Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Cách cục

Bài tổng quan

Vô Chính Diệu: ngôi nhà không chủ chờ người bên kia bước sang

Tử Vi Nam Phái - Cách cục01/10/202614 phút đọc2 lượt đọc
Vô Chính Diệu: ngôi nhà không chủ chờ người bên kia bước sang

Một ngôi nhà bỏ trống, cửa để ngỏ, thì người ở bên kia đường sẽ bước sang làm chủ lúc nào không hay. Cung Mệnh không có chính tinh cũng vậy: ai đến đứng trong đó thì mang dáng người ấy. Nhưng nếu ngôi nhà ấy lại có hai ngọn đèn pha rọi xuống thì…


Hai mươi bốn trường hợp Vô Chính Diệu và bốn dạng chính

Có bao nhiêu trường hợp Vô Chính Diệu? Có hai mươi bốn. Có thể thu gọn theo ngôi sao xung chiếu: Vô Chính Diệu có Nhật Nguyệt hội họp (miễn là hai sao này tam hợp, như Vô Chính Diệu có Cự Đồng xung, một sao hợp một sao xung như có Cơ Âm xung, Đồng Âm xung); Vô Chính Diệu có Thái Âm xung (như Cơ Âm, Âm Dương xung); có Thái Dương xung (Cự Nhật); có Thiên Lương xung (như Cơ Lương, Đồng Lương); có Tham Lang xung (như Liêm Tham, Tử Tham, Tham Vũ); có Cự Môn xung (như Cự Cơ xung). Rút gọn nữa thì chỉ còn bốn dạng liên quan đến Nhật hoặc Nguyệt hoặc cả hai hội họp, và điều quan trọng là Nhật Nguyệt sáng hay tối, cộng thêm ba trường hợp Lương, Tham, Cự xung.

Một ngôi nhà không chủ

Cửa nhà để ngỏ, và người ở bên kia đường bước sang như thể đó là nhà mình.

Vô Chính Diệu là không có chính tinh tại bản cung, như một ngôi nhà vô chủ, như một con người chưa có lập trường rõ ràng. Vì thế nó chịu ảnh hưởng của chính tinh xung chiếu. Lá số Tử Vi vẽ vuông vức cho dễ nhìn, nhưng thực tế phải vẽ tròn mới hợp lý; ở đây chỉ cần hiểu cung chính chiếu như ngôi nhà đối diện bên kia đường. Nhà không có chủ thì người bên kia nhảy sang làm chủ. Lá số nằm trên một vòng tròn gọi là Thiên Bàn; cung xung chiếu nằm trên đường thẳng đi qua tâm, cắt vòng tròn thành hai nửa bằng nhau như trong hình học.

Có người hỏi: trong cung còn bàng tinh như Kình Dương, Không Kiếp thì sao, nó đâu chịu? Bàng tinh chẳng qua là đồ dùng. Cả chòm Thái Tuế chỉ cá tính và trạng thái vui buồn tốt xấu; chòm Bác Sĩ là dụng cụ; các sao khác là tình trạng, tình hình báo xấu tốt; còn dùng được hay không, dùng sinh hoạ hay sinh lợi thì các sao Hóa khí sẽ báo. Ví dụ Kình Dương là cây bút; cây bút viết trên tờ giấy ra văn phẩm Xương Khúc, nếu không có thì đành chờ đến hạn Xương Khúc đem ra dùng (khổ nỗi có người mang theo, có người thấy không dùng được vứt đi rồi). Kình Dương không là bút thì có thể là cuốc, mai của nhà nông, là dao, hoặc khi điện lửa chớp chớp thì là vũ khí. Có thể coi bàng tinh là công nhân, còn chính tinh là chủ nhân: nhìn công nhân biết chủ nhân. Công nhân trồng chè thì chủ là nhà nông nghiệp, chẳng lẽ một văn sĩ. Nhìn bàng tinh ta khẳng định vai trò chính tinh. Chẳng hạn Tử Vi là ngôi sao hành động, hành vi, gánh vác trách nhiệm: giữ biên cương với cây súng trong tay là trách nhiệm, chăm sóc một lớp học là trách nhiệm, chăm quán hàng gia đình là trách nhiệm với khách hàng. Vấn đề còn lại là trách nhiệm với ai, và từ đó đoán được chân tướng Tử Vi.

