Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Cách cục

Bài tổng quan

Bộ Đồng Lương Dần Thân: ruộng đồng, lương thực và tiếng trẻ bi bô

Tử Vi Nam Phái - Cách cục01/10/202611 phút đọc2 lượt đọc
Bộ Đồng Lương Dần Thân: ruộng đồng, lương thực và tiếng trẻ bi bô

Một người nông dân đi ra phố, kẻ thành nhà khoa học nông lâm, kẻ làm quan lại nhỏ, tùy mỗi người mang theo nhóm sao nào bên mình. Nhưng gốc rễ của họ vẫn là cánh đồng, là gạo, là đồng tiền lương mà ai cũng gọi bằng cái tên giản dị. Và dù ở đâu, họ vẫn nghe đâu đó tiếng trẻ con bi bô…


Một người nông dân đi ra phố, kẻ thì thành nhà khoa học chuyên về nông lâm, kẻ làm quan lại nhỏ, tùy mỗi người mang theo nhóm sao nào bên mình. Nhưng gốc rễ của họ vẫn là cánh đồng, là gạo, là đồng tiền lương mà ai cũng gọi bằng cái tên giản dị. Và dù ở đâu, họ vẫn nghe đâu đó tiếng trẻ con bi bô…

Việc chung việc riêng, thông đồng và đồng lương

Việc chung, việc công, việc tập thể, cộng đồng là Thiên Đồng. Việc riêng tư, cá nhân là Thiên Cơ. Từ đây đoán được chi tiết vì cộng đồng hay vì cá nhân, hay lấy của công làm của riêng. Người có Thiên Đồng tại Mệnh có tính tập thể rất cao, ưa tham gia các đoàn thể, trừ trường hợp ngộ Triệt thì ít thích đoàn thể.

Đây cũng là bộ sao chủ thông đồng, tư thông. Tốt là thông đồng làm điều tốt, như thông gia mà ta gọi là sui gia, hay làm mai là thông đồng cho cả hai bên. Không phải cứ thông đồng là xấu: thông đồng là trung gian, là cầu nối giúp hai bên xích lại gần nhau để tìm tiếng nói chung. Vì thế ở đây cũng có cách Đồng Âm. Xấu là thông đồng hại người, bán nước, phản bội người thân. Đi với dâm tinh là thông dâm, tức hai cái bụng thông nhau.

Đồng lương là đồng tiền người ta trả công cho bạn. Ngày xưa còn trả bằng hiện vật là lương thực, nên đồng lương là lương bổng, lương tiền. Nếu gặp Triệt dễ bị trừ lương, gặp Không thì chẳng có đồng nào, nếu có cái ăn thì ăn nhờ mẹ, vợ hoặc con gái. Người xưa lấy đồng (kim loại) làm bản vị để đổi qua lương thực: ở quê lấy lương thực đổi ra tiền, ở phố lấy tiền đổi ra lương thực. Từ đó cứ nhìn vào, sờ vào đồng tiền, dày mỏng, giá trị cao thấp, để biết phúc dày hay mỏng, lương nhiều hay ít. Và đồng tiền ấy có vấy dơ bẩn, máu me hay không, đồng tiền tội lỗi cũng là đây, khơi dậy bao chuyện thương tâm vì đồng tiền.

Ruộng đồng, lương thực và thức ăn của trẻ

Từ đồng tiền ta quay lại cánh đồng, nơi đồng tiền ấy bắt đầu.

Bộ Đồng Lương còn chủ ruộng nương, lương thực. Từ vị trí này có đủ bốn chính tinh Cơ Nguyệt Đồng Lương, một bố cục hài hòa: Thiên Cơ là cây cối, Thiên Đồng là ruộng nương, Thiên Lương là lương thực cây trái, còn Thái Âm là bóng mát của cây cối, cũng là hình ảnh người âm thầm làm việc, đa phần là phụ nữ. Bộ sao thiên về nông nghiệp, vì thế rất kỵ Hỏa Linh: thời tiết không thuận, nóng lạnh thái quá, mất mùa thất thu. Giới Tử Vi nói nhiều về vua chúa đâm chém nhau loạn xị, còn cơm gạo, xoài, chôm chôm do người nông dân làm ra, họ đa phần nằm ở đây. Chỉ tại đây ta thấy bóng dáng anh thợ săn, người đánh cá Sát Phá Tham, kẻ chăn nuôi Phủ Tướng. Đây là một Tử Vi đi gần gũi với cuộc sống thực tế.

