Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Cách cục

Bài tổng quan

Cách cục của các phụ tinh từ Kình Đà đến Kiếp Không

Tử Vi Nam Phái - Cách cục30/09/202614 phút đọc4 lượt đọc
Cách cục của các phụ tinh từ Kình Đà đến Kiếp Không

Hỏa Linh ở cung miếu vượng, người xưa bảo phải luận là phúc chứ không phải họa, thậm chí làm tướng trấn giữ cả một cõi. Vậy mà cũng hai sao ấy, đổi sang cung hãm, đã thành hạ tiện, bần cùng, yểu triết. Ranh giới nằm ở chỗ nào…


Kình Dương, Đà La: hung tinh đắc địa và hãm địa

  • Kình Dương miếu: Thìn Tuất Sửu Mùi.
  • Đắc địa: Dần.
  • Hãm: Tý Ngọ Mão Dậu.

Kình Dương nhập miếu, phú quý thanh dương.

Có cát tinh chiếu thì mới đoán là phú quý thanh dương.

Dương Hỏa đồng cung, uy quyền áp chúng.

Như Mệnh Thân có Dương Hỏa đồng cung tọa thủ ở Tứ Mộ ắt là người có uy quyền, người người phải khuất phục; Mệnh ở Thìn Tuất thì tốt nhất, ở Sửu Mùi là thứ.

Kình Đà Linh Hỏa thủ Thân Mệnh, yêu đà bối khúc chí nhân.

Tứ Sát mà thủ Thân Mệnh là người gù lưng; lạc hãm thì đại hung, vất vả nghèo khổ.

Kình Dương Tý Ngọ Mão Dậu, phi yểu triết nhi hình thương.

Ở cung Ngọ thì hung, ở Mão thì thứ chi, Tị Dậu thứ chi. Nếu được cách Mã đầu đới kiếm lại có nhiều cát tinh lại trở lại có uy danh lẫm liệt.

Kình Dương phùng Lực Sĩ, Lý Quảng nan phong.

  • Người sinh năm Giáp, Mệnh ở cung Mão.
  • Người sinh năm Bính, Mệnh ở cung Ngọ.
  • Người sinh năm Canh, Mệnh ở cung Dậu.
  • Người sinh năm Nhâm, Mệnh ở cung Tý.

Nhiều sao tốt chiếu hợp thì bình thường, gia Sát thì hung.

Dương Đà Hỏa Linh phùng cát phát tài, hung tắc kỵ.

Mệnh Thân có Tứ Sát lâm vào, ngộ cát tinh lại là phát tài; kỵ nhất là có thêm hung tinh.

Dương Linh tọa Mệnh, lưu niên Bạch Hổ tai thương.

Mệnh có Dương Linh mà tiểu hạn gặp Bạch Hổ thế nào cũng bị tai ương, thương tổn.

Kình Dương đối thủ tại Dậu cung, tuế dật Dương Đà, Canh Mệnh hung.

Mệnh có Dương Đà tọa thủ ở cung Dậu, lưu niên tiểu hạn gặp cung Mệnh ngộ Dương Đà, người sinh năm Canh thì Mệnh hung lắm; nếu không có sao cứu trợ chắc chết.

Dương Đà giáp Kỵ vi bại cục.

Như an Mệnh ở cung Thân lại phùng Kỵ tinh, Dương tại Dậu, Đà tại Mùi giáp Mệnh, là bị nghiêng nghèo; hai hạn đi đến đó thì bị cô bần hình khắc, tuy Mệnh có Lộc Tồn tọa thủ, không có cát tinh đồng viên ắt cũng bị tai ương hung họa.

Dương Đà lưu niên Linh Phá; Kình Dương Hỏa Tinh vi hạ cách.

Mệnh có Dương Đà, lưu niên gặp Linh Phá thì mặt mày bị bệnh loang lổ, lại gặp Dương Hỏa là hạ cách, bần yếu.

Kình Dương trùng phùng lưu Dương.

Tuế hạn trùng phùng Kình Dương cư Thân Mệnh tại cung Dậu ắt là tự vận chết.

Đà La

  • Miếu: Thìn Tuất Sửu Mùi.
  • Hãm: Dần Thân Tị Hợi.

Đà La Tị Hợi Dần Thân, phi yểu triết nhi hình thương.