Dễ chấp nhận chính tinh bên ngoài, nên “bất minh”

Vì thế Vô Chính Diệu dễ chấp nhận chính tinh, trong khi mình không có chủ nhân nên mong người khác đến làm chủ. Phú nói Mệnh Vô Chính Diệu bất minh: không minh bạch rõ ràng, hôm nay thế này mai thế khác, sẵn sàng tiếp thu những chính tinh khác khi đáo hạn khác. Người có chính tinh ở Mệnh như Phá Quân gặp hạn Cự Môn thì suy nghĩ khác: một phá gặp một phản thì dễ làm phản. Còn Vô Chính Diệu gặp Cự thì cũng chỉ ngang mức Cự mà thôi.

Vô Chính Diệu lấy cung xung chiếu mà luận, vì bản cung không có chính diệu nào toạ thủ nên hai chính tinh đối cung xâm nhập vào Mệnh. Ví von cho dễ hiểu: như người không cha không mẹ chịu tác động bên ngoài, như tờ giấy trắng viết gì cũng được. Nếu có chính tinh thì có hai khả năng, hoặc tương thích hoặc đối kháng với chính tinh bên ngoài; còn đây chỉ có bàng tinh, tức chịu sự chỉ huy dẫn dắt từ bên ngoài, dễ thích nghi hoàn cảnh. Ngay cả Khổng Minh Vô Chính Diệu cũng bị Lưu Bị dẫn đi. Vô Chính Diệu mà tam phương tốt thì nhất định tốt, còn ngon lành hơn trường hợp có chính tinh mà các sao không chịu hợp tác với nhau. Như nhóm Sát Phá Tham ở Mệnh phải cực kỳ vất vả mới được như ý.

Ngoài ra còn luận theo ngũ hành để xem Mệnh hợp với chính tinh nào, cả khi có chính tinh. Người ta cho mỗi sao một hành đâu phải để chơi. Đừng đem hành của ngôi sao ra lý luận với cung, với sao đi cùng nó; đó là sai lầm dễ mắc, rồi lúng túng tìm cách giải thích. Cho nên chưa chắc có Tử Vi ở Mệnh đã mang được trọng trách của Tử Vi. Nếu gặp được người có lá số thì dễ nhất là nghiệm chứng qua hình dáng và cá tính, ngay cả với chính tinh thủ Mệnh chứ đừng nói Vô Chính Diệu. Vì vậy cần phân loại từng dạng Vô Chính Diệu rồi mới đi sâu.

Tuần, Triệt và Vô Chính Diệu

Mệnh có Tuần hay Triệt thì hay dở phức tạp, tuỳ chính tinh ở bản cung có thích Tuần Triệt hay không: Tử Vi kỵ các sao này, Tham Lang thì ưa. Tuần Triệt có những đặc tính hay như phòng trừ, vâng lời đi cả bộ là tuân thủ triệt để, giáo dục, hiểu biết, tiếp thu và loại trừ. Cho nên Vô Chính Diệu được Tuần hay Triệt án ngữ ngay bản cung để tiếp thu và loại trừ. Nhưng không phải Vô Chính Diệu nào cũng cần Tuần Triệt, nhất là Vô Chính Diệu có Cự Cơ xung. Phúc Đức Vô Chính Diệu cũng kỵ Triệt, vì là Phúc Đức nên không thể loại trừ được.

Phúc Vô Chính Diệu tu cần Không tú, kỵ ngộ Triệt tinh.