Người nông dân từ bỏ ruộng đồng lên thành phố, có kẻ là nhà khoa học chuyên nông lâm, có kẻ làm quan lại nhỏ, tùy nhóm sao bác sĩ để luận nghề. Vì thế có câu "Cơ Nguyệt Đồng Lương tối kỵ Hỏa Linh xâm phá", vì hai sao ấy gây nóng lạnh thái quá, cây khô héo rụng, thế là mất mùa, đói.

Bộ sao còn chủ lương thực, thức ăn cho trẻ, mở ra một số ngành nghề liên quan đến con trẻ, và giúp đoán hạn có con hay không. Hạn đến đây có thể thêm con, thêm cháu, những đứa trẻ có tài khiến lòng tràn hạnh phúc, quanh ta có tiếng bi bô dễ thương, dù cũng vất vả khi bình sữa lúc muỗng bột, và nhà luôn có thức ăn của trẻ. Chỉ sợ bị mất tác dụng: hạnh phúc đâu không thấy, chỉ thấy nỗi bất hạnh vô phúc, phải thừa nhận có một đứa con, đứa cháu gieo họa cho mình, lại không đủ sữa, không đủ ấm khi cần, nghe tiếng khóc cằn nhằn khi no khi đói. Người viết vẽ hai bức tranh Đồng Lương trái ngược nhau vì tùy hung cát Kỵ Hình tinh tụ tập, còn bức thứ ba dung hòa hai cảnh trên là trường hợp cát hung tương bán.

Phơi thây ruộng đồng, hỏi đáp và những điều chưa nói hết

Cánh đồng nuôi người sống, cũng là nơi người nằm lại khi mất.

Xấu thì là chết, đem chôn nơi đồng không mông quạnh, láng giềng là nấm mộ hoang vu, chết vì bệnh tật hay tai nạn. Xấu nữa là âm mưu, thông đồng bị phơi bày, thậm chí bị mổ bụng phơi nắng mưa cho diều tha quạ mổ, chết không toàn thây, phơi thây chiến địa, phơi mình trước cổng thành, phơi trên mũi giáo. Khi chết ai cũng ra nơi đồng không mông quạnh. Vô phúc thì bị dời đi dời lại, chôn lên chôn xuống, mồ mả bị lấn chiếm để trồng trọt hoặc để ở, thậm chí chẳng ai thăm viếng, mất tích cả sau khi chết, như Nguyễn Du viết:

Sè sè nấm đất bên đàng, dầu dầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh. Rằng sao trong tiết Thanh minh, mà đây hương khói vắng tanh thế này.

Hỏi là Thiên Cơ, đáp là Thiên Đồng, tức phỏng vấn là đây. Thiên Cơ xin làm ơn chấm cho lá số, Thiên Đồng đáp vì lợi ích chung không được đâu: có cơ hội mà không chịu học, vì im lặng là vàng. Một số yếu tố khác người viết chưa triển khai: thời cuộc chung, sự thay đổi canh cải sáng tạo bắt chước, và cùng chung may mắn, lợi cho sự hùn hạp chung vốn với điều kiện không có Kỵ Đà và Không Kiếp. Nhưng tốt nhất vẫn là hùn nhau mua mỗi ngày một tấm vé số.

Biểu tượng của bộ Đồng Lương và cái thiên về âm tính

Cuối cùng là chuyện biểu tượng: bộ sao ấy trông như thế nào nếu ta vẽ nó ra.

