Bài tổng quan
Chọn giờ tốt qua can của giờ, vòng sao, địa tư môn
Một người muốn khởi việc lúc mười một giờ trưa, ngày Bính Thìn tháng Sáu, và anh ta mở bàn tay ra tính từng vòng: vòng nào cho giờ ấy một sao tốt, vòng nào cho một sao xấu. Lời dặn là chỉ cần một điều cốt yếu là giờ ấy phải hợp can với ngày, còn các vòng kia là để biết thêm. Nhưng giờ Ngọ ấy rốt cuộc dùng được hay không?
Tìm can của giờ từ can của ngày
Sách nói rằng biết giờ, biết thiên can và loại thần tốt xấu mà không biết tìm can của ngày thì cũng như chẳng biết giờ, nên phải nhớ kỹ một công thức: can của giờ Tý đầu ngày tính theo can của ngày.
| Ngày có can | Giờ Tý đầu ngày là |
|---|---|
| Giáp, Kỷ | Giáp Tý |
| Ất, Canh | Bính Tý |
| Bính, Tân | Mậu Tý |
| Đinh, Nhâm | Canh Tý |
| Mậu, Quý | Nhâm Tý |
Biết giờ Tý đứng đầu là can gì thì cứ thế đếm tiếp. Ngày Giáp Tý hay Kỷ Dậu thì các giờ là Giáp Tý, Ất Sửu, Bính Dần, Đinh Mẹo, Mậu Thìn, Kỷ Tỵ, Canh Ngọ, Tân Mùi, Nhâm Thân, Quý Dậu, Giáp Tuất, Ất Hợi. Ngày Ất hay Canh thì giờ đầu là Bính Tý, kế đó Đinh Sửu, Mậu Dần, Kỷ Mẹo, Canh Thìn, Tân Tỵ, Nhâm Ngọ và cứ thế. Các ngày khác cũng tính y như vậy, sách dặn phải nhớ thuộc lòng kẻo lầm.
Sách còn ghi một bảng đối chiếu với giờ ngày nay, trong đó một giờ ta bằng hai giờ tây: giờ Tý từ mười hai giờ khuya đến hai giờ sáng, giờ Sửu từ hai đến bốn giờ sáng, giờ Dần từ bốn đến sáu giờ, giờ Mẹo từ sáu đến tám giờ, giờ Thìn từ tám đến mười giờ, giờ Tỵ từ mười đến mười hai giờ, giờ Ngọ từ mười hai giờ đến hai giờ trưa, giờ Mùi từ hai đến bốn giờ chiều, giờ Thân từ bốn đến sáu giờ chiều, giờ Dậu từ sáu đến tám giờ tối, giờ Tuất từ tám đến mười giờ tối, giờ Hợi từ mười giờ đến mười hai giờ đêm.
Mười hai địa chi và loại thần
Có can rồi, mỗi giờ lại mang một vị thần riêng, gặp thần lành thì hay, gặp thần dữ thì hại.
Thần giờ Tý: gặp thần lành thì thông minh, gặp hung thần thì dâm dật, gặp Huyền Vũ thì trộm cắp. Thần giờ Sửu: gặp thần lành thì có văn thư, tài lộc, tin cứu giúp; gặp hung thần thì cãi vã, mất của, bệnh tật, quan sự, thị phi. Thần giờ Mẹo: gặp thần lành thì yên lành; gặp hung thần thì quan sự, chia lìa, cãi vã; gặp Châu Tước là người đi xa. Thần giờ Thìn: gặp hung thần thì tranh giành nhau. Thần giờ Tỵ: gặp thì có họa. Thần giờ Ngọ: gặp thần lành thì có tin tức văn chương; gặp hung thần thì kinh sợ, nghi hoặc, cãi vã; gặp Long là quan viện, gặp xá thần là phụ nữ, gặp sao cát là võ quan. Thần giờ Mùi: gặp thần lành thì có tiệc rượu vui vẻ, đẹp đẽ; gặp hung thần thì quan sự, tang, tranh giành, bệnh tật. Thần giờ Thân: gặp hung thần thì cãi vã, bệnh tật, tổn thất; gặp thần lành thì phải đi lại bôn ba. Thần giờ Dậu: gặp thần lành thì thanh tịnh, đẹp đẽ, hòa hợp; nếu gặp kỳ môn ở phương này thì có thể ẩn mình, giấu tung tích. Thần giờ Tuất: gặp hung thần thì dối trá, tranh giành, tai họa, hoặc lao ngục. Thần giờ Hợi: gặp thần lành thì có việc cưới gả, đòi hỏi; gặp hung thần thì tranh giành nhau; gặp Châu Tước, Bạch Hổ, Đăng Hà thì có khóc than buồn rầu.
