Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Cách cục

Bài tổng quan

Cự Đồng Sửu Mùi: cùng một cổng mà bằng mặt không bằng lòng

Tử Vi Nam Phái - Cách cục01/10/202616 phút đọc3 lượt đọc
Cự Đồng Sửu Mùi: cùng một cổng mà bằng mặt không bằng lòng

Có những cặp vợ chồng sống với nhau đến đầu bạc răng long, ai nhìn vào cũng ngỡ là hạnh phúc. Nhưng cả hai đều không tìm được hạnh phúc ấy, và cũng chẳng ai bỏ ai, chẳng than van với ai. Một sao nói không, một sao đáp có, và trên lá số của mọi người đều có chỗ cho hai ông này cãi nhau…


Có những cặp vợ chồng sống với nhau đến đầu bạc răng long, đi với nhau hết cả cuộc đời. Thoạt nhìn ai cũng ngỡ là hạnh phúc, nhưng cả hai đều không tìm được hạnh phúc ấy, và cũng chẳng ai bỏ ai, chẳng than van với ai. Một sao nói không, một sao đáp có, và trên lá số mọi người đều có chỗ cho hai ông này cãi nhau…

Cự Đồng: đồng môn hay bất đồng

Bộ Cự Đồng gồm hai sao Thiên Đồng và Cự Môn. Đây là bộ sao quan trọng và luôn có mặt trên mọi lá số, ít ra cũng có hai cung chịu ảnh hưởng bộ Cự Đồng, như trường hợp Cự Đồng ở Thìn Tuất, nó gây ra sự bất đồng ý kiến đến chính kiến. Ở đây bàn về Cự Đồng ở Sửu Mùi nhưng có thể áp dụng một số ý cho các trường hợp Cự và Đồng hội họp, như Cự tại Tỵ Hợi, Đồng tại Mão Dậu, Vô Chính Diệu tại Dần Thân có Đồng Lương xung, Cự Cơ Mão Dậu, Vô Chính Diệu có Nhật Nguyệt xung. Các trường hợp ấy đều chứa bộ Cự Đồng bên trong.

Cự Đồng là đồng môn. Ngày nay ta hiểu đồng môn là cùng một trường, nhưng ở đây hiểu theo nghĩa xưa: người cùng ra vào chung một cái cổng. Cổng ấy có thể là cổng chùa, trường, hay tổ chức bất kỳ. Ngôn ngữ phong phú cho ta phân biệt đồng đạo, đồng chí, đồng môn, đồng bạn, đồng bào, đồng bọn, nên chữ đồng môn mang nhiều ý nghĩa.

Bằng mặt mà không bằng lòng, rút lui và chống lại tổ chức

Cùng bước vào một cánh cổng chưa chắc đã cùng bước ra bằng một tấm lòng.

Thiên Đồng ưa tìm đến một tổ chức để tham gia (trừ khi ngộ Triệt thì ít tham gia), rồi phát sinh bất mãn khi đường lối, chủ trương không phù hợp. Nhẹ nhàng nhất là bằng mặt mà không bằng lòng, vẫn tồn tại trong tổ chức mà trong lòng cảm thấy xa cách, "chung trời mà cách biệt", đồng sàng dị mộng. Cao hơn là rút lui khỏi tổ chức, tự mình từ bỏ. Tình huống xấu là mang tiếng bỏ tổ chức, tức phản bội, vì trước tham gia nay xoay lưng lại. Bởi vậy khi gia nhập một tổ chức hay đoàn thể nào cần nghĩ chín chắn, có khi vào dễ mà ra rất khó. Cao hơn nữa là cùng tồn tại với tổ chức nhưng chống lại bằng thái độ, quan điểm. Có hai trường hợp: chống để xây dựng cho tốt hơn, và chống chỉ để chống. Bất mãn mà không thông cảm thì chỉ thấy cái bất đồng, không thấy cái cần là chung tay góp sức. Tình huống xấu là bị mang tai tiếng chống lại tổ chức, cái họa càng lớn, có thể bị khai trừ khỏi tổ chức.

Cự Đồng khi tán đồng, khi phản đối, là cách bất đồng, bộ sao thị phi rất trầm trọng. Một sao chủ phản đối, một sao chủ đáp trả, luôn có Thiên Cơ cật vấn tam hợp. Một sao phản đối, một sao đồng ý, nên khi tán đồng khi phản đối với tính cách thất thường, làm tính thị phi luôn sẵn có. Rất kỵ các sao ngôn ngữ thị phi khác hội họp như Tuế Hổ Phù, Phi Liêm, Hóa Kỵ, đại kỵ bộ Cáo Phụ. Đi với sát tinh Không Kiếp thì mang họa, với Hình tinh thì mang tội.

