Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Nhập môn

Bài tổng quan

Ba lá số chồng chết sớm, hoạn nạn, tu hành và câu hỏi số mệnh

Tử Vi Nam Phái - Nhập môn30/09/202618 phút đọc3 lượt đọc
Ba lá số chồng chết sớm, hoạn nạn, tu hành và câu hỏi số mệnh

Một người vợ mất chồng khoảng ba mươi tuổi sau một cuộc giải phẫu, một người đàn bà chịu tai ương trải khắp Phúc, Mệnh, Quan, Phu, và một người rồi cũng tìm được lối vào cửa đạo. Ba mảnh đời nhìn qua tưởng đã an bài từ khi mở mắt chào đời. Nhưng nếu lá số nói đúng, người cầm nó trên tay biết rồi thì phải làm gì…


Số chồng chết sớm

Âm nữ, Bản Mệnh Ốc Thượng Thổ, Hỏa Lục Cục.

CungCác sao
PhụThiên Lương↑; Thiên Trù, Đà La, Thiên Mã, Quan Phủ, Tả Phù, Thiên Hư, Thai Phụ, Tuế Phá, Lâm Quan; hạn 16
PhúcThất Sát*; Lộc Tồn, Bác Sĩ, Long Đức, Thiên Quý, Đế Vượng; hạn 26
ĐiềnKinh Dương, Lực Sĩ, Thiên Khốc, Hoa Cái, Bạch Hổ, Suy; hạn 36
QuanLiêm Trinh°°; Lưu Hà, Thanh Long, Kiếp Sát, Thiên Đức, Hỏa Tinh, Phúc Đức, Bệnh, Địa Giải, Ân Quang; hạn 46
MệnhTử Vi°°, Thiên Tướng°°; Tử Phù, Nguyệt Đức, Thiên La, Hồng Loan, Phục Binh, Quan Đới; hạn 6
NôTiểu Hao, Văn Tinh, Phá Toái, Thiên Việt, Điếu Khách, Hữu Bật, Đẩu Quân, Thiên Giải, Tử, Thiên Thương; hạn 56
BàoThiên Cơ*, Cự Môn*; Long Trì, Đại Hao, Tam Thai, Quan Phù, Văn Khúc, Hóa Kỵ, Hóa Khoa, Mộc Dục, Thiên Tài
DiPhá Quân°; Quả Tú, Trực Phù, Tướng Quân, Thiên Hình, Địa Kiếp, Thiên Hỷ, Địa Võng, Mộ
Phu, ThânTham Lang°; Thiên Quan, Quốc Ấn, Cô Thần, Thiếu Âm, Bệnh Phù, Thiên Y, Thiên Riêu, Tràng Sinh
TửThái Âm°, Thái Dương°; Hỷ Thần, Hóa Lộc, Tang Môn, Thiên Thọ, Phong Cáo, Dưỡng
TàiVũ Khúc°°, Thiên Phủ°°; Thiên Không, Đào Hoa, Thai, Thiếu Dương, Phi Liêm, Địa Không
TậtThiên Đồng°°; Hóa Quyền, Thiên Khôi, Đường Phù, Thiên Phúc, Thái Tuế, Tấu Thư, Linh Tinh, Phượng Các, Thiên Sử, Giải Thần, Tuyệt, Bát Tọa, Văn Xương

Cung Phúc, Cung Mệnh, Cung Thân, Cung Phu hầu như gặp sát tinh trùng phùng.

Cung Phúc

  • Đóng ở Ngọ gặp Thất Sát ngưỡng đầu bị Tuần: bạc phúc.
  • Gặp Địa Không, Địa Kiếp, Thiên Hình, Thiên Không, Thiên Riêu, Cô Thần, Quả Tú: có tai họa gia đạo, bị lận đận nhiều trong tình trường và bất hạnh về gia đạo, vì có sự gián đoạn, hung họa xảy ra cho người chồng.

Cung Mệnh

  • Gặp Địa Không, Thiên Không, Địa Kiếp, Kiếp Sát, Thiên Hình, Hỏa Tinh, Quả Tú bao vây cách Tử, Phủ, Vũ, Tướng.
  • Gặp cả Đào, Hồng, Không, Kiếp, Tướng, Phục, Thai: vừa lẳng lơ vừa yểu mạng, ắt phải có con riêng.

