Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Nhập môn

Bài tổng quan

Vòng Bác Sỹ, Tràng Sinh và gốc thiên văn của Thái Tuế

Tử Vi Nam Phái - Nhập môn29/09/202617 phút đọc4 lượt đọc
Vòng Bác Sỹ, Tràng Sinh và gốc thiên văn của Thái Tuế

Mười hai sao trong vòng Bác Sỹ lo phần công danh tài lộc, mười hai trạng thái của vòng Tràng Sinh lo phần sinh lão bệnh tử một đời người — còn vòng Thái Tuế thì được truy tận gốc thiên văn, giải thích vì sao một hành tinh xa xôi lại...


Có ba vòng sao xoay vần theo chu kỳ 12 cung: vòng Thái Tuế gắn với phúc phận và cách đối nhân xử thế, vòng Bác Sỹ theo sát Lộc Tồn để luận công danh tài lộc, và vòng Tràng Sinh mười hai trạng thái sinh lão bệnh tử của đời người.

Điếu-Khách

Thuộc Kim. Chủ ngôn luận văn chương thi phú. Hội với song Hao, Tang-Hổ là bộ bại-tinh, chủ phá hại tài sản, gia trang, gây tật bệnh hình thương. Cư ở hãm địa, nói năng không cẩn trọng, ham mê chơi bời, nhất là bài bạc, và ly khắc tổ tông. Hội với Mã Khốc lâm Mệnh, là người học vấn có tài hùng biện, mẫn tiệp rất khéo léo về ngoại giao. Mã Khốc Khách, ví như ngựa có đủ bộ yên cương và nhạc.

Quan-Phù

Thuộc Hỏa. Chủ thông minh, cơ mưu quyền bính. Quan-phù rất hợp với Thái-tuế, Tuế-phá hay hội với Cơ, Lương, Tang-Hổ, Hình, miếu địa, tăng thêm phần rực rỡ tốt đẹp về văn chương, binh nghiệp và tính chất của các sao này. Hội với Tuế Đà, Hình Kỵ, cư hãm địa, thì khó tránh được ngục hình, hoặc thị phi nơi công môn. Ở phú có câu: Quan-phù Tấu Tuế một đoàn, đêm ngày chầu chực cửa quan mỏi mòn.

Lực-Sỹ

Thuộc Mộc. Sao này là tùy tinh. Kết hợp với hung linh tăng thêm sự hung ác. Hội với cát tinh, thời gia tăng mỹ mãn. Ở phú có câu: Kình-dương hội Lực Sỹ, Lý Quảng bất phong. Lý Quảng không được thăng quan tiến chức, vì bị Kình-dương hội với Lực-sỹ.

Thanh-Long

Thuộc Thủy. Chủ may mắn, linh lợi, tài năng, tiền của. Cư nơi hãm một mình, ví như con rắn đất, không đắc lực. Đồng cung với Long-đức ở Thìn, là nhập miếu, là cách song Long nhập uyên, rồng vào hang vực. Song Long hội Lộc, là trai lấy vợ con nhà khuê các, vợ có tiền của hồi môn, gái lấy chồng qúy hiển mà giàu có.

Song Long cư cung Phúc-đức là hợp cách nhất, là nhà có mả phát đều cho nam nữ, mà thành đạt lâu dài. Thanh-long đồng cung với Hỏa-kỵ là rồng mây gặp gỡ, là cách Long Kỵ nam khánh-hội. Thanh-long đồng cung với Lưu-hà, là rồng vẫy trong bể lớn. Long Kỵ Hà đồng cung, là tài lộc công danh, có sự gặp gỡ tự nhiên, không phải mưu cầu cực nhọc.

Tướng-Quân

Thuộc Mộc. Chủ can trường, nghi vệ, binh quyền. Hội với Thiên-tướng ở Mệnh hay ở Quan-Lộc là cách lưỡng Tướng, là xuất tướng nhập tướng. Cách lưỡng Tướng, 1 thủ ở Mệnh, 1 ở Quan, hay 1 ở Di, là hợp hơn cách lưỡng Tướng đồng cung.

Hội với bộ binh, Hình Ấn, thiên về võ nghiệp, nếu được lưỡng Tướng, thời binh quyền hiển hách, toàn mỹ hơn nhiều. Hội với Thiên-hình miếu địa, ví như ông tướng có thanh long đao. Tướng Phục Hồng Đào, hay Việt Khôi, là cách sớm phát binh nghiệp, nhưng văn chương học thức, thường hay quản trị chính chức ở các nha sở, hay là tham mưu về các binh gia. Thủ Mệnh là người có lưng ngang, ngộ Việt là da hơi đen, tính tình quả cảm nhưng hơi thô.