Không thông suốt vấn đề thì cật vấn để tìm hiểu. Khi thông suốt mà không hài lòng với đường lối ấy thì phản đối. Từ phản đối, bộ sao này tìm cách thông đồng với ai đó để kiếm đồng minh, dễ sinh phản bội. Thông đồng và phản bội là đây, rồi phản bội tập thể, phản bội cộng đồng. Nhẹ là thông đồng phản đối, cao hơn hết không phải phản bội mà là lật đổ. Nói đến lật đổ ta nghĩ lật đổ một chính quyền hay một chế độ, nhưng có lần người viết nghe mẹ nói "con nớ là đứa lật chồng", nghĩa là công dân hạng bét cũng bị lật đổ, một cuộc đảo chính trong gia đình. Vấn đề là ai đảo chính ai, ta gây ra hay ta bị. Mệnh tại đây ta là người có khuynh hướng tạo phản mà cũng là kẻ bị hại. Có câu:

Cự hãm tứ mộ đa ngôn, phản phúc nghi hoặc học càng tối tăm.

Đa ngôn là nói nhiều, lại nói tầm bậy, cái gì cũng nghi ngờ, cái gì cũng phản đối, đến vô tình hay cố ý phản bội người. Hạn tại đây nếu Mệnh cung có cát tinh cũng phải đề phòng bị phản bội.

Xa cách, chi phái, và tập thể nhỏ phản bội tập thể lớn

Khi người ta không thể bằng lòng nhau, thứ đầu tiên nẩy sinh là một phe mới.

Cự Đồng là hình ảnh xa cách với ai đó hoặc tổ chức đoàn thể, và từ đó sinh ra chi phái, hệ phái, học thuyết, phe phái na ná nhau mà không phải nhau. Trong Tử Vi cũng có nhiều phe phái: phe chính thống, phe giang hồ. Để phe mình có nét đặc biệt thì phải thay đổi, chế ra, thêm vào (do Thiên Đồng ưa sáng tạo khi có Đào), có khác biệt mới gọi là phe, là phái. Mặc kệ ông Trần Đoàn ngẩn ngơ nhìn lũ môn đồ thêm thắt sửa đổi theo ý chúng, thật ra thời Trần Đoàn Tử Vi cũng loạn xị như thời nay, ông có công san định lại. Nhìn tôn giáo cũng vậy: cùng thờ Thiên Chúa mà có Tin Lành và Công giáo, Phật giáo có Bắc Tông, Nam Tông, và đi sâu vào Bắc Tông lại có các chi phái khác. Các Thiên Đồng không bao giờ ngừng nghĩ sáng tạo để trở thành Cự Môn kẻ đầu lĩnh.

Cách này cũng là cá nhân hay một tập thể nhỏ phản bội lại cộng đồng, tập thể lớn hơn: trong gia đình thì phản bội gia tộc, trong tổ chức thì tập thể nhỏ phản bội tổ chức lớn. Ví dụ công ty vì lợi ích riêng làm hàng kém chất lượng gây nguy hại cho người tiêu dùng, khiến người tiêu dùng quay lưng. Vì lợi ích của làng xã gây bất lợi cho tỉnh, cho nước. Vì lợi nhuận của đơn vị gây ô nhiễm môi trường khiến cộng đồng phản đối. Cự Đồng còn là nơi xung đột giữa cái chung và cái riêng, giữa lợi ích tập thể và lợi ích cá nhân, mà ranh giới hai chữ chung riêng cũng mơ hồ: lợi ích tập thể va chạm lợi ích quốc gia, lợi ích quốc gia va chạm lợi ích quốc tế.

Bất đồng, bất mãn đến phản bội: ba mức của sự phản đối

Sự bất mãn nào cũng có nhiều mức, từ thái độ đến lời nói đến vũ khí.