Mệnh có Đà La tọa thủ ở Tị Hợi Dần Thân thì không chết non cũng bị hình thương khắc lại, có thể ly tổ xuất ngoại thì thành cơ nghiệp; nếu Mệnh có cát chính tinh thì chủ người phá tướng.

Hỏa Tinh, Linh Tinh và cách giáp Mệnh

Hai sao Hỏa Tinh và Linh Tinh đi cùng nhau như hai mũi lửa, nơi vượng miếu thì làm tướng trấn giữ, nơi lạc hãm thì làm khổ người.

  • Hỏa Tinh miếu: Dần Ngọ Tuất.
  • Địa: Tị Dậu Sửu.
  • Lợi ích: Hợi Mão Mùi.
  • Hãm: Thân Tý Thìn.

Hỏa Linh tượng ngộ đa chấn chư bang.

Hỏa Linh thủ Thân Mệnh cư miếu vượng địa là hung tinh đắc địa, phát dã như lôi, làm tướng tài trấn giữ các nước.

Hỏa Linh giáp Mệnh vi bại cục.

Như Mệnh an tại Dần, Hỏa tại Sửu, Linh tại Mão, nhiều sao tốt hợp chiếu Mệnh thì còn đỡ; giáp kỳ thì hung; tuế hạn đi đến cung đó thì cũng tốt, không ngại.

Linh Tinh

  • Miếu: Dần Ngọ Tuất.
  • Địa: Thìn Tị Mùi (Đông Nam).
  • Hãm: Tý Hợi Dậu Sửu (Tây Bắc).

Hỏa Linh vượng cung, diệc vi phúc luận.

Mệnh Thân có Hỏa Linh tọa thủ ở vượng miếu địa cũng là cách quý, phải luận là phúc, không phải hung họa.

Kình Dương Hỏa Linh vi hạ cách.

Mệnh Thân số đàn bà gặp ba sao Kình Hỏa Linh ở miếu vượng địa còn khá; nếu lạc hãm là hạ tiện, bần cùng yểu triết.

Khôi Việt, Tả Hữu và cách giáp Mệnh

Từ những mũi lửa, ta đi sang các sao đứng ở hai bên cạnh Mệnh: Khôi Việt, Tả Hữu, những cánh tay nâng đỡ.

Khôi Việt giáp Mệnh vi kỳ cách.

Như Mệnh an ở cung Thìn, Khôi ở Mão, Việt ở Tị là quý cách.

Khôi Việt Mệnh Thân đa triết quế.

Như tọa ngay cung Thân Mệnh thì tốt diệu, ở ba phương chiếu lại thì thứ chi, là người lấy được vợ con nhà trâm anh; hạn gặp hay gặp nhiều sự may mắn lại có kỳ duyên hội ngộ với những người nhà thế phiệt trâm anh.

Khôi Việt, Xương Khúc Lộc Tồn phù, hình Sát vô xung Thai phụ quý.

Mệnh Thân có những sao trên tọa thủ ở nơi miếu vượng địa là cách rất quý, làm đến Tam công; nếu ở ba cung chiếu lại thì thứ cách; gặp Hình Sát tương xung thì lại bình thường.

Khôi Việt trùng phùng Sát thấu, cố tật vưu đa.

Mệnh Thân có Khôi Việt tọa thủ gia Hình Sát là người có nhiều bệnh không chữa được.

Khôi Việt phụ tinh vi phúc thọ.

Khôi Việt ở tại Mệnh Thân hay các cung khác là phúc thọ song toàn.

Tả Phụ, Hữu Bật

Tả Hữu giáp Mệnh vi quý cách.

An Mệnh tại Sửu, Tả tại Tý, Hữu tại Dần, người sinh tháng 4, Tả Hữu ở Mùi xung chiếu; sinh tháng 12 thì Tả ở Sửu, Hữu ở Tý, thì được quý cách; nếu không quý thì đại phú.

Hữu Bật Tả Phụ chung thân phúc hậu.

Tả Hữu cư Mệnh hay cung Thiên Di thì chung thân được phúc hậu; ở ba cung hợp chiếu là thứ cách.

Tả Hữu đồng cung, phi la y tử.