Cung Phu, cung Thân

  • Thân cư Phu gặp Triệt đi với Tham, Riêu trong cách Đào, Hồng, Thai, Binh, Tướng của Mệnh.
  • Gặp Hình, Riêu, Kiếp, Hỏa, Hà, Kiếp Sát, Phá cho thấy chồng bị chết, sau khi bị giải phẫu, có thể là thận (Riêu).
  • Gặp lại Cô Thần, Quả Tú ở Phu, mà Thân lại cư Phu: số góa bụa vào khoảng 30 tuổi.
  • Phu có sao Bệnh Phù và Bệnh Chiếu: chồng rất suy nhược, lại đi với Tràng Sinh, Đế Vượng cho thấy bệnh trầm trọng.

Với bấy nhiêu cách xấu tái chiếu nhiều lần vào các cung cường, nhất là Phu cho nên số này phải chết chồng sớm. Phải yểu, phải bị mổ và rất lẳng lơ, đa tình, có con hoang. Ít ra cũng có 2 dòng con (cung Tử có Âm Dương, Tả, Hữu gặp Thai, Đào, Thân có Riêu, Mệnh có Đào, Hồng, Thai, Binh, Tướng). Các sao Tử, Phù, Hình ở đây xem ra không cự nổi các sao hoa nguyệt ở nhiều cung tái chiếu. Vì có các sao đó, cho nên có thể nói, ít ra số này phải có nhiều đời chồng liên tiếp, không hẳn là song hành và có nhiều dòng con. Không thể ở vậy sau tuổi 30.

Số hoạn nạn

Có một loại lá số mà tai ương không dồn vào một cung, mà trải khắp Phúc, Mệnh, Quan, Phu, như một dòng nước cuốn qua nhiều bờ.

Âm nữ, Bản Mệnh Tuyền Trung Thủy, Kim Tứ Cục.

CungCác sao
PhụThiên Lương↑; Hóa Quyền, Phá Toái, Thanh Long, Bạch Hổ, Tràng Sinh; hạn 14
PhúcThất Sát*; Văn Tinh, Thiên Trù, Đào Hoa, Tiểu Hao, Thiên Đức, Mộc Dục, Hồng Loan, Phúc Đức, Địa Giải; hạn 24
ĐiềnQuả Tú, Thiên Giải, Quan Đới, Thiên Thọ, Điếu Khách, Tướng Quân, Đẩu Quân; hạn 34
QuanLiêm Trinh°°; Đường Phù, Thiên Việt, Địa Kiếp, Thiên Phúc, Trực Phù, Tấu Thư, Thiên Hình; hạn 44
MệnhTử Vi°°, Thiên Tướng°°; Thiên Quan, Hóa Khoa, Kinh Dương, Long Đức, Lực Sĩ, Dưỡng, Thiên La, Tam Thai
NôPhi Liêm, Thiên Khốc, Đế Vượng, Thái Tuế, Thiên Thương; hạn 54
BàoCự Môn*, Thiên Cơ*; Thai Phụ, Tả Phù, Thiên Hư, Lộc Tồn, Tuế Phá, Hóa Lộc, Thai, Bác Sĩ
Thân, DiPhá Quân°; Lưu Hà, Hỷ Thần, Suy, Bát Tọa, Địa Võng, Thiếu Dương, Thiên Không; hạn 64
PhuTham Lang°; Địa Không, Đà La, Nguyệt Đức, Kiếp Sát, Tử Phù, Quan Phù, Tuyệt
TửThái Âm°, Thái Dương°; Văn Xương, Hóa Kỵ, Văn Khúc, Hoa Cái, Long Trì, Linh Tinh, Phượng Các, Quan Phủ, Giải Thần, Phục Binh, Ân Quang, Mộ, Thiên Quý, Thiên Tài
TàiVũ Khúc°°, Thiên Phủ°°; Thiên Y, Thiên Riêu, Thiên Khôi, Hỏa Tinh, Thiên Hỷ, Đại Hao, Thiếu Âm, Tử
TậtThiên Đồng°°; Phong Cáo, Cô Thần, Hữu Bật, Tang Môn, Quốc Ấn, Bệnh Phù, Thiên Mã, Bệnh, Thiên Sử
  • Phúc bị Tuần lấn triệt làm tê liệt ảnh hưởng của Thất Sát ở Ngọ.
  • Phúc bị Địa Không, Thiên Không, Đà, Kiếp Sát, Hỏa, Tiểu, Hao, Riêu hội chiếu.
  • Mệnh bị Kiếp, Hỏa, Kinh, Thiên Không, Đại Hao, Riêu.
  • Quan bị Liêm, Hình, Đồng cung với Kiếp, gặp lại Địa Không, Hỏa, Kinh, Đà, Kiếp Sát, Đại Hao hội chiếu.