Tuần và Triệt cũng là sao, nên khi Vô Chính Diệu có hai sao này thì giá trị như không còn là Vô Chính Diệu nữa. Uy lực của chúng chế ngự cả hai cung. Vô Chính Diệu mà có Tuần Triệt là may mắn; còn chính tinh tốt đẹp xung chiếu lại kỵ Tuần Triệt thì là điều cay đắng. Dù vậy, vẫn gọi chung là Vô Chính Diệu.

Khi Mệnh đã Vô Chính Diệu mà Thân cũng Vô Chính Diệu, có thể chia ra bốn trường hợp: A, Mệnh Triệt Thân Tuần; B, Mệnh Tuần Thân Triệt; C, Mệnh (Tuần hay Triệt) mà Thân có chính tinh; D, Mệnh Vô Chính Diệu không Tuần Triệt, Thân cũng Vô Chính Diệu. Trường hợp A hay hơn B, vì Mệnh có thể bị Triệt nhưng Thân không thể bị Triệt, bởi Thân là thân xác, thân phận, Triệt đi dễ thành phế nhân. Nên có câu:

Mệnh Triệt, Thân Tuần tu cần vô hữu chính tinh, vãn niên vạn sự hoàn thành khả đãi.

Tuổi càng cao càng dễ thành công, tức tuổi trẻ khó thành, vì có tính phòng bị thái quá. Trường hợp B tuy ngoan hơn nhưng chưa biết số phận về đâu. Trường hợp C, Mệnh Vô Chính Diệu có Tuần hay Triệt mà cung an Thân có chính tinh thì luận theo chính tinh ấy, tốt xấu tuỳ đắc hãm; đừng quên cung an Thân quan trọng hơn cung Mệnh, nên mới có câu “Mệnh hảo bất như Thân hảo, Thân hảo bất như Hạn hảo”. Mệnh chỉ là ý chí, Thân hình hài cần khoẻ mạnh tốt đẹp; chỉ cần nghĩ tới nhà bác học ngồi xe lăn là hình ảnh Mệnh tốt Thân xấu. Trường hợp D phải kể là xấu vì không có yếu tố phòng trừ.

Không có Tuần Triệt án ngữ

Vô Chính Diệu mà không có Tuần hay Triệt, nếu có hung tinh toạ thủ thì gọi là hung tinh độc thủ, có cát tinh thì gọi là cát tinh toạ thủ: Kình Dương độc thủ, Thiên Hình độc thủ, Văn Xương độc thủ; thấy cả hai sao thì gọi là Xương Khúc toạ thủ. Kết hợp với chính tinh bên ngoài mà luận, điều quan trọng là có phù hợp hay không. Vô Chính Diệu không có bộ phòng trừ ở bản cung bị đánh giá chung là xấu, không an toàn. Nhưng chưa chắc xấu hoàn toàn: ví dụ có Tử Vi xung mà bên trong có Triệt thì ông Tử Vi không dám vào giúp. Nên khó tìm một công thức chung, mẫu số chung cho các trường hợp Vô Chính Diệu.

Mệnh Vô Chính Diệu có yểu không

Mệnh Vô Chính Diệu phi yểu chiết nhi hình thương.

Không yểu thì cũng thương tật. Mệnh Vô Chính Diệu có thể rất yếu: phải vay mượn chính tinh bên ngoài mà đôi khi chính tinh không phù hợp với bản mệnh, như Mệnh Hỏa mà chính tinh Thuỷ; Mệnh Vô Chính Diệu mà cung an Thân cũng Vô Chính Diệu rất dễ yếu; vay mượn mạnh nhất là Nhật Nguyệt hội chiếu nhưng cả hai cùng ngộ Tuần Triệt thành hoàn cảnh quá tối tăm; hoặc sát tinh nhập Mệnh. Nên câu trên không phải là nói quá. Để tăng thọ cho cách này, người xưa nói “Mệnh Vô Chính Diệu nhị tính diên sinh”: thay tên đổi họ thì thọ cao.