Bất mãn ai đó, ta thường bày tỏ bằng thái độ, tức có Thái Tuế. Cao hơn là phản đối bằng đơn thư, với điều kiện phía gửi đi là ta, tức có Tấu Thư đồng cung hoặc tam hợp; nếu sao này xung thì ta bị tố. Cao hơn một chút là dùng lời mà nói, cần Thanh Long chủ tiếng nói, hình thành cách Cự Thanh, tiếng nói phản đối âm thanh lớn, nên là cách hay. Không có gì buồn bằng bất mãn mà không dám nói, có miệng không nói chẳng khác có tai không nghe, có mắt không thấy. Đó là cách Cự Đồng có Hư, biết mà giả như không biết, giả điếc giả câm mà sống, như tam Không, không nghe, không thấy, không nói để khỏi mang họa. Dài dòng như vậy để thấy cách Cự Thanh là hay và táo bạo.

Nhưng bất mãn chưa lên tới cao trào. Cao nhất là cách Cự Binh, tức khởi binh. Vì nói cũng vô ích, chỉ còn dùng binh lực để giải quyết, chẳng lẽ kêu gào lòng nhân ái của ngoại bang xâm lược hay bạo chúa hung tàn. Và quan trọng: không phải thấy Cự Môn là vội cho phản bội. Phản bội là trước theo, nay xoay lưng theo kẻ khác. Với quân xâm lược, với bạo chúa cai trị thì phải gọi là kẻ chống đối, kẻ kháng chiến, kẻ bất đồng chính kiến. Nếu trước đây là tay chân của bạo chúa thì phản bội lại y cũng nên, nếu không sẽ là kẻ trợ ác, tiếp tay cho kẻ xấu. Phản bội đôi khi cũng cần thiết.

Đây còn là cách trong lòng bất mãn nhưng không bày tỏ công khai, cũng chẳng âm thầm bày tỏ với ai, lặng im toan tính suy tư, chỉ mình mình biết. Có thể qua đi khi hạn qua, cũng có thể chôn vùi theo thân xác xuống nấm mồ. Có biết bao người sống với bạo chúa, cường quyền như Tào Tháo hay Đổng Trác đến hết đời, nhưng chắc chắn đa số không hài lòng. Cũng có những mối tình đầu bạc răng long mà thật ra là đồng sàng dị mộng, có khi cả hai chấp nhận, có khi chỉ một phía. Như Tào Tháo chỉ thấy hạnh phúc vì cai trị được đám quan lại của vua Hán Đế, còn Hán Đế thì hãi hùng vì y, huống chi đám quan lại.

Khai thông bế tắc, đồng khởi, và sờ mó cơ thể trẻ con

Không phải cuộc cãi nào cũng dẫn tới đổ vỡ, có cuộc cãi cuối cùng mở ra lối.

Do tính chất cùng nhau cự cãi, bộ Cự Đồng hầu như bế tắc. Nhìn các hoạt động chính trị trên thế giới ta thấy rất rõ: lôi được các ông tới bàn hội nghị đã khó, mỗi ông lại nói mỗi đường, họp chưa vào đề đã tan cuộc, tái họp lại tái phản đối không thống nhất. Đến khi mỗi bên gác bỏ bớt riêng tư (Thiên Cơ) vì cộng đồng, thông suốt vì lợi ích chung thì gọi là khai thông bế tắc. Đó là nhờ có Triệt tốt, nhưng nếu có Kỵ thì là khai trừ.

Đồng khởi là cách khi tốt thì cùng chung tay góp sức khởi công, khởi sự, làm nhiều việc một lúc. Trong quân sự, đồng khởi tấn công nhiều hướng khiến địch tối tăm mặt mũi không biết đâu là điểm, đâu là diện, đâu là chính, đâu là kỳ. Khó tìm thấy sự đồng tâm nhất trí để cùng bắt tay, đó là các trường hợp bộ sao này đi với Thanh Long, Phục Binh hay Tang Môn. Ngay cả Cự Đồng đồng cung với Tang Môn cũng hàm chứa sự chia rẽ nhưng mức độ không trầm trọng, có thể đánh giá là tốt.

Nghiên cứu các lá số, lá nào cũng có bộ Cự Đồng nằm đâu đó. Vì thế có người bất mãn với xã hội, có người bất mãn với gia tộc, gia đình, bạn bè, không ai thoát. Có người hạn đến Cự Đồng tác oai tác quái làm chuyện kinh thiên động địa, lại có người hạn đến bộ này rất thê thảm, bị giết hại loại trừ vì gặp bộ Kỵ Đà gia Không Kiếp hay Kỵ Hình gia Không Kiếp.