Mười hai thần của vòng Quý nhân
Thiên Ất Quý Nhân: vượng tướng thì mừng vui, có chiếu thư, ăn uống; gặp thế tù thì khóc than sầu muộn. Đằng Xà: thần hư hao, hư nguy, xảo trá. Thái Âm: thần giúp về mặt âm, chuyên hộ trì và chính trực; gặp thế tù thì khóc than. Lục Hợp: thần mưa, thần hộ trợ, vượng tướng thì có tài lộc. Câu Trần đi với Bạch Hổ: thần cường mạnh, chủ bệnh tật, thương tích. Châu Tước, dưới có Huyền Vũ: là hình tội, gian thần, có thể cầu vong, yết kiến; là yêu ma quỷ quái; bị hãm thì ly tán, khóc than, cãi vã, kinh khủng, thất lạc. Thanh Long: mừng vui, tốt đẹp, tài lộc. Thiên Không: sạch bách, tiêu ma, rất dở. Thượng Thần: thần cát cách. Huyền Thần: thần hộ trì. Thần Hậu: thần lửa, tranh giành, nóng nảy. Ba thần đóng ở đâu thì nơi ấy là địa tư môn, dùng vào việc ắt tốt: đó là Thái Âm, Lục Hợp và Thái Thường.
Năm vòng để tìm giờ tốt
Năm vòng cần tính lần lượt: tràng sinh, lộc tồn, thanh long, quý nhân và địa hộ.
Vòng tràng sinh
Muốn tìm vòng này chỉ cần biết ngày ấy thuộc hành nào. Hành Thủy và hành Thổ đóng chung một cung và tràng sinh ở Thân; hành Mộc tràng sinh ở Hợi; hành Hỏa tràng sinh ở Dần; hành Kim tràng sinh ở Tỵ. Vòng đi theo thứ tự: tràng sinh, mộc dục, quan đới, lâm quan, đế vượng, suy, bệnh, tử, mộ, tuyệt, thai, dưỡng. Tất cả đều là cái lý của ngũ hành và sự sinh trưởng: sinh ra rồi lớn lên, lớn hết thì già yếu, rồi bệnh, chết và diệt đi, nhưng hết tuyệt lại thành thai, rồi dưỡng, rồi sinh, cứ thế xoay vần theo lẽ trời đất. Vòng này chỉ tốt ở các chỗ tràng sinh, đế vượng, lâm quan và dưỡng; các sao còn lại đều dở, dùng vào ắt nguy.
Vòng lộc tồn
Sao Lộc Tồn an theo can của ngày: ngày Giáp ở cung Dần, ngày Ất ở Mẹo, ngày Bính và Mậu ở Tỵ, ngày Đinh và Kỷ ở Ngọ, ngày Canh ở Thân, ngày Nhâm ở Hợi. Cũng theo sách, lộc của Tân ở Dậu và lộc của Quý ở Tý. An xong Lộc Tồn thì an tiếp mười hai sao chạy thuận: Bác sĩ (đi cùng Lộc Tồn), Lực sĩ, Thanh Long, Tiểu Hao, Tướng Quân, Tấu Thư, Phi Liêm, Hỷ Thần, Trực Phủ, Đại Hao, Phục Binh, Quan Phù. Trong đó sao tốt là Bác sĩ, Lực sĩ, Thanh Long, Tướng Quân, Tấu Thư, Hỷ Thần; các sao còn lại đều xấu, đừng nên gặp.
Vòng Thanh Long
Vòng này không an theo can mà theo chi của ngày. Ngày Tý và ngày Ngọ, Thanh Long bắt đầu từ cung Thân; ngày Sửu và ngày Mùi từ cung Tuất; ngày Dần và ngày Thân từ cung Tý; ngày Mẹo và ngày Dậu từ cung Dần; ngày Thìn và ngày Tuất từ cung Thìn; ngày Tỵ và ngày Hợi từ cung Ngọ. An xong thì theo thứ tự mà an mười hai sao: Thanh Long, Minh Đường, Thiên Hình, Châu Tước, Kim Quỹ, Thiên Đức, Bạch Hổ, Ngọc Đường, Thiên Lao, Huyền Vũ, Tư Mệnh, Câu Trần.