Tấu-Thư

Thuộc Kim. Chủ bằng sắc, ân tín và các thư lịch. Hội với Hổ-kỵ ở miếu vượng. Hội với Vũ Hủ Đào, ưa thích nghệ thuật, hành nghề ca vũ nổi tiếng.

Phi-Liêm

Thuộc Hỏa. Hội với các sao miếu vượng, là người khôn ngoan lanh lẹ, phù trì cho các sao này thêm oai quyền mỹ mãn. Hội với Bạch-Hổ miếu, hợp cách ví như Hổ Phi. Cùng với Hổ, Hình, hay Hỏa-Linh hãm, Phi-liêm ví như binh khí sắc bén, giúp cho Hổ Linh Hình tác họa mau lẹ.

Thủ Mệnh hợp cách, là người lanh lợi, nhưng tính cấp, và có cơ mưu, ngày nay là những phi công, phi tiêu về ngành không vận, hay các thuyền trưởng, hoa tiêu về ngành thủy vận rất đắc lực. Lưu hạn ngộ Hình hay Kỵ hãm, thời phải quan phòng tai nạn, nếu có sẵn hai sao này hãm ở Mệnh, hay ở Quan-Lộc. Tượng ở thân thể là lông và tóc, nên thường là người lông tóc rậm, ngộ Hình là tóc quăn.

Hỷ-Thần

Thuộc Mộc. Chủ may mắn, vui vẻ, tăng tiến tài lộc. Hội với Thiên-hỷ, thành bộ song Hỷ, là sự vui mừng tài lộc đến dồn dập. Cư Quan-Lộc là hợp cách. Hỷ cư Mệnh, Quan hay Tài, lưu nhị hạn mà gặp song Hỷ thời chắc chắn mưu tài lộc, hôn nhân, sinh nở sẽ được xứng ý toại lòng. Tượng ở thân thể là cái trĩ. Ngộ Hình là bị bệnh trĩ. Gia thêm Kiếp là bị bệnh trĩ rất nặng.

Bệnh-Phủ

Thuộc Thổ. Chủ bệnh tật hình thương. Bệnh-phủ thủ Mệnh, người gầy và da nốt hơi đen xám. Hội với Địa-kiếp chủ hạ tiện, cơ hàn. Hay bị bệnh đau dạ dày, đầy hơi, trướng khí và chứng kiết lỵ.

Phục-Binh

Phục-Binh thuộc Hỏa. Chủ cơ mưu quyền biến, gian xảo. Hội với ác sát tinh lâm Mệnh, là người đa hư thiểu thực, tính tình xảo trá. Hội với Hình Tướng Ấn, có tài năng, hiển đạt về võ nghiệp. Phục-binh không nên cư ở Mệnh. Cư ở Thiên-di chiếu Mệnh là hợp cách, vì như vậy là nội Tướng ngoại Binh, nếu cư Mệnh, là nội Binh ngoại Tướng thời xấu. Nhưng nếu Phục-binh cư Mệnh gặp chính tinh miếu địa, là người biết tùy thời xử sự. Phục hội Địa-kiếp, thời phải quan phòng bị ám toán. Nữ Mệnh có Thai, Phục thời khó giữ được danh tiết và dễ bị hãm hiếp.

Quan-Phủ

Thuộc Hỏa. Chủ thị phi khẩu thiệt. Hội với Liêm-trinh, Thiên-hình và Tuế hãm địa, thì hay mắc thị phi, quan tụng và dễ ngục tù. Hội với Thái-tuế, Thiên-hình, Cự-môn miếu địa, lại là người rất giỏi về luật pháp có tài biện thuyết.

Vòng Tràng Sinh mười hai trạng thái

Bên cạnh vòng Bác Sỹ chủ công danh tài lộc là vòng Tràng Sinh mười hai trạng thái của một đời người, từ lúc mới sinh cho tới khi trở về cát bụi rồi lại được nuôi dưỡng để sinh ra lần nữa.

