có già không thì đa phần trả lời già tóc, già tai thôi. Nhiều ông Thiên Đồng mới sáu bảy chục tuổi vẫn karaoke, vẫn thích gọi nhau mày tao, vẫn nhắc chiến tích quậy phá thời trẻ. Nhiều bà Thiên Đồng ngũ, lục tuần cầm micro hát tình ca, quên mất nên chọn bài ca ngợi quê hương cho hợp. Nghịch lại, người có Thiên Phủ thì luôn suy tư như một cụ già. Câu phú viết:
Thiên Đồng nhập Mệnh, hoán cải vô thường.
Hoán cải vô thường là thay đổi bất thường, mà trong đó có cả mốt, mẫu, mô-đen, những chữ M gây bao tốn kém lãng phí. Thay đổi thất thường chính là con nít. Trên blog, trên web, Thiên Đồng cũng dễ bị nhận ra: hôm qua trình bày thế này, mai lại màu sắc khác, thoáng cái đổi biểu tượng đại diện, thiên biến vạn hóa.
Giống nhau, bắt chước, cùng chung và đồng hành
Nói đến trẻ con thì phải nói đến việc ai cũng giống ai, và chẳng ai đi một mình.
Thiên Đồng cũng là sao của giống nhau. Hỏi "sao giống cha thế" thì trả lời bằng sao Thiên Đồng tại Mệnh hay hội họp tại Mệnh: có Thái Dương thì thiên về giống cha, có Thái Âm thì giống mẹ, có cả hai thì sinh ban ngày giống cha, sinh ban đêm giống mẹ. Sao này cũng hay bắt chước, ai làm sao thì làm vậy, nhưng không có nghĩa chuyên sản xuất hàng nhái, vì khi có Đào Hoa nó còn là sao sáng tạo. Ăn mặc giống nhau, trang điểm giống nhau, bệnh hoạn giống nhau, tai họa giống nhau: Thiên Đồng ngầm cạnh tranh cho kịp người, không thua kém chúng bạn, người ta có xe đẹp thì mình cũng cần xe ngon.
Thiên Đồng cũng là sao của cùng chung, cùng nhau, đồng minh, đồng thuyền. Cùng nhau sống đến bạc đầu, cùng nhau chống mafia, cùng nhau hưởng phúc thanh nhàn. Nhưng cũng có những cái cùng đáng sợ như cùng gặp nạn, cùng chết một lúc như những vụ tai nạn tập thể, hỏa hoạn, thiên tai. Một phần ba số người có cách tai họa tập thể nằm đâu đó trên lá số, riêng ở Mệnh khoảng một phần chín. Nói đến Thiên Đồng luôn có đồng môn, đồng minh, đồng chí, đồng hương, đồng bọn, đồng lõa bên cạnh, và vì thế sao này giống Tham Lang, nên hai sao nhị hợp với nhau.
Cái cùng nhau dễ gặp là cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha. Đó là lý do người ta cho rằng cung Huynh Đệ có nhóm Cơ Nguyệt Đồng Lương thì có anh em dị bào, cung Tử Tức có nhóm sao ấy thì có hai dòng con. Khi mất tác dụng hay phản tác dụng thì thành không được cùng nhau, không muốn cùng nhau, hoặc cùng chung hoạn nạn, không đội trời chung với bè lũ chúng nó, hoặc cùng chết bên nhau như bài thơ nói sinh chẳng cùng năm, chết cùng ngày.
Cùng chung là một yếu tố tưởng dễ mà không dễ. Cùng một mái nhà mà anh em ghét nhau, cùng một mẹ mà mẹ yêu đứa này ghét đứa kia, cùng một dòng sông mà người uống nước trong, người dùng nước đục, cùng một chiến hào mà đôi khi bắn nhầm nhau, cùng một chiến tuyến mà địch lại ở cạnh ta, cùng một màu áo mà dưới màu áo ấy có kẻ mang màu áo khác. Cùng quê, cùng trường, cùng lớp, cùng thầy, cùng sách, rồi đường đời bạn đi một lối, tôi đi một ngả. Cũng có bạn cầm súng về bắn nhau, người thầy ngơ ngác: thầy có dạy các em bắn vào nhau đâu. Nhưng luật chơi không cho phép nhân ái: bắn chậm thì chết, hết đạn thì chạy, thầy đứng đó cũng chết.