  • An Mệnh ở cung Thìn Tuất, người sinh tháng Giêng, tháng 7.
  • An Mệnh cung Sửu, người sinh tháng 9 (Tả Hữu giáp cũng vậy).
  • An Mệnh cung Mùi, người sinh tháng 4 (Tả Hữu đồng cung).
  • An Mệnh cung Mão, người sinh tháng 6 (Tả ở Dậu, Hữu ở Tị).
  • An Mệnh cung Hợi, người sinh tháng 9 (Tả ở Tý, Hữu ở Dần).

Những người được cách như trên này gia cát hóa là cách đại quý, làm đến đại thần (mặc áo màu tía); nếu ở ba phương lại không luận như vậy.

Tả Hữu đơn thủ chiếu Mệnh cung, ly tông thứ xuất.

Thân Mệnh vô chính diệu gặp Tả Hữu là người phải xa quê hương, là bậc thứ dân xuất thân. Nếu ba phương hợp lại có Tử Phủ Vũ Tướng lại càng tốt lắm.

Tả Hữu Trinh Dương tao hình đạo nhất; Tả Hữu Xương Khúc phùng Dương Đà, dương sinh ám chí.

Mệnh Thân có Liêm Trinh phùng Tả Hữu gia Kình Dương nữa là người hay bị bệnh phạt tổn thương. Có Tả Hữu thủ Mệnh gặp Xương Khúc Dương Đà là người sinh ra đã có rất nhiều nốt ruồi kín.

Tả Hữu Tài Quan kiêm giáp củng, y lộc phong doanh.

Cung Tài Bạch hay Quan Lộc có Tả Hữu tọa thủ, giáp hay chiếu đều là số ăn mặc no đủ, phong túc.

Tả Hữu Khôi Việt ư phúc thọ.

Bốn sao trên cư tại cung Mệnh thì luận phúc thọ song toàn; nếu đàn bà gặp thì vượng phu ích tử.

Hữu Bật Thiên Tướng phúc lai lâm.

Hai sao trên an vào cung nào cũng đều là phúc cả; duy ở cung Sửu Mùi Hợi thì không quý, có cũng không bền; nếu ở cung Mão Dậu thì ít khi được xứng tâm toại ý.

Lộc Tồn, Thiên Mã, Khoa Quyền Lộc

Sau các sao giáp Mệnh là những sao của cải: Lộc Tồn, Thiên Mã, rồi bộ ba Khoa Quyền Lộc.

Lộc Tồn thủ ư Tài Trạch, tích ngọc mai kim.

Cung Tài Bạch hay Điền Trạch có Lộc Tồn tọa thủ là số giàu có, có vàng chôn ngọc cất; ở tại Mệnh Thân cũng vậy; nếu hội với Khoa Quyền Lộc lại càng mau.

Lộc Tồn Tý Ngọ vị Thiên Di, Thân Mệnh phùng chi lợi lộc nghi.

Cung Thiên Di ở Tý Ngọ có Lộc Tồn tọa thủ, hay ở Thân Mệnh, là số người giàu có, tài lợi đều nên.

Minh Lộc ám Lộc vị chí công khanh.

Như Thân Mệnh cư Mão có Lộc Tồn tọa thủ, hợp với cung Tuất có Hóa Lộc là cách trên thì làm đến công hầu khanh tướng.

Song Lộc trùng phùng, chung thân phú quý.

Mệnh Thân hay Tài Trạch có Song Lộc trùng phùng là suốt đời phú quý vinh hoa; không nên gặp Không vong hung Sát.

Lộc phùng xung phá, cát dã thành hung.

Nếu lại gặp xung phá thì là cách tốt nhưng trở lại thành hung.

Lộc Tồn trọng hậu đa y lộc.

An ở các cung đều là đáng phúc, gây nên sự nghiệp phú quý, vượng tài lộc.

Thiên Mã

Lộc Mã tối hỉ giao trì.

Thiên Mã ngộ Lộc Tồn cư Thân Mệnh; hay gặp Sát tinh Dương Hỏa, Triệt Lộ Không vong, trái lại bị nhiều sự lao tâm khổ trí.

Thiên Mã Tứ Sinh Thê cung, phú quý hoàn hương phong tặng.

Cung Thê an ở Dần Thân Tị Hợi có Thiên Mã tọa thủ là số phú quý được phong tặng.

Mã ngộ Không vong, chung thân bôn tẩu.