Tính chất của các sao: Thanh Long phát động, cầu tài thì tốt. Minh Đường dùng xem về cha mẹ. Thiên Hình thuộc quan sự, kiện tụng. Châu Tước báo có tin người, cũng là sao xấu. Kim Quỹ báo sự giao thiệp qua lại. Thiên Đức báo quan lộc và sự phong thưởng. Ngọc Đường chủ công danh, tài năng. Thiên Lao dùng xem về người giúp việc, súc vật. Huyền Vũ chỉ trộm cướp, tai tiếng, không nên dùng, chỉ có thể dùng để xem về thê thiếp. Tư Mệnh xem về con cháu, phúc đức. Câu Trần đến thì ắt có bệnh tật.
Vòng Quý nhân
Muốn tìm vòng Quý nhân phải nhớ bốn câu thơ cổ đặt quý nhân theo can ngày. Theo lời sách, ngày Giáp và Mậu (cùng dòng với Canh, Ất, Kỷ) đặt quý nhân ở cung Sửu là âm quý và cung Mùi là dương quý. Ngày Bính và Đinh đặt ở cung Hợi là âm quý và cung Dậu là dương quý. Ngày Tân đứng riêng, đặt ở cung Ngọ là âm quý và cung Dần là dương quý. Muốn ứng nghiệm phải nhớ kỹ, nhất là dương quý vì rất quan trọng.
Quý nhân dùng để hỗ trợ cho giờ. Từ giờ Dần đến giờ Mùi thuộc giờ dương thì dùng âm quý; từ giờ Mùi đến giờ Sửu thuộc giờ âm thì dùng dương quý. Ví dụ ngày Bính, đang lúc giờ Thìn thì dùng âm quý là Hợi để hỗ trợ; qua giờ Mùi thì chuyển sang dương quý là Dậu. Sách thừa nhận việc này hơi rắc rối, cần nhớ và suy nghiệm cho kỹ.
Khi biết Quý nhân ở đâu thì tính mười hai sao theo thứ tự: Quý nhân, Đằng Xà, Châu Tước, Lục Hợp, Câu Trần, Thanh Long, Thiên Không, Bạch Hổ, Thái Thường, Thái Huyền, Thái Âm, Thần Hậu. Theo ví dụ ngày Bính Thìn: Quý ở Dậu, Xà ở Tuất, Tước ở Hợi, Hợp ở Tý, Câu ở Sửu, Long ở Dần, Thiên Không ở Mẹo, Hổ ở Thìn, Thường ở Tỵ, Huyền ở Ngọ, Âm ở Mùi, Hậu ở Thân. Địa tư môn nằm ở ba cung Tý, Tỵ, Mùi, ứng với Lục Hợp, Thái Thường và Thái Âm. Chọn ba giờ ấy mà tính việc thì ắt có điều hay.
Vòng Địa hộ
Vòng này dễ tìm hơn cả. Mỗi tháng gọi là nguyệt kiến: đó là chỗ chuôi sao Bắc Đẩu chỉ vào trong tháng ấy. Sao Bắc Đẩu quay quanh phương Bắc, chuôi sao chỉ ngày tháng giờ khắc và nắm cả vận mạng sinh hóa muôn loài, nên cũng gọi là huy đẩu bình. Khi cần dùng thì đặt chữ Kiến của tháng vào ngày đang dùng. Ví dụ tháng Năm là tháng kiến Ngọ, dùng ngày Thìn thì bắt đầu từ Thìn gọi là Kiến, rồi đọc thuận: Trừ, Mãn, Bình, Định, Chấp, Phá, Nguy, Thành, Thu, Khai, Bế. Địa hộ nằm ở các chỗ Trừ, Nguy, Định, Khai, tức các cung Tỵ, Thân, Hợi, Dần; chọn mấy giờ đó mà tính việc thì tốt.
Cách chọn một giờ cụ thể
Thử đặt năm vòng vào một ngày cụ thể sẽ thấy các vòng nói với nhau ra sao.
Sách dặn rằng thật ra muốn tìm một giờ tốt chỉ cần tìm ra cách bảo hòa nghĩa chế phục, để biết ngày hợp can, chỉ ra sao và tìm được giờ tốt; các điều kia chỉ để biết thêm, tránh rườm rà rối trí. Ví dụ đang là tháng Sáu, ngày Bính Thìn, muốn xét giờ Giáp Ngọ.