Tràng-Sinh thuộc Thủy, là cái sinh khí, hay tử khí. Hợp lại với vòng Lộc-tồn và vòng Thái-tuế, để biết thịnh suy của mình, và thê tử, các ngành trong gia đình. Hợp cách phát văn học phú qúy, tính trung lương, phúc thọ lâu dài. Hội với Tham-lang là hợp cách nhất, chủ ích thọ phúc lộc. Hội với Không-vong tai biến, chính thê (vợ cả) là người vô hậu, phải có thứ nhất mới có con được.

Mộc-Dục thuộc Thủy. Mộc-dục miếu địa ở Tý Ngọ. Mộc-dục chỉ sự ưa thích làm đỏm và tắm gội. Hội với Đào-tinh, thời con gái trong nhà dâm loạn. Trong gia đình phòng thủy tai tự tử, bệnh đau mắt đới tật. Mộc-dục cư cung Phu-Thê, rất kỵ Không-vong. Hợp cách ở các cung Mệnh, Thân, Điền, Tài. Cư ở Phúc-đức, hay cung Tử-tức hội với Hỷ-thần, ví như cái chậu tắm cho qúy tử, sinh con thông minh, thần đồng cách. Mộc-dục đồng cung với Văn-Khúc là hợp cách, chủ chức quyền, tài lộc hanh thông.

Quan-Đới thuộc Kim. Chủ quyền binh, mũ mãng, cân đai, y phục. Hội với Văn-Xương là đắc cách nhất. Hội với Tử-vi, Thiên-phủ, Phá-quân, Thất-sát, Thanh-long là hợp cách, là người văn chương thi phú tự thiếu thời. Thủ Mệnh thì văn chương công danh hiển đạt, bình nhật lúc nào cũng cẩn trọng về y phục. Chỉ e gặp Hỏa Linh thành dâm đãng, tửu sắc tới bạc đầu vẫn còn vướng vấn, nhiều duyên nợ đoạn trường, ưa thích đổ bác và hay mắc chứng đàm nhiệt.

Lâm-Quan thuộc Kim. Lâm-quan hội Lộc là hợp cách. Hội với Vũ-Khúc là đệ nhất cách của Lâm-quan, vì cùng là hành kim, sẽ gặp được nhiều cơ hội may mắn tốt đẹp. Chủ tảo tuế đạt lộ, được xuất nhập nơi quyền qúy, là tham mưu phò tá các bậc danh cao quyền trọng. Tối kỵ đồng cung với Hỏa-Linh là hãm phá, thường bị bệnh chảy máu cam, xuất huyết, đứt mạch máu hay đàm nhiệt. Đồng cung với Địa-Kiếp, là bị bệnh tràng nhạc nặng, bệnh yết hầu hay thịt dư ở họng.

Lạc Hỏa-Linh thời vợ chồng xung khắc mà vợ là cách gia trung hàn phúc, thường đới khốc, không được chồng yêu mến, đây là cách của vợ hai, thường ăn cơm nguội nhà người. Lưu hạn mà thấy Lâm-quan lạc Không-Kiếp Linh-Hỏa, phải quan phòng các chứng bệnh kể trên, gia đình tổn hại tài lộc, và phóng hai sẽ mắc nhiều hạn họa. Lâm-quan tượng thân thể là cái cổ. Thủ Mệnh là người cổ cao và to.

Đế-Vượng thuộc Kim. Đế-vượng hợp sao Vũ-Khúc nhất. Đồng cung với Vũ-Khúc là đồng ruộng nhà cửa cao sang, danh vọng hiển qúy. Thủ ở Phu, Thê thì thuận hòa, êm ấm, bà nào cũng nội trợ đảm lược cả, tử tôn đề đa, vui vẻ, hiếu thuận. Đế-vượng lạc Không-Kiếp, ruộng vườn tiêu tán, tổ nghiệp không giữ được, mà tiểu phòng, và con út sẽ bị hạn họa.

Đế-vượng hội với Tử-vi, Thiên-phủ, Vũ-Khúc, Phụ-bật là người có cơ mưu, có tài lãnh đạo tổ chức. Đế-vượng tượng ở thân thể là cái lưng. Thủ Mệnh là người có lưng bị mắc ung thư hậu bối. Lưu hạn Vượng hội với cát tinh, là tậu cửa nhà vườn ruộng, gia thêm phòng thất, sinh con đẻ cái, và gặp nhiều may mắn. Chỉ sợ lạc Không-Kiếp Hỏa-Linh là triệu chứng tiểu phòng và con út lâm hạn họa, và tài lộc hao tán.