Sờ mó, tiếp xúc với cơ thể con nít là các bác sĩ, y tá, nhũ mẫu, cô nuôi dạy trẻ, và nơi tổ chức vui chơi trẻ con. Trẻ con ở nhiều quốc gia chiếm một phần ba dân số. Dưới mắt người xưa, kẻ tiếp xúc với con nít là hạ cấp, nên mới có câu "Cự Cơ Sửu Mùi vi hạ cách", còn thượng cách là cai trị nhân dân. Hạn chúng ta có cách này cũng dễ thêm con, thêm cháu, hoặc phát sinh những công việc liên quan. Khi thất thế thì chủ xa cách con cái, hoặc về nhà giữ con, dễ cãi nhau với con nít.

Người tuổi Tân và cách Cự Môn tại Tứ Mộ

Có câu phú:

Tân nhân tối ái Cự Môn, nhược lâm tứ Mộ hạnh phúc cứu mệnh chi tinh.

Nhiều câu phú cho rằng cách này hợp tuổi Tân. Nếu chấp nhận như vậy cũng được, nhưng hiểu vì sao còn thú vị hơn: tuổi Tân an tứ hóa theo câu "Cự Dương Khúc Xương", nghĩa là Cự Môn hóa khí bây giờ là Hóa Lộc (và nếu thấy Thái Dương thì thêm Hóa Quyền). Tuổi Tân khi phản đối, sờ mó, tiếp xúc thì sinh ra được tiền của, càng bù lu bù loa càng hay, trong khi các tuổi khác coi chừng mang họa. Cũng đừng hiểu lầm Vô Chính Diệu tại Mùi có Cự Đồng xung với Vô Chính Diệu tại Sửu có Cự Đồng xung. Mệnh Vô Chính Diệu tại Mùi có Cự Đồng xung thì chỉ lý luận theo bộ Nhật Nguyệt sáng tỏa chiếu và Cự Đồng tác dụng không đáng kể, hưởng cách Nhật Nguyệt tịnh minh. Trái lại Vô Chính Diệu tại Sửu có Cự Đồng và Nhật Nguyệt hãm, tất cả đều giá trị ngang nhau, nên không phải cách tốt đẹp.

Biểu tượng của Cự Đồng Sửu Mùi

Nhà đất thì cửa ngõ là Cự Môn, cơ ngơi là Thiên Cơ tương đối hoàn chỉnh. Tài sản có ruộng nương mà chưa chắc cho lương thực, nên chưa hoàn chỉnh. Người thì chỉ có duy nhất con nít là Thiên Đồng, như thể mồ côi, lại là đứa con nít ồn ào cãi cọ, nên về người không hoàn chỉnh. Mặc dù tại đây chỉ có ba chính tinh nhưng rất phức tạp.

Cự Đồng Sửu Mùi cần gặp và kỵ gặp

Gom hết lại, ta xem cặp sao hay cãi này cần ai đứng cạnh để cãi cho có ích.

Cần gặp: Tang Binh. Gặp Tang Môn hay Phục Binh, hoặc cả hai thì hóa cát, như gặp đồng bọn, đồng minh, cùng phe che chắn cho nhau. Cự đi với Binh còn chủ khởi binh, khi mọi việc không thể giải quyết bằng bàn bạc thì phương án cuối là khởi binh. Cự Phi (Phi Liêm còn là vũ khí bay qua bay lại) cũng thuộc cách này. Khi lá số hình thành cách Cự Binh thì trên đó có bộ Sát Phá ngộ Kình. Thanh Long thì lão bạng sinh châu, càng về già càng tốt; Cự Thanh là tiếng nói phản đối có tính an toàn hơn các cách khác, được xem là hay nhất trong các cách Cự Môn. Tam Hóa chỉ cần gặp một trong các Hóa cũng nói lên sự thành công về mặt nào đó, có Khoa Lộc, Khoa Quyền rất tuyệt vời. Khôi Việt phát phúc nhưng kỵ thêm Hỏa, Hình, Kỵ. Khôi Xương lợi công danh. Xương Khúc lợi công danh nhưng chưa chắc là lợi, vì một người có tài khéo nói mà nằm ở thế bất đồng bất mãn thì dễ sinh tai họa; nếu lấy an vui làm lẽ sống thì kẻ ngu là sướng nhất. Hổ Tuế Hình thì nghề luật sư. Cự Đồng tại Sửu Mùi có thể gặp các cách giáp hay như Tả Hữu, Xương Khúc, Thai Tọa, Quang Quý.