Thiên Mã cư Thân Mệnh bị Triệt là chung thân bôn tẩu, phải ly tổ xuất ngoại thì được tốt.

Khoa Quyền Lộc

Khoa Quyền Lộc hợp, phú quý song toàn.

Lộc Tồn gọi tắt cũng là Lộc; Lộc hội với Hóa Lộc là Song Lộc (hai Lộc). Người Mệnh có Song Lộc không bị hung Sát thì phú quý song toàn; hội với Cự Khúc ở cung Tuất thì đương danh. Hóa Khoa hội với Khôi Việt thì được quý hiển; an tại cung Mệnh thì cực tốt, ở hai cung hợp chiếu là thứ cách. Nếu lại gặp nhiều hung tinh, tuy tốt nhưng ví như ngọc quý có tỳ vết vậy.

Lộc Quyền Mệnh phùng kiêm hợp cát.

Mệnh Thân có Lộc Quyền tọa thủ lại hội với cát tinh là người có quyền cao chức trọng, trong triều là hàng đại thần tể tướng.

Quyền Lộc trùng phùng, Tài Quan song mỹ.

Luận ba phương có nhiều cát tinh cũng chiếu nữa thì Tài Quan song mỹ; nếu gặp nhiều hung tinh thì không mỹ mãn.

Khoa Mệnh Quyền chiếu, đăng chung giáp đệ.

Cung Mệnh có Hóa Khoa tọa thủ lại có Quyền hay Lộc chiếu lên thì tốt lắm, là cách Lộc phùng nghinh (gặp Lộc hay Quyền nghinh tiếp), ắt đỗ cao khoa giáp đệ.

Hóa Lộc Tý Ngọ vị Thiên Di, Phu Tử văn chương quán thế.

Cung Thiên Di có Lộc cư Tý Ngọ là cách đối diện chiếu đẩu. Mệnh có Thái Dương, Hóa Lộc tại cung Ngọ là số đức Phu Tử văn chương quán thông thế hệ; ở các cung khác thì xem các sao cát hung hội chiếu mà đoán.

Khoa Lộc giáp vi quý cách.

Như Mệnh ở cung Tý, Khoa ở Hợi, Lộc ở Sửu là cách Khoa Lộc giáp là quý cách; ở các cung khác cũng vậy.

Quyền Lộc trùng phùng Sát thấu, hư dự chi long.

Như Quyền Lộc trùng phùng có nhiều Sát tinh là cách có tiếng không miếng, trong đom đóm ngoài bó đuốc. Nếu gặp ắt ở cung Phúc Đức là long mạch hư giả không thực, ắt Mộ không kết.

Khoa danh hãm ư hung thần, miêu nhi bất tú.

Như Nhật ở cung Tuất thủ Mệnh, Nguyệt ở cung Mão, Hóa Khoa ở hãm địa, hoặc lại gia Dương Đà Không Kiếp, là như có mầm mà không tươi tốt.

Lộc chủ triền ư nhược địa, Mệnh bất chủ tài.

Như Lộc cư cung Giải Ách, Nô, Huynh là nhược địa, ắt không có ảnh hưởng đến Mệnh Thân, nên nói Mệnh không chủ tài lộc.

Quyền Lộc thủ Tài, Phúc chi vị, sứ thế vinh hoa.

Như cung Tài Bạch, Phúc Đức có sao Quyền Lộc ắt được vinh hoa phú quý.

Quyền Lộc cát tinh Nô Bộc vị, túng nhiên quan quý dã bôn ba.

Như cung Nô Bộc có Quyền Lộc và cát tinh hội chiếu, cung Nô Bộc hợp với cung Quan Lộc (như Quan cư Ngọ, Nô cư Mùi, hay Quan Tý, Nô cư Sửu) thì cũng có quan quyền quý hiển nhưng vất vả long đong.

Kiếp Không, Thương Sứ và các cách giáp Mệnh Thân

Bên cạnh những sao lành ấy, ba sao Địa Kiếp, Địa Không và Thiên Thương đi theo chiều ngược lại.

Kiếp Không giáp Mệnh vi bại cục.

Như Mệnh an ở Hợi, Kiếp tại Tý, Không tại Tuất, tuế hạn đi đến đó thì hung hại; giáp Tý cũng hung, là cô bần hình khắc.

Kiếp Không lâm hạn, Sở Vương táng quốc, Duyên Châu vong.