Nhà đất thì cơ ngơi là Thiên Cơ, thềm trong là Thái Âm. Ruộng nương là Thiên Đồng, lương thực là Thiên Lương. Người thì Thiên Đồng là con nít, phụ nữ là Thái Âm. Với nam giới bức tranh có vẻ hoàn chỉnh, còn với nữ giới e thiếu vắng bóng dáng đàn ông, có lẽ người đàn ông ấy đi xa khuất tầm nhìn. Hợp lại thành cơ ngơi, ruộng nương, lương thực hoàn chỉnh, êm đềm tiếng trẻ con và phụ nữ, được như vậy người ta cho là hạnh phúc.

Vị trí này thiên về âm tính, thiên về nữ giới, và tùy hung cát Kỵ Hình tinh mà người nữ ấy gieo họa, gặp họa hay ban phúc. Cũng thiên về ban đêm, thiên về sự việc âm thầm. Nam Mệnh có cách này tại Mệnh thiên về tính khí như nữ, các cung về người quá thiên về giới nữ, tức không có nam. Nữ Mệnh có cách này cũng có sự bất ổn.

Đồng Lương ở Dần hay hơn ở Thân, vì cung Tài Bạch và Phúc Đức được bộ Nhật Nguyệt sáng sủa, còn ở Thân thì ngược lại.

Đồng Lương cần gặp, có thể gặp và kỵ gặp

Cần gặp: Kình Dương có Phượng Các thì lợi công danh, được nhiều người ngưỡng mộ tán tụng. Xương Khúc hợp cách đắc lực, có năng khiếu văn nghệ. Khoa Quyền Lộc thì thành công, rất cần tam Hóa để đánh giá. Khôi Việt phát phúc, phát may, phát sinh từ tâm làm việc thiện, bằng không người có bộ sao này chưa chắc làm việc tốt, có khi phải đoán bụng dạ hẹp hòi, và tối kỵ thêm Hỏa Linh Không Kiếp. Nếu có Hồng Thanh, Thanh Cái thì dễ kề cận kẻ quyền quý. Kỵ đi với Khoa, cát cách như Kỵ Thanh Hà là kỳ tài, kỳ đồng, nhưng chớ gặp Kỵ Triệt hoặc Kỵ Kiếp có Đào hoặc có Khốc Hư. Trong trường hợp này chủ sự khuyến khích, động viên nhau.

Có thể gặp: Tang Môn, Thái Tuế, Bệnh Phù. Tang Môn vô hại, như có bạn đồng môn cùng phe giúp mình. Cần Thái Tuế, sao ngôn ngữ, lợi công danh, hợp bộ Đồng Âm. Bệnh Phù lợi ngành y, đi với Thiên Lương là toa thuốc. Phục Binh dễ có cơ may báo ân đền đáp, mình giúp người, người giúp mình, hợp với cuộc sống tập thể của Thiên Đồng. Tang Hổ Điếu Binh (Tứ Hung) gặp Thiên Đồng hóa thành tốt đẹp. Phú nói "Thiên Lương cư miếu vượng độ Thái Tuế, Bệnh Phù nhi khả giới". Bộ Linh Kỵ thêm một, hai sao Lộc lợi cho kinh thương, kỹ nghệ, như cái logo, lá cờ lệnh của công ty. Hình vô hại và cần thiết cho y học, kỹ thuật, nhất là Hình Khoa, nằm trong bộ Tướng Ấn. Kỵ gặp Hình khi Linh Hình có Việt Khôi, hoặc Kỵ Hình Kình, Hình Kiếp, Hình Kỵ Kiếp.