Suy thuộc Kim. Chủ sự suy yếu, sa sút không hiển đạt. Suy là sắc, tượng huy hiệu và bổ tử của các bộ triều phục. Sao Suy cư Thân Tuất, hội với Cự-Môn là đắc cách nhất. Đồng cung với Tử-vi Thiên-Phủ là như quần áo có thêu hoa lá cho đẹp đẽ hơn, thiếu niên khoa đệ văn chương, phú túc. Suy chủ về mỹ thuật, nhất là ngành ca vũ, hội với Lộc-tồn là cách phú túc tài lộc cự vạn. Suy hội với Cơ Lương hãm lạc Hỏa Linh, Không-Kiếp, thời ngôn nghề diệu thủ rất lợi hại (trộm cắp móc túi). Lưu hạn gặp cách trên, phải quan phòng gia đạo xảy ra đạo chích tổn hại.

Bệnh, Tử thuộc Hỏa. Hai sao Bệnh và Tử có sự ứng hợp với sao Liêm-Trinh. Hội với Liêm-trinh miếu thường thiên về võ nghiệp, và có quyền binh. Hội với Vũ-Khúc, Thiên-tướng hãm địa, trai hay mắc nạn binh đao, hình thương tàn tật, nữ thường xảy ra việc hoại thai hay sinh đẻ thiếu tháng.

Cư Mệnh hãm, là người hình dáng hơi ốm, da xám, vòng quanh hai con mắt bị đen. Gia Hình hãm, thường bị lao, kinh phong, và có khi bị phong cùi. Lưu hạn mà hai sao Bệnh, Tử gặp song Hao, Bệnh-phủ, Tang Hổ, thì không thoát được tật bệnh hình thương. Bệnh và Tử lâm Tật-ách gặp song Hao Tang Hổ, Bệnh-phủ, không được Triệt Tuần án ngữ, tất sẽ mắc bệnh nan y.

Mộ thuộc Thổ. Sao Mộ có sự ứng hợp với sao Phá-quân ở bốn cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi. Nếu Phá-quân đồng cung với sao Mộ là như khắc chế được tính hung ác, ưa giết chóc sát phạt, mà hoàn lương lại cho Phá-quân, cũng như Cự-môn ở Thìn Tuất có sự ứng hợp với tinh đẩu vậy.

Mộ hội với Khúc Xương ở Thìn Tuất Sửu Mùi, cùng với Phá-quân lại là cơ mưu, đa học, đa năng, phú qúy, ví như hoa quả gặp mùa xuân tươi tốt. Chỉ sợ tam hợp xung phá, lạc Hỏa Linh, Không Kiếp, thời nghèo túng mà nợ nần quanh năm không dứt. Con trai thứ ba, con gái thứ hai tất sẽ cô khổ, mà đệ tam phòng thời không tránh được tai họa.

Tuyệt thuộc Hỏa, Thai thuộc Thổ. Sao Tuyệt tương hợp với Hỏa-Lộc là đắc cách. Cư Tý Ngọ cung hội với song Lộc cách, thời thông minh phát phúc, có văn học mà qúy hiển. Hội với Vũ-khúc Phá-quân, thì cha con bất hòa, vợ chồng ly biệt, trai lãng đãng dong chơi, gái đa dâm, vợ cả vợ hai hay tư tình thông gian. Sao Tuyệt kỵ cư ở Tử-tức cung. Hội với Quả Cô, Lộc-tồn ở Tử-tức là cách đáo lão vô nhi khốc (không có tiếng trẻ khóc) hay là những cách hữu sinh vô dưỡng.

Sao Thai không nên cư Nô-bộc cung, hội với Đào-Hoa, trong nhà không tránh được, vợ hay con gái có tư tình. Thai thủ hay chiếu ở cung Phu-Thê, là đã cảm thông nhau sâu đậm rồi mới thành hôn. Ở phú có câu: Sao Thai mà ngộ Đào-Hoa, tiền dâm hậu thú mới ra vợ chồng.

Dưỡng thuộc Mộc. Sao Dưỡng ví như chiếc án thư (cái bàn) của người làm việc. Hội với cát tinh phù trì thêm tốt đẹp. Hội với Hỏa-Linh, Không Kiếp, làm con nuôi hay là những người thường hay phải đổi tên họ. Thủ Mệnh cùng với cách Sát Phá Tham hãm, khi ấu trùng thường hay bán cửa chùa, cửa đền. Cũng như những người vì biến cố chính trị, thường đổi danh tánh.