Câu ấy nghe có vẻ vô lý, phản khoa học: thay cái tên mà thọ? Nhưng nếu bạn là người Do Thái thời phát xít cai trị, bạn có tin đổi được tên họ là còn được sống không? Những người hoạt động chính trị dùng vài chục tên giả là chuyện thường, thậm chí tên giả nổi danh hơn tên thật. Ở đời cũng có người không ưa cái tên, cái họ của bạn, chừng đó cũng đủ chết; còn nói chi tư thù. Bạn chẳng nghi ngờ gì khi người ta gạch bỏ một người tài chỉ vì cái tên, cái họ, giới tính, nguồn gốc mà không chịu tìm hiểu. Vậy thay đổi tên họ có thể thay đổi cả vận mạng. Biết đâu nhờ cái tên mà vào phòng mổ sớm một chút được cứu sống, ngược lại chết vì sự muộn màng. Ngày xưa trùng huý với vua buộc phải đổi tên, nếu không thì hoạn lộ không bền, kéo theo mạng sống không bền; thân phụ tác giả là người Mệnh Vô Chính Diệu và đã phải đổi tên vì trùng tên quan Thượng Thư. Cũng nên nhớ rằng thay tên không bằng thay cá tính.

Mệnh Vô Chính Diệu mà thọ, và Vô Chính Diệu vẻ vang nhất

Mệnh Vô Chính Diệu thọ khi không có hung sát tinh hội họp hay độc thủ, lại có Thái Tuế chủ người cao tuổi, Cáo Phụ chủ lời bảo ban của bậc cha ông, hoặc Thiên Lương thủ Thân, nhất là Thiên Lương xung chiếu Mệnh như các cách Vô Chính Diệu có Đồng Lương, Cơ Lương, Dương Lương xung. Đó chỉ là nói tổng quát, quan trọng là có phá cách không. Chính tác giả từng đưa một lá số Vô Chính Diệu có Đồng Lương xung mà bị giết, để làm mẫu.

Vô Chính Diệu vẻ vang nhất là các trường hợp có Nhật Nguyệt hội họp. Hoặc có Dương Lương xung dù hãm vẫn còn tốt. Trường hợp Vô Chính Diệu ở Mùi có Dương Lương ở Mão và Thái Âm ở Hợi được xem là hay nhất. Vì sao Vô Chính Diệu có Nhật Nguyệt lại hay (hay về công danh)? Vì Nhật Nguyệt thuộc bộ sao “chính bất như chiếu, chiếu bất như giáp”. Cách Tham Vũ Sửu Mùi vốn đã hay, được thêm cách giáp Nhật Nguyệt thì phê “phi vinh tắc phú”, không sang cũng giàu. Nhật Nguyệt như ngọn đèn pha chiếu lên sân khấu, nhìn là nhìn nhân vật đứng trên sân khấu; một người có hai vầng Nhật Nguyệt chiếu vào Mệnh là quá đẹp. Đã gọi là Nhật Nguyệt thì ưu tiên phát xạ so với các chính tinh khác. Biết bao câu phú ca ngợi cách này. Vô Chính Diệu ở Sửu có cách kia vẫn còn hay dù Nhật Nguyệt lạc hãm, như rạp hát ế khách chứ không phải không có khách. Nhưng chú ý nếu Vô Chính Diệu có cả Cự Nhật, Đồng Âm, Cơ Lương, tức tám sao cùng chiếu, thì ồn ào hơn một cái chợ.

Đứng hạng nhì là Vô Chính Diệu có Tham Vũ xung, vì thực chất bên trong có bộ Phủ Tướng, bên ngoài có Tham Vũ xung nên rất hay.

Vô Chính Diệu có sát tinh độc thủ

Nếu có Kình Dương gọi là Kình Dương độc thủ; cũng vậy Đà La độc thủ, Hỏa Tinh độc thủ, Linh Tinh độc thủ. Dĩ nhiên sát tinh độc thủ chưa phải hay, cần xét nó có đắc ý, có phù hợp không, nhất là Kình Đà vì chúng chưa hẳn là hung tinh. Vô Chính Diệu có Địa Kiếp thì gọi là Địa Kiếp độc thủ, như câu “Địa Kiếp độc thủ thị kỷ phi nhân; Tham Lang độc cư đa hư thiểu thật”. Nếu thêm Mệnh Không Thân Kiếp thì:

Mệnh Không Thân Kiếp lai hội Song Hao, Vô Chính Diệu thiểu học đa thành.