Hạn gặp Kiếp Không là như Sở Vương Hạng Vũ mất nước và kinh thành Duyên Châu.

Sinh sứ Kiếp Không, do như bán thiên triết sĩ.

Mệnh Thân có Kiếp Không tọa thủ là như chim bay giữa trời gãy cánh.

Kiếp Không lâm Tài Phúc chi hương, sinh lai bần tiện.

Như cung Tài, Phúc có Kiếp Không tọa thủ là số bần tiện.

Thiên Thương gia ác diệu, Trọng Ni tuyệt lương, Đặng Thông vong.

Hạn gặp Thiên Thương ngộ ác tinh như Đức Phu Tử bị tuyệt lương ở nước Trần, hay như Đặng Thông bị chết.

Xem cung Mệnh

Tam giáp Mệnh hung, lục giáp cát.

Tam giáp Mệnh hung là Kiếp Không, Hỏa Linh và Dương Đà. Lục giáp cát là: Tử Phủ, Tả Hữu, Xương Khúc, Khôi Việt, Khoa Quyền Lộc, Nhật Nguyệt. Còn những trung cách giáp như: Long Phượng, Thai Tọa, Cáo Phụ. Cung Mệnh được nhiều sao xấu ít sao tốt tuy tốt mà hung, nhiều sao tốt ít xấu là tuy xấu mà tốt. Xem cung Mệnh ở ba phương hợp có sao tốt xấu, miếu vượng hay lạc hãm mà đoán.

Mệnh vô chính diệu, nhị tính diên sinh.

Người Mệnh mà không có chính diệu là người khó nuôi: một là phải bán cho họ khác, hai là nhận kế mẫu làm mẹ, ba là con thứ mẫu.

Mệnh phùng cát diệu, tùng bách thanh tú dị nan điêu.

Mệnh có nhiều cát tinh ví như cây tùng cây bách to lớn xanh tốt khó lòng mà tàn tạ, nên kỵ Thái Tuế đóng ngay cung Mệnh. Gặp Thái Tuế ở hai hạn còn không lợi nữa, là ngay cung Mệnh nếu có ắt hung.

Mệnh phùng hung diệu, liễu lục đào hồng nhi dị tạ.

Mệnh gặp hung tinh như cây liễu xanh, đào hồng, màu tàn cỏ lả. Mệnh gặp hung tinh mà hạn gặp được sao miếu vượng thì phát; hạn gặp hung tinh lạc hãm tất hung lắm.

Mệnh thực vận sinh, như tảo miêu đắc vũ.

Như Mệnh bình thường, ba phương có sao tốt, gặp đến hạn tốt ắt được phúc, như mầm non gặp mưa tưới.

Mệnh suy vận nhược, như nộn thảo nhi tao sương.

Như Mệnh tọa nơi hãm kỵ, hạn lại gặp ác hung tinh ắt bị bình thường vong khắc.

Mệnh hữu cát tinh, Quan Sát.

Mệnh có sao tốt gặp sao Quan Phủ và Tứ Sát tọa hay ở đối cung là người cũng vào hàng quan chức nhưng lao đao cực khổ.

Xem cung Thân

Thân Mệnh câu cát, phú quý song toàn.

Thân Mệnh đều có cát tinh ắt là số người suốt đời phú quý song toàn.

Thân cát Mệnh hung, diệc vi mỹ luận.

Mệnh hung mà Thân được cát tinh miếu vượng thì luận về già được mỹ mãn đẹp đẽ.

Mệnh nhược, Thân cường, tài nguyên bất tụ.

Mệnh mà suy nhược, Thân ở cường cung, tuy kiếm được tiền của nhiều nhưng bản Mệnh suy kém không đủ lực giữ được tiền tài, như nước đầy tràn trong hồ, đất hồ sành ắt có ngày bể vỡ; không như trong hồ gang hồ thép vững chắc ắt giữ nước được lâu.

Tham Vũ thủ Thân vô cát Mệnh, phản bất vi lương.

Thân có Tham Vũ tọa thủ là sao Tài tinh; nếu không có cát Mệnh, tức như ví dụ trên, ắt trở lại bị tan vỡ không tránh vậy.

Nguồn: Tử Vi Đẩu Số, Nguyễn Mạnh Bảo

Chủ đề của bài

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Cách cục