Cô-Thần, Quả-Tú

Cô-Thần thuộc dương Hỏa, Quả-Tú thuộc âm Hỏa. Chủ can trường, dũng mãnh, đơn cô, nam kỵ Cô, nữ kỵ Quả cư Mệnh. Quả Cô ở Thìn Tuất Sửu Mùi vô chính diệu, riêng người Hỏa hay Thổ mệnh, cùng với Tả Hữu Thai-Tọa, nên phân luận tùy theo phú qúy hay văn tinh hội chiếu. Hội với tôn tinh, qúy tinh là bậc học thức uyên bác, tính tình rất nghiêm cẩn. Gia hội với phú tinh, và quyền tinh được cát diệu phù trì là bậc xưng cô nhân, quả nhân, quyền nhiếp thiên hạ.

Cư ở cung Quan-lộc là hợp cách nhất. Quả Cô hội với Vũ-khúc, tối kỵ nhất là nữ Mệnh, thì phu quân yểu triết, mà tử tức hình khắc, thế nào cũng không khỏi rơi lệ vì con bất hiếu được. Cô-thần Quả-tú không thể là Thổ được. Hội với Tử-vi, Thiên-phủ là vượng tướng Quả Cô. Nhưng phải có cát tinh phù trì, và Quả cô cũng như Phụ-bật, hội với cát phù cát, mà hội với hung tinh, sẽ theo hung mà tác hại.

Thiên-Khốc, Thiên-Hư

Thiên-khốc thuộc dương Kim. Thiên-hư thuộc âm Thổ. Chủ hoài thương lo buồn. Hai sao này là bại-tinh, cùng với song Hao Tang Hổ là bộ lục-bại. Cư nơi hãm địa là hình thương, sầu muộn, có sự hình khắc lục thân và gia trạch bị tổn hại tài lộc.

Hội ở Tý Ngọ là miếu địa, cùng với cát tinh thời anh hùng danh tiếng lừng lẫy. Hội với Hỏa-quyền ở Mão Dậu, là cách Khốc quyền, minh danh vu thế, là người có công nghiệp sử sách ghi danh. Khốc Hư thủ Mệnh, dù miếu địa ở Tý Ngọ cũng muộn phát mới tốt. Thường những người Khốc Hư, thì hay bị hình khắc, đông thành tây bại ở tuổi trẻ, và trung niên, phải muộn phát tới tuổi tri thiên mệnh, mới được sự vĩnh trường, và bớt được các thị phi sầu muộn. Thủ Mệnh hãm là người có trí nhớ lãng đãng, thường hình khắc lục thân, và vành mắt hay bị thâm đen.

Thiên-La, Địa-Võng

Thiên-la Địa-võng là hai sao luôn luôn chỉ cư ở hai cung Thìn Tuất mà thôi. Không cần thiết an hai sao La Võng, vì thông thường ở môn Tử-vi, thường gọi hai cung Thìn Tuất là La Võng chi địa. Thiên-La Địa-Võng là cái lưới trên trời, hàng rào ở đất, nên Tử-vi, Thiên-tướng cư ở Thìn Tuất, cần phải có Kình-Dương hay Thiên-hình, hoặc là sao hung nhập miếu để phá tan lưới và rào, để Tử Tướng hay chính tinh nào cư Thìn Tuất có đất mà tung hoành. Nếu Tử Tướng không được hung tinh nhập miếu, ví như bị vướng rào, mắc lưới, tức là anh hùng vô dụng võ chi địa vậy.

Thiên-Mã

Thiên-Mã là dịch mã, nên tùy theo ngũ hành của mệnh để phân luận xấu tốt. Thiên-mã ngộ Lộc là cách Lộc Mã giao trì, ngựa thả vào đồng cỏ tha hồ mà ăn. Ngộ Tràng-sinh là cách thanh vân đắc lộ, thiếu niên đắc chí. Nên các cách Thiên-mã ngộ Triệt Tuần là ngựa què, ngựa chết.

Mã-Đà: là ngựa què. Mã-Thiên-hình: là phù thi mã (xe chở xác chết). Mã-tuyệt: là mã cùng đồ. Mã Lộc-tồn: là chiết tiên mã (bẻ roi đánh ngựa). Mã-Hỏa: là chiến mã. Mã-Hao: là dâm mã. Mã Khốc Khách: là mã thắng đủ yên cương vang rền tiếng nhạc. Mã-Lộc Tử Phủ: là kim dư phù giá (xe vàng) điện ngọc.