Đó là trường hợp trùng sao ở những cung cường. Điều này cho thấy đương sự bị hoạn nạn liên miên và nặng nề. Hình thái của hoạn nạn trước hết là họa chiến tranh (Không, Kiếp, Hỏa), thương tổn tay chân (Kình, Đà). Bị bệnh phải mổ (Thiên Hình, Kiếp, Sát, Đại, Tiểu, Hao) liên quan đến bộ máy tiêu hóa. Ngoài ra còn có thể bị vướng ngục hình (Liêm, Hình, Kiếp), nếu không bị tai nạn bị mổ xẻ.

  • Phúc có Đào, Hồng, Không, Đà, Hỏa lại bị Tuần, Triệt đồng cung án ngữ cho thấy số này khó thọ và hơn nữa phải gặp cảnh gia đạo xáo trộn, vì cung Phu gặp lại Không, Kiếp, Đào, Hồng, Liêm, Hình, Kiếp Sát. Như vậy dù có chồng cũng sát phu, đồng thời gặp ngang trái, ba chìm bảy nổi.
  • Cách Tử, Phủ, vì Phúc, Nhu, Quan bị thiệt thòi nặng nề cho nên không chết sớm thì bắt buộc cũng phải nghèo trong một thời gian dài, phải khổ vì gia đạo (muộn chồng, ế chồng hoặc sát chồng), phải bị nhiều tai nạn bất ngờ nặng nề và phải bị bệnh hoạn thường xuyên.
  • Nhờ Tài có Vũ, Phủ, Khôi, Việt cho nên về sau có thể hanh thông một thời.

Số người đi tu

Từ những lá số bị đời ép dần vào ngõ cụt, đến lá số cuối cùng, nơi người ta không còn tìm lối thoát nào khác ngoài cửa đạo.

Âm nữ, Bản Mệnh Sơn Đầu Hỏa, Hỏa Lục Cục.

CungCác sao
Quan, ThânThiên Tướng°; Thanh Long, Tả Phù, Tuế Phá, Lâm Quan, Thiên Hư, Thiên Mã; hạn 46
NôThiên Lương°; Đế Vượng, Tiểu Hao, Thiên Trù, Thiên Thương, Văn Tinh, Long Đức, Văn Khúc, Ân Quang, Hóa Quyền
DiLiêm Trinh°, Thất Sát°; Tướng Quân, Suy, Hoa Cái, Thiên Khốc, Bạch Hổ
TậtThai Phụ, Văn Xương, Thiên Phúc, Đường Phù, Tấu Thư, Kiếp Sát, Thiên Đức, Linh Tinh, Phúc Đức, Thiên Sử, Địa Giải, Bệnh, Thiên Quý, Thiên Việt
ĐiềnCự Môn↑; Thiên Quan, Lực Sĩ, Kinh Dương, Nguyệt Đức, Tử Phù, Tam Thai, Thiên La, Phong Cáo, Quan Đới, Thiên Thọ, Hồng Loan; hạn 36
TàiPhi Liêm, Phá Toái, Hữu Bật, Điếu Khách, Thiên Giải, Tử, Địa Không
PhúcTử Vi, Tham Lang↑; Lộc Tồn, Bác Sĩ, Quan Phù, Long Trì, Mộc Dục, Hóa Khoa; hạn 26
TửThiên Đồng↑; Lưu Hà, Quả Tú, Hỷ Thần, Trực Phù, Thiên Hỷ, Địa Võng, Bát Tọa, Thiên Hình, Mộ
PhụThiên Cơ, Thái Âm↑; Thiếu Âm, Đà La, Thiên Y, Quan Phủ, Hóa Lộc, Cô Thần, Tràng Sinh, Thiên Riêu, Hóa Kỵ; hạn 16
MệnhThiên Phủ; Phục Binh, Dưỡng, Tang Môn, Địa Kiếp; hạn 6
BàoThái Dương↑; Thiên Khôi, Đại Hao, Đào Hoa, Thiên Không, Thiếu Dương, Thai, Thiên Tài, Đẩu Quân
PhuVũ Khúc↑, Phá Quân↑; Quốc Ấn, Bệnh Phù, Phượng Các, Thái Tuế, Giải Thần, Hỏa Tinh, Tuyệt

Cung Phúc

Có Tử, Tham đóng ở Mão; người bi quan, yếm thế, hơn nữa vì đóng ở Phúc cho nên thừa hưởng cá tính đó từ dòng họ. Có thể là tu dòng.

