Bài tổng quan
Tử Phủ Dần Thân: cách hay nhưng luôn có người dòm ngó
Đứng trước Hoàng thành Huế, ta phải đi qua nhiều lớp tường mới chạm được tới chỗ ở của nhà vua. Cách Tử Phủ Dần Thân cũng có từng ấy lớp thành, từ làm và nói, bao che, bảo mật cho đến nhận định. Nhưng ngoài cổng vẫn có một người đứng canh, và người ấy là...
Mục lục · 10 phần
- 01Hai bộ sao khép lại thành một thế cục trọn vẹn
- 02Hành động và phủ dụ: vừa làm vừa nói
- 03Bao che, bảo trợ và gánh vác
- 04Thừa nhận, kế thừa và nhận định
- 05Bảo mật và lý do phải bảo mật
- 06Kín cổng cao tường, nhà lớn và nhà chính
- 07Trong định, ngoài đoạt
- 08Những sao cần gặp
- 09Những sao kỵ gặp
- 10Những câu phú gắn với cách Tử Phủ
Đứng trước cổng Hoàng thành Huế, ai cũng có cảm giác phải đi qua nhiều lớp tường mới chạm được tới chỗ ở của nhà vua. Hoàng thành rồi Tử Cấm thành, mỗi cung điện lại có tường riêng, cổng tiền cổng hậu, nơi thờ tự cũng có bức thành bao bọc. Hình ảnh ấy chính là lối nhìn mà Bửu Đỉnh dùng để giải cách Tử Phủ cư Dần Thân: một ngôi sao chủ bí mật cưới một ngôi sao chủ che đậy, dựng nên căn nhà thâm nghiêm, và ở ngoài cổng có kẻ đứng canh. Canh để giữ hay canh để chiếm, tùy ở thế đứng bên trong vững hay không.
Hai bộ sao khép lại thành một thế cục trọn vẹn
Cách Tử Phủ gồm hai sao Tử Vi và Thiên Phủ cùng ngồi một cung ở Dần hoặc Thân. Người viết đánh giá đây là cách cục hay, hoàn chỉnh. Bên trong, bộ Tử Vũ Liêm phối hợp hài hòa với bộ Phủ Tướng. Bên ngoài, Thất Sát đứng ở cung đối diện dòm ngó, quan sát. Nếu bên trong không bị phá cách, Thất Sát chỉ là người lính canh cửa ải, đứng ngoài biên cương xa. Còn nếu bên trong thiếu trợ lực mà lại bị phá cách nặng, kẻ bên ngoài sẽ thành kẻ chiếm đoạt, thế khách mạnh hơn thế chủ. Khi ấy người ấy mất địa vị, thậm chí mất cả sinh mạng.
Hiểu thế cục này rồi, ta mới đọc được các tầng nghĩa của nó. Bài Tử Phủ đồng cung trong kho Cách cục đã bàn khung chung, ở đây ta đi từng chi tiết nhỏ theo lối của người viết.
Hành động và phủ dụ: vừa làm vừa nói
Cổng đã dựng, thì việc đầu tiên của người ở trong là cư xử sao cho người ngoài yên lòng.
Trong truyện Tàu, sau khi chiếm được một thành, vị tướng quân việc đầu tiên không phải đi lục soát mà là vỗ về, an ủi dân chúng để họ khỏi hoang mang. Hành động thuộc về Tử Vi, phủ dụ, tức vỗ về an ủi, thuộc về Thiên Phủ. Cặp sao này kết hợp được làm và nói, cao hơn bộ Đào Hồng cũng vừa nói vừa làm nhưng chỉ có tính chất loan báo. Vì hành động của Tử Vi là hành động có suy nghĩ, có trách nhiệm: Liêm Trinh đã dò xét xong, Vũ Khúc đã tìm cách giải quyết, rồi Tử Vi mới ra tay, chứ không phải vui thì làm. Vì thế Tử Phủ là sự hòa hợp rất đẹp giữa lời nói và việc làm.
Bao che, bảo trợ và gánh vác
Người đã làm và nói như vậy sẽ được tin, và niềm tin sinh ra chuyện che chở lẫn nhau.
Tử Vi chủ bao bọc, Thiên Phủ chủ che chở, hai sao ghép thành bộ bao che. Nghĩa tốt là được người đời, thần linh, tiên tổ che chở và che chở lại được kẻ khác. Nghĩa xấu là không được ai che chở, che chở không có kết quả, hoặc can tội bao che. Người xưa đã đúc lại ý này trong một câu phú nổi tiếng.
"Tử Phủ đồng cung tối vi phúc hậu, thiết hiềm nội trở Triệt Tuần."
"Phúc hậu" ở đây là lời khen người thương người, che chở cho kẻ khác, và nó bị mất tác dụng khi gặp Tuần Triệt: Triệt chủ trừ bỏ, Tuần chủ phong tỏa đề phòng. Một câu phú khác nói nặng hơn: Tử Phủ đồng cung mà "đế vô sở quyền" thì khó giải được tai ương chính mình, nói chi người khác. Gặp Tuần là ông vua bị khép trong vòng tròn, phải tuân theo, ngoan ngoãn, thành vua bù nhìn. Gặp Triệt là nửa vua nửa dân, chẳng ra vua cũng chẳng ra dân, sớm muộn gì cũng hết làm vua.
Ví dụ đời thường