Thiên Cơ chủ riêng, Thiên Đồng chủ chung
Giống nhau và cùng chung nhắc ta nhớ đến cặp song sinh luôn đứng đối diện của Thiên Đồng, là Thiên Cơ.
Ta thường nói việc riêng việc chung, con riêng con chung. Trên mạng có thư mục riêng, thư mục chung. Ngoài đời có xe chung làm việc riêng, có người đi việc riêng mà xài tiền chung. Cái riêng có cái xấu mà cũng có cái đẹp, như đem cái riêng đẹp của mình cho thiên hạ dùng chung, đem công sức mình cho thiên hạ dùng chung. Riêng và chung, vậy là những sao nào? Thiên Cơ chủ riêng, Thiên Đồng chủ chung, và hai sao này luôn tam hợp với nhau. Khi Mệnh hay Hạn đến một trong hai sao ấy, ta dễ rơi vào hoàn cảnh riêng và chung. Có người mạnh dạn lấy của chung làm của riêng. Có người đem thân thể riêng tư của mình để mọi người chung nhau nhòm ngó. Có người làm kiếp vợ chung, có người chồng chung, như câu "chém cha cái kiếp lấy chồng chung, kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng". Riêng còn gọi là tư, chung còn gọi là công, như thành ngữ "chí công vô tư".
Từ đó chia ra việc nghĩa, việc thiện, việc phúc. Việc nghĩa là thấy người hoạn nạn đưa tay giúp, xong lên ngựa để lại đám bụi mù, không để lại tin nhắn hay địa chỉ, như nghĩa quân của Lê Lợi hay những người gìn giữ báu vật của vua Hàm Nghi. Thiên Tướng chủ thương yêu tương trợ, giúp cái cần câu để bạn câu cá kiếm ăn chứ không giúp tiền để bạn mua á phiện. Thiên Cơ chủ việc thiện, thường gặp Thiên Lương chủ từ tâm, nên gọi là từ thiện, như lá cờ Hồng Thập Tự: không phân biệt bạn thù, tôn giáo, chính kiến, thấy đói cho ăn, thấy bệnh cho thuốc, không khoe khoang, không quay phim chụp ảnh. Thiên Đồng chủ việc phúc, như bố thí cho người đang đói. Phú Hán có câu:
Phúc phùng Việt diệu định thị hải hà dục tú.
Phúc là tên riêng của Thiên Đồng, ngoài đời ta gọi là người tốt bụng. Nhưng không phải ai có ngôi sao này cũng được vậy, có người bụng dạ hẹp hòi, bụng dạ nham hiểm, miệng nam mô bụng một bồ dao găm. Nó chỉ đẹp khi có Thiên Việt, thành tấm lòng quảng đại như sông như biển.
Thiên Cơ chủ đói, Thiên Đồng chủ no, hai sao tam hợp nên có cả hai thì không lo phần đói, và từ bộ này dễ gặp Thiên Lương chủ lương thực, lương tiền. Chữ Phúc trong Hán tự gộp ba chữ nhất, khẩu, điền: một người ăn một miếng ruộng. Không bị dày vò bởi cơn đói là phúc rồi. Thiên Đồng đi với sao nhỏ như Tiểu Hao là phúc nhỏ, đi với Đại Hao là phúc lớn, đi với Đại có Hồng Loan là Đại Hồng Phúc, đi với Việt là phát phúc, đi với Không Kiếp là phúc họa khôn lường.
Thiên Cơ còn là hỏi, Thiên Đồng là đáp, hai sao luôn nhìn thấy nhau. Thấy Thiên Cơ mà không thấy Thiên Đồng là hỏi mà không ai đáp lại, hỏi ma thì có. Khi hỏi biến thể thì thành chất vấn, cật vấn, biến hình thành hỗn. Khi đáp biến thể thì thành trả lời, đáp trả, biến hình thành chửi lại. Chuyện đối đáp giữa Đặng Trần Thường và Ngô Thì Nhậm cũng thế: một vế ra đối là tư thù, rồi đánh chết để tiếng oan chung cho triều đại, vì tư là Thiên Cơ, thù là Thiên Khốc, oan chung là Khốc Đồng.
Nguồn: Tử Vi Bửu Đỉnh – Chính Tinh.