Cung Mệnh

  • Có sao ủy mị u buồn, bi ai như Tang, Hổ, Cốc, Thư, Suy.
  • Có Địa Kiếp ở Mệnh, gặp Địa Không, Chiếu: có sự xui xẻo, bạc phận trong cuộc đời.
  • Có sao Dưỡng, Tang, Khổ cho thấy mồ côi từ nhỏ hoặc phải chịu sự nuôi dưỡng của kẻ khác, không sống chung với cha mẹ.
  • Có sao Tả, Hữu, chiếu Mệnh phải phiêu bạt xa quê hương, ly cách họ hàng quyến thuộc, lập nghiệp phương xa. Ngoài ra, còn có cả Thiên Mã trợ lực cho Tả, Hữu khiến cho cuộc đời luôn phiêu bạt.

Cung Quan, cung Thân

  • Có Mã, Tả, Hữu đi kèm: phiêu bạt.
  • Không, Kiếp, Tang chiếu cùng với Tang Môn, Thiên Thư cho thấy sự thăng trầm xui xẻo.
  • Cung Thân đóng ở Quan cho nên cuộc đời trong hậu vận còn phải lận đận nhiều.

Cung Phu

Có Vũ, Phá hãm địa: người cô độc, thất bại liên miên trong tình trường.

Duy số này tu được đắc đạo nhờ có Phủ, Tướng Triều viên, hội với Lộc Tồn, Hóa Khoa, Long Trì, Phượng Các, Tả Phù, Hữu Bật, Quốc Ấn, Thanh Long chiếu vào Quan và Thân.

Ảnh hưởng của số mệnh đối với người đời

Sau bấy nhiêu lá số, câu hỏi còn lại không nằm trên giấy nữa, mà nằm ở người cầm lá số ấy trên tay: biết rồi thì làm gì?

Có thể chia những người đi xem số ra làm 3 loại:

  • Loại thứ nhất gồm những người hiếu kỳ, xem số để biết vận mệnh, vì tò mò muốn tìm hiểu.
  • Loại thứ hai gồm những người khốn khổ, xem số để tìm một hy vọng cho cuộc sống cơ cực.
  • Loại thứ ba gồm những người đang đứng trước một quyết định quan trọng, không biết nên theo hướng nào, đi xem số để chọn đường đi.

Không may là hai loại người kể sau chiếm đa số. Họ đặt hết tin tưởng vào lời nói của thầy số và dựa vào số đó để hành động. Những bí mật của tơ lòng được đưa ra tâm sự để xin thầy vài lời khuyên cáo. Ông thầy số nghiễm nhiên trở thành ông thầy đời, và có khi được nhờ đóng vai trò một ông thầy cúng.

Tín ngưỡng này vô cùng nguy hiểm, có thể đưa đến một thụ động, phó mặc cho cuộc đời đưa đẩy, thậm chí còn lao mình hành sử theo số kiếp mà họ cho là cố định. Họ không thể chia xét lại về vấn đề đúng hay sai của số kiếp nên cũng không làm gì để mong cải sửa. Sự hiểu biết về số mệnh vô tình đã chi phối sâu xa tâm lý và hành động của con người. Chính vì vậy nên chúng ta cần khảo sát tường tận số kiếp và mức độ chính xác của nó gỡ hầu giúp đa số nhân loại đả phá những ô mê vô lý, phục hồi niềm tự tín cho họ, để từ đó, giúp con người có một thái độ, một lập trường, một đường lối hành động thích nghi trước cái gọi là “số mệnh”.

Có 4 vấn đề đặt ra ở đây:

  • Số mệnh là gì? Nên hiểu số mệnh như thế nào?
  • Hạnh phúc là gì? Nên đặt tiêu chuẩn hạnh phúc ra sao?
  • Làm thế nào để cải sửa số mệnh như mưu cầu hạnh phúc?
  • Biết được số mệnh như thế, con người cần có lập trường gì trước số mệnh?

Thử phác họa một định nghĩa cho số mệnh

Trả lời câu hỏi số mệnh là gì, phải chọn giữa hai cách hiểu, và mỗi cách hiểu đưa con người đi về một hướng khác hẳn.