Về bảo hòa nghĩa: ngày Bính Thìn giờ Giáp Ngọ đều được cách này, vì can Bính Hỏa sinh chi Thìn Thổ và can Giáp Mộc sinh chi Ngọ Hỏa, tốt được một cách. Ngày Bính thì giờ đầu là Mậu Tý, đếm tới giờ Giáp Ngọ. Về tràng sinh: ngày Bính Thìn thuộc Thổ, tràng sinh đóng ở Thân, tính tới giờ Ngọ thì rơi vào vị thế thai, không tốt lắm. Về lộc tồn: ngày Bính lộc tồn ở Tỵ, tính theo vòng thì giờ Ngọ có Lực sĩ đóng cùng Kình Dương và sau đó có Đà La; Lực sĩ gặp Kình Dương thì làm việc không công, khó khăn và cản trở. Về Thanh Long: ngày Thìn thì Thanh Long đóng ở Thìn, tính theo vòng thì Thiên Hình đóng ở giờ Ngọ, mà Thiên Hình chủ quan sự, kiện tụng, nên giờ Ngọ dễ gặp cãi cọ, đôi co. Về Quý nhân: ngày Bính thì âm quý nhân ở Hợi; giờ Ngọ thuộc giờ dương nên phải dùng âm quý hỗ trợ, và lấy nguyệt tướng Ngọ của tháng Sáu đặt lên giờ Thìn của ngày đang dùng để tìm thiên bàn; tính ra giờ Ngọ có Thái Huyền, không phải địa tư môn, còn giờ Tỵ mới có Thái Thường là địa tư môn. Về Địa hộ: đặt ngày Thìn lên nguyệt kiến, tính tới giờ Ngọ thì được Mãn chứ không được Trừ, mà Trừ đã nằm ở Tỵ, nên giờ Ngọ cũng không có địa hộ để dùng. Nếu dùng giờ Tỵ thì trái lại được cả địa tư môn lẫn địa hộ.
Xét thêm về giờ gia lục giáp thì trên dưới mở ra giao tiếp với nhau, tốt. Về thiên can loại thần, giờ Ngọ lại gặp hung thần là Lực sĩ và Thiên Hình nên có kinh sợ, cãi vã.
Tóm lại, giờ Giáp Ngọ ngày Bính Thìn chỉ được cách bảo hòa nghĩa can sinh chi, tốt; được giờ gia lục giáp tốt thì có thể cầu an. Nhưng phải nhẫn nhịn khiêm nhường, tránh nóng nảy kẻo bị cãi vã, cần khéo nói mới thành. Còn mưu vọng, cầu tiến, đi xa và tính toán làm ăn thì không tốt lắm, vì chưa tính đã có đấu khẩu rồi. Nếu gặp giờ có cả địa tư môn, địa hộ và các sao tốt trong các vòng tràng sinh, lộc tồn, thanh long thì hay vô cùng, việc gì cũng được; ngược lại không được sao tốt trong các vòng này thì không nên.
Nguyệt tướng là gì và cách tính
Khi tìm quý nhân phải dùng đến nguyệt tướng, và chỗ này cần nói cho rõ.
Nguyệt tướng là tên của mười hai cung ứng với vị trí của trái đất và mặt trời. Trái đất quay quanh mặt trời, mỗi tháng đứng ở một cung khác nhau, nên luồng từ điện của mặt trời mỗi tháng một khác; vì thế mới có mười hai tháng, mười hai cung và nguyệt tướng chính là tên của mười hai cung ấy. Người ta dùng nguyệt tướng để tìm sức từ của mặt trăng vào lúc mình xem, chỗ mặt trăng hòa ánh sáng với mặt trời chiếu xuống trái đất, gọi là nhật nguyệt giao hòa.
Tính nguyệt tướng không lấy tháng Giêng làm mốc. Phải giở lịch tàu ra xem ngày nào mặt trời vào cung Hợi thì bắt đầu tính tướng Hợi, rồi đi ngược lại: tháng Giêng tướng Hợi, tháng Hai tướng Tuất, tháng Ba tướng Dậu, tháng Tư tướng Thân, tháng Năm tướng Mùi, tháng Sáu tướng Ngọ, cứ thế đến tháng Chạp là tướng Tý, rồi trở lại tháng Giêng tướng Hợi như cũ.
Nguồn: Bửu Sơn, Tử Vi Tướng Pháp Trọn Đời.