Kỵ gặp: Lộc Tồn là cách cát xứ tàng hung, nỗi bất mãn vẫn còn đó. Cáo Phụ đại kỵ vì Cự Môn bị Phong Cáo tố cáo, Thiên Đồng bị Thai Phụ phụ rẫy, đó là hình ảnh kẻ nhỏ, kẻ dưới mạt sát, hỗn láo với người trên, dạy khôn bậc chỉ huy, cha ông. Đào Hoa chủ tạo ra sự phản đối, tức cố tình tìm câu tìm chữ để phản đối, vô hại nếu không có hung Kỵ Hình tinh khác. Đà La thì tất sinh dị chí, chí hướng khác thường: thay vì tiến thân bình thường họ chọn hướng thoái trào, rút lui; cách Cự Đà dễ chịu hơn Cự Kình. Hóa Kỵ tệ nhất là đồng cung, mọi sự phản đối bị cấm đoán, có miệng không dám nói, chỉ bộ Cự Kỵ thôi là thấy đời không vui, còn có nguy cơ thủy tai, như câu "Cự Đồng nhập Mộ nhi hội Kỵ Kình nan phòng thủy nạn", "Cự Kỵ nên tránh đò sông", "Cự Môn Hóa Kỵ giai bất cát, Mệnh Thân Vận Hạn kỵ tương phùng". Cần Khoa cứu giải hoặc bộ Long Hà chuyển thành vận hội. Cự Kỵ còn là cấm cửa, cấm sờ mó, và Cự Kỵ có Triệt chủ khai trừ khỏi tổ chức đoàn thể, có khi bị khai trừ, xóa sổ khỏi dòng họ. Kỵ Đà tối hung, nhất là có thêm Tấu Tuế thì kiện cáo lôi thôi khó thành, nếu Tấu Thư xung còn dễ bị kiện; đại kỵ có thêm Không Kiếp dễ bị ức hiếp giết hại.

Kình Dương là cách phản kháng, có giá trị khi Kình đồng cung hoặc tam hợp (nếu Kình xung tức ngộ Đà, xem Đà La), tính phản kháng rất cao, chớ gặp thêm Hỏa Tinh dễ bốc hỏa thất vọng mà chết, nhất là có Không Kiếp khi không cự nổi, cũng như Khôi Việt dễ phát hỏa. Gặp Kỵ còn nguy cơ thủy tai. Gặp thêm Hình thì tính phản kháng càng cao, như lên án, chống lại lệnh cấp trên, từ đó sinh tai họa bị trừng phạt, thanh trừng vì chống đối. Hỏa Linh: phú viết "Thiên Đồng, Cự Môn, Hỏa Linh tất sinh dị chí", vì bộ Hỏa Linh ở đây như ngọn lửa nhiệt tình, hợp thì bốc đồng, bất hợp thì nguội lạnh, cuồng nhiệt thất thường, Cự Hỏa dễ nổi giận mà phản đối, Linh Tinh lạnh nhạt với đồng môn. Hỏa Kình là ải tử: "Cự Hỏa Kình Dương chung thân ải tử", vì nóng vội của Hỏa và cứng rắn của Kình, Cự Môn phản đối không thành dễ tự sát. Thiên Hình thì bộ Cự Đồng có tính quân sự, hình tượng là cầm vũ khí chống cự, oai hùng như Sát Phá Kình Linh, nhưng Hình kỵ Khôi Việt, Kỵ, Không Kiếp vì vũ khí dễ bị thương tích, hình phạt lớn, tai họa không ngờ. Không Kiếp là bất cát, dễ thấy cảnh vô phúc bất hạnh, không đương cự nổi thế lực của bọn đàn em, kẻ dưới quyền cấu kết hại mình; Thiên Đồng hoàn toàn mất tác dụng bởi bộ này, nếu có thêm Kỵ Đà rất xấu, có thể bị hãm hại: "Thiên Đồng ngộ Kiếp Không bất cát, Cự Môn phùng Đà Kỵ tối hung". Tuần: đi với cát tinh thì phản đối bất đồng là đúng và quan trọng, trung thực, nhưng thấy hung sát tinh thì bị tai họa nghiêm trọng vì bất đồng. Triệt thì có thiên hướng sai, phản đối sai hoặc từ bỏ không phản đối, phản đối nửa vời, cá biệt mới triệt để phản đối; có Kỵ chủ bị khai trừ, thêm Hình dễ bị trừng phạt.

Nguồn: Tử Vi Bửu Đỉnh – Chính Tinh.

Chủ đề của bài

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Cách cục