Vấn đề cải sửa số mệnh có được đặt ra hay không là do cách chúng ta hiểu danh từ số mệnh. Tựu chung có 2 lối hiểu: một lối hiểu theo quan niệm tiền định tuyệt đối và một lối hiểu theo quan niệm tiền định tương đối.

Quan niệm tiền định tuyệt đối

Theo quan niệm này, số mệnh là cuộc đời đã được xếp đặt trước, trong đó con người không thể cưỡng lại, cũng không thể sửa đổi được vì con người bị đóng khung bởi nhiều hoàn cảnh khó khăn hội tụ với nhau.

Nếu phân tích ra định nghĩa này có 3 điểm đáng lưu ý:

Sự xếp đặt trước cuộc đời con người. Điều này ngụ ý rằng con người phải nhận lấy cuộc đời sẵn có dành cho mình, những bẩm sinh thiên phú nội căn của mình, không thể từ chối bẩm sinh và cuộc đời đã được xếp đặt sẵn như vậy.

Việc không thể cưỡng lại, không thể sửa đổi. Ý tưởng này có nghĩa là cá nhân chịu thua hoàn toàn và vô điều kiện, dù là đôi khi có thể thấy trước được.

Sự hội tụ của nhiều hoàn cảnh khó khăn. Những hoàn cảnh khó khăn bắt nguồn từ những yếu tố nằm ngoài tầm tay của cá nhân, ví dụ như từ xã hội, từ thời thế, từ kẻ khác, hoặc có thể là từ vận mạng đất nước trong đó con người không làm chủ.

Ảnh hưởng của cá tính bẩm sinh và của nhiều hoàn cảnh hội đó khiến con người chỉ còn có một hướng đi độc nhất, phải chấp nhận, không thể chọn lựa, không thể xoay trở gì được. Quan niệm này nhấn mạnh tính cách tiềm định tuyệt đối của số mệnh: số mệnh là Định Mệnh, tức là cuộc đời đã được định trước cho riêng mỗi người.

Quan niệm tiền định tương đối

Theo quan niệm này, số mệnh là một triển vọng hạ hữu của cuộc đời, trong đó con người có thể dự phần định một hướng đi, mức độ dự phần này chỉ khả thi trong một số hoàn cảnh.

Định nghĩa này có bốn điểm cần phân tích:

Số mệnh là một triển vọng khả hữu của con người. Điểm này cần ngụ ý rằng con người cũng có một số kiếp, nhưng số kiếp này không cố định. Hoàn cảnh bên ngoài hoặc thiên phú bên trong tuy có ảnh hưởng mạnh đến cá nhân. Vì vậy cuộc đời con người cần có nhiều hướng đi chớ không phải chỉ một hướng đi, một chiều hay một ngõ cụt.

Sự dự phần của con người trong số mệnh. Trong những cửa ngõ còn để ngỏ, cá nhân có thể tự do lựa chọn một ngả nào đó, có thể sửa đổi ít nhiều cuộc sống của mình chớ không hoàn toàn phụ lợi.

Những hoàn cảnh vừa phải chi phối con người. Cá nhân vẫn gặp được những cảnh ngộ thuận lợi chớ không phải chỉ gặp toàn những tình thế tuyệt vọng. Sự dự phần của họ, tuy có bị giới hạn, nhưng không phải là cá nhân không có dự phần, mà cũng không phải là trong bất cứ hoàn cảnh nào, cá nhân cũng dự phần được. Như vậy, tất cả có một số hoàn cảnh ngoại lệ mà con người đành chịu bó tay.

Những hoàn cảnh ngoại lệ này có thể gồm có:

  • Những trường hợp bất khả kháng. Ví dụ như một mối họa bất ngờ và lớn lao trong đó con người đành thúc thủ, chẳng hạn như hành khách bị tai nạn, phi cơ lúc đang bay, phải phó mặc cho may rủi.
  • Những trường hợp chết, bệnh hoạn. Con người vốn không muốn bị bệnh, cũng như không thể không chết. Gặp bệnh hoạn và trước cái chết, con người phải nhận, không thể làm cho mình vô nhiễm hay bất tử.
  • Những tai họa rủi ro bắt nguồn từ một hoặc nhiều người khác, ví dụ như sự bất cẩn của tài xế, sự phá hoại, trường hợp trộm cướp, hỏa hoạn.
  • Những hoàn cảnh đặc biệt mà con người không lựa chọn được, chẳng hạn như đang giáp chiến với địch quân, hoặc là gặp lúc quốc vận suy vong mà con người không có cơ hội gì ảnh hưởng đến vận nước.