Kỵ gặp: Hỏa Linh phá cách, không lợi cho nông nghiệp, nên làm công thương; nếu có sao Lộc chứng tỏ thành công trong kinh doanh nhưng chỉ với cách Linh Kỵ mà thôi, Hỏa thêm Kỵ thì không hay, đưa đến hai đáp số khác nhau. Kình Dương thì trong lòng có điều lo nghĩ, trong bụng có sự chống đối âm thầm, vì hình thành cách Âm Kình. Kình không hợp Thiên Đồng mấy, nhưng ở đây có bộ Đồng Âm phù hợp, và rất hay khi có Kình Phượng, ngưỡng mộ tán dương; Kình có Lương hợp cách lợi nhà cửa, cái nóc nhà được đưa lên cao, có tính khoe của; tối kỵ thêm Hỏa Linh Không Kiếp. Đà La vẫn vô hại nhưng không nên gặp thêm Kỵ, chủ mập, còn chủ mắt rất kém vì Thái Âm hoàn toàn bất lợi. Không Kiếp nếu có là vô phúc bất hạnh, bị kẻ dưới tay ức hiếp, như vua Lê bị chúa Trịnh lộng quyền, Hiến Đế bị Đổng Trác ức hiếp; đáng sợ là họa vì con nít. Cáo Phụ thì hỗn láo với người trên. Tang Điếu thì té ngã từ cao, nhưng về công việc vẫn lợi. Việt Linh Hình phòng sấm sét búa đao, rất kỵ thêm Phi Hỏa. Tuần Triệt vẫn vô hại dù có cả hai sao này, nhưng thiếu khuyết dễ bị trừ lương đối với Triệt. Chớ gặp Kỵ, trừ Kỵ ngoại xung mà bản cung có Triệt thì đỡ. Đi với Tuần là trung lương, trọng hậu, nhưng thêm Thiên Không thì hỏng bét.

Những câu phú về Đồng Lương

Cổ nhân gói tất cả những điều trên vào mấy câu phú ngắn.

Thiên Đồng, Thiên Lương Dần Thân cung, chủ thông minh, Giáp Ất Đinh sinh nhân phúc hậu.

Đồng Lương viên hội Khôi Quyền, tăng phùng Linh Kỵ giao lai, song Lộc doanh thương dị đạt phú cường.

Dần Thân hội Đồng Lương Cơ Nguyệt, tất định tác lại nhân, nhược vô tứ tinh, tam giả nan thành.

Là quan lại nhỏ, tùy trường hợp để đoán. Cách Đồng Lương là văn cách, không phải cách chỉ huy, cao nhất là bộ trưởng, thủ tướng đã là nhiều so với ngày nay, thiên về bàn luận hỏi đáp mà thôi.

Cơ Nguyệt Đồng Lương kiêm hữu sát tinh, Hiến Đế ưu phòng Đổng thị.

Khoa Quyền Lộc Mã tu phòng Không Kiếp ám xung, Cơ Nguyệt Đồng Lương tối kỵ Hỏa Linh xâm phá.

Trường Sinh hội Thiên Lương ư phúc địa, thân thượng hữu kỳ tài.

Thiên Cơ dữ Thiên Lương, Tả Hữu Xương Khúc hội họp, văn vi thanh hiển, vũ vi trung lương.

Cơ Lương thủ Mệnh gia cát diệu, phú quý song toàn.

Thiên Đồng nhập Mệnh, hoán cải vô thường.

Ấm phúc Mệnh Thân bất phạ tai ương.

Thiên Đồng tọa Mệnh tính ôn lương. Thiên Đồng hội cát thọ nguyên trường.

Thiên Đồng gia Đà Kỵ phì mãn nhi mục diêu. Thiên Đồng Kình Dương thân thể tao thương.

Phúc phùng Việt diệu định thị hải hà dục tú.

Thiên Đồng ngộ Kiếp Không bất cát. Cự Môn phùng Đà Kỵ tối hung.

Lương xung tọa thủ kiêm thọ toán. Thiên Lương thủ chiếu cát tương phùng bình sinh phúc thọ.

Thiên Lương bảo tư tài dĩ dữ nhân, Thất Sát thủ tha tài vi kỷ vật.

Lương tú Âm linh nghi tác đống lương chi khách.

Khôi Lương Thanh Việt Cái Hồng, nam cận cửu trùng nữ tác cung phi.

Việt Linh Hình ngộ Cơ Lương, hoặc là Nhật Nguyệt ắt chờ lôi kinh.

Nguồn: Tử Vi Bửu Đỉnh – Chính Tinh.

Chủ đề của bài

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Cách cục