Nên xét Mã có bị Triệt khắc hại, và bản mệnh ngũ hành, hợp hay khắc mã, các cung có Mã, bởi vì Thiên-mã là mẫn tiệp, Lộc Mã là cự vạn chi tài, mà sao lại nói năng quá dở, buôn bán mãi không thấy giàu có. Hơn nữa tượng thân thể là chân tay, thì Mã Triệt, Mã Hình là ngựa què, ngựa chết, mà sao không thấy chân tay tàn tật, chết chóc chi cả, chỉ tại mã của người, mã đi mướn chạy việc, chứ có đúng vào ngũ hành của Mệnh đâu, mà là mã của mình.

Thái-Tuế

Vòng Thái Tuế có nguồn gốc thiên văn riêng: vì sao một hành tinh cách xa trái đất lại trở thành cái mốc quy chiếu cho cả một hệ thống vận hạn.

Thái-tuế là một hành tinh cư đông vị địa cầu, các thuật số gia đã nhận biết từ sơ hán, đi theo quỹ đạo Dần Thân, mà mộc ảnh của nó trực xạ vào Dần Thân, nên có tục lệ kiêng cữ quật thổ, kiến tạo gia ốc vào năm Dần, và một vòng chung quanh mặt trời là 12 năm so với quả đất 1 năm.

Sở dĩ kiêng cữ vào năm Dần, vì hình ảnh qúa lớn của Tuế xạ vào cung Dần, ví như ta đi dưới ánh nắng mặt trời, hình bóng của ta in trên mặt đất, nên mới đặt là nhiếp đề cách, đối với sao Thái-Tuế. Thái-tuế tượng trưng các hành động, cử chỉ, và vẻ mặt của con người, về cách giao tiếp với xã hội, tức là công ăn việc làm của mình. Thái-tuế là đức nhân của ngũ đức. Thái-tuế chỉ phước may mắn của con người.

Ở khoa Thiên-văn tượng Thái-tuế: mùa xuân là nhiếp-đề, mùa hạ là trùng hoa, mùa thu là ứng tinh, và mùa Đông là kỳ tinh.

Cũng như Tràng-sinh, chỉ các ngành thứ bậc trong gia đình, chịu lấy may mắn của vòng Thái-tuế là 12 sao mà tiêu trưởng, nên Thái-tuế kèm thêm Thiên-không, Quán-sách thuộc Hỏa, vì hỏa đức vượng, để Tuế Mộc chịu lấy mà năng sinh Phú, sinh Qúy, và sinh đủ mọi thứ, có thể cả bần hàn nữa, là do Lộc-tồn Thổ, kèm hai bên là chất Kim của Dương Đà hộ vệ để khỏi khuyết tuyệt đi.

Nên ba vòng Tràng-sinh, Thái-tuế, Lộc-tồn, Kình-đà, Thiên-không, kết hợp lại cho đủ ngũ hành, để lưu niên vận hạn, mà biết được vận hành họa phúc của gia đình, chức phận tài lộc có bị chuyển hoán là do dịch mã, và phương hướng có thể được gặp qúy nhân phù trì là do Khôi-Việt.

Như vậy nếu Thái-tuế thuộc Hỏa, thì lưu hạn thiếu đi một hành Mộc trong ngũ hành, mà hành Mộc là cử chỉ, là việc làm ăn, là phước may mắn không có. Lưu hạn phải chăng là muốn biết công việc, nghề nghiệp có được phát đạt thịnh vượng không. Cũng như thiếu Tràng-sinh, thời không thể hiểu biết được các thứ bậc trong gia đình, cha con chồng vợ, nam nữ, thứ trưởng, thê thiếp ra sao. Và không có Lộc-tồn, sẽ không biết kết quả của công ăn việc làm, phú qúy bần tiện thế nào vậy.

Một bài ca quyết ngắn ứng cho cách Phá Quân hội Thất Sát, Tham Lang nhập miếu.

Phá-quân nam mệnh ca
Phá-quân Thất-sát dữ Tham-lang.
Nhập miếu anh hùng bất khả đương.
Quan-Vũ mệnh phùng ví thượng tướng.
Thứ nhân phú túc trí điền trang.

Nguồn: Hà Lạc Dã Phu Việt Viêm Tử, Tử Vi Áo Bí Biện Chứng Học.

Chủ đề của bài

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Nhập môn