Đây là trường hợp hiếm, chỉ người sinh tháng mười, phải có Song Hao, lại Vô Chính Diệu; học ít thành nhiều. Tác giả nói chưa gặp thực tế nên không dám kết luận. Song Hao đạt yêu cầu phải là tuổi Đinh Kỷ Quý mới hay.

Các câu phú liên quan

Mệnh Vô Chính Diệu đắc Tam Không hữu Song Lộc, phú quý khả kỳ.

Phú quý khả kỳ là giàu sang một thời, chỉ một thời cũng vẻ vang lắm rồi, vì trong cách này có cách Tam Không nên “ba cái không” phải trả.

Mệnh Vô Chính Diệu bất minh, Phụ Bật gia thủ đem mình ly tông.

Vì những lý do đã nêu, Mệnh Vô Chính Diệu có lập trường không rõ ràng; khi có sự trợ giúp của Phụ Bật thì dĩ nhiên dễ rời bỏ tổ tông, vì bật qua bên này không được, bật lại bên kia không xong, bật đi xa mơ hồ thành bại. Không phải Vô Chính Diệu mới lìa tổ tông; có chính tinh đi kèm cũng ưa lìa bỏ, nên có câu “Tả Hữu đơn lâm Mệnh viên ly hương sở nghiệp”. Vì tất cả các trường hợp có Tả Hữu ở Mệnh, tức cung Phụ hay cung Huynh, đều có sao Hình; chỉ một sao Hình thôi, ở cũng không yên trong lúc luôn luôn có bạn bè kẻ trên giúp đỡ, Vô Chính Diệu càng mau đi nữa.

Thân Mệnh đồng cung Tý Ngọ hoặc cư tuyệt xứ, Vô Chính Tinh khủng kiến Mã Linh Hình Kiếp, chung thân hoa khai ngộ vũ, mãn kiếp phi yểu chiết nhi hình thương.

Vô Chính Diệu ở Tý Ngọ lại Thân Mệnh đồng cung thì kỵ bốn sao Mã Linh Hình Kiếp, vì thấy tay chân tật nguyền; suốt đời như đóa hoa nở gặp mưa gió dập vùi, không yểu cũng thương tật.

Thân Mệnh đồng cung tối hiềm nhập mộ hoặc cư tuyệt xứ; Vô Chính Diệu hoan phùng Tả Hữu sinh vượng, hoá hung vi cát, chung thân vượng hưởng phúc tài.

Vô Chính Diệu ở tứ mộ cung hay ở Hợi mà Thân Mệnh đồng cung thì kỵ; nhưng có Tả Hữu sinh vượng lại tốt, suốt đời hưởng hai chữ phúc và tài.

Phúc Vô Chính Diệu tu cần Không tú, kỵ ngộ Triệt tinh; nhược phùng Sinh, Hình, Kỵ, Việt, vi nhân tiêu trưởng.

Cung Phúc Vô Chính Diệu cần Tuần, kỵ Triệt, vì Triệt chủ bị trừ, bị xem nhẹ; cung này phải xem trọng, quan phòng. Nếu gặp Sinh, Hình, Kỵ, Việt thì khó thành đạt, khó tránh hoạ. Bộ Kỵ Hình đã mệt rồi, thêm Việt chủ phát sinh, thêm Sinh để nảy hoạ. Những khái niệm này có thể đem áp dụng cho các cách Vô Chính Diệu có Tử Tham xung và các cách khác.

Nguồn: Tử Vi Bửu Đỉnh – Chính Tinh.

Chủ đề của bài

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Cách cục