Tóm lại, theo quan niệm tiền định tương đối, ngoài các hoàn cảnh ngoại lệ kể trên, con người hãy còn có một số cơ hội, một số triển vọng trong những tình thế không đến nỗi bế tắc. Quan niệm này thừa nhận vai trò nhận định của cá nhân, trong việc lựa chọn đường đi, khai thác triển vọng hoặc lợi dụng cơ hội. Số mệnh không còn có nghĩa tiền định, cố định và bất khả kháng. Lẽ dĩ nhiên, khi nói đến dự phần đấu tranh tức là ta ngụ ý cá nhân có đủ chi thức, có ý thức, chớ không phải loại ù lì, điên cuồng, bạc nhược. Đây là người muốn chống lại nghịch cảnh để sống còn, muốn khai thác thuận cảnh để cải tiến vận số, điều này không có nghĩa là cá nhân đó có vạn năng hay hoàn toàn chủ động. Họ vẫn có thể sai lầm trong việc chọn hướng đi, hoặc có thể thất bại trong việc cải thiện số kiếp. Tuy nhiên, sai lầm và thất bại không có nghĩa là cá nhân không có dự phần vào kiếp số của mình.

Trước hai lối hiểu danh từ số mệnh, lối hiểu nào đúng?

Phê bình và lựa chọn định nghĩa

Bài bác định nghĩa tiền định tuyệt đối. Định nghĩa này bi quan và đánh giá quá cao nghịch cảnh, cơ hồ như cho rằng cá nhân nào cũng bất lực hoàn toàn trước nghịch cảnh, cơ hồ như cho rằng hoàn cảnh nào cũng bất khả kháng và thiên bẩm nào cũng vô địch.

Thiên lệch về định nghĩa đó chỉ nhìn có một mặt của vấn đề, chỉ liệt kê toàn những hoàn cảnh tuyệt vọng mà không kể đến những hoàn cảnh bình thường và những hoàn cảnh thuận lợi. Đồng thời chỉ thấy bế tắc của nghịch cảnh mà quên đi sự đề kháng của cá nhân. Do đó định nghĩa này tỏ ra phiến diện, chỉ đúng một phần. Đúng khi nào cá nhân gặp trường hợp bất khả kháng, không đúng cho những trường hợp bình thường và thuận lợi còn đối với thiên bẩm, định nghĩa cũng phiến diện, vì thiên bẩm không hoàn toàn vô địch, cố định và đơn độc quyết định số kiếp. Con người, tuy phải tiếp nhận nhưng vẫn có thể thay đổi và cải sửa nó bằng nghị lực và văn hóa của mình.

Những lập luận trên khiến ta không thể chấp nhận hoàn toàn định nghĩa tiền định tuyệt đối.

Lựa chọn định nghĩa tiền định tương đối. Ta chấp nhận định nghĩa tiền định tương đối, theo sự phân tích và sự suy diễn khác ngoại lệ và triển vọng khả hữu nói ở đoạn trên. Như vậy, vận mệnh không còn là định mệnh khắt khe bóp chẹt con người khiến họ phải tuân phục, kiểu như một con tàu bắt buộc phải chạy hoài trên đường sắt. Trái lại:

  • Vận mệnh là sự va chạm giữa cá nhân và ngoại cảnh, giữa ý chí, văn hóa, tự do và thiên bẩm.
  • Cá nhân có thật sự góp phần cấu tạo định hướng, cải sửa đến một mức nào đó những hoàn cảnh mà mình gặp phải.
  • Cá nhân chỉ chịu thua trong những tình thế bất khả kháng đã kể ở đoạn trên. Và trong trường hợp cá nhân bị một nghịch cảnh chế phục hoàn toàn, sự thắng thế của nghịch cảnh cũng chưa đáng kể được gọi là vận mệnh, vì lý do con người có thể bị một nghịch cảnh nào đó chế ngự, nhưng có thể khắc phục được vài nghịch cảnh khác. Trong suốt quá trình va chạm không phải lúc nào người đời cũng thua thiệt mãi và không phải luôn luôn đời người chỉ gồm toàn những nghịch cảnh tuyệt vọng. Số kiếp của họ ra sao, phải đợi đến khi cá nhân nhắm mắt mới có thể nhận định được, và phải nhận định qua toàn thể cuộc đời của họ chớ không nên căn cứ vào một giai đoạn.

Nguồn: Tử Vi Tổng Hợp – Nguyễn Phát Lộc

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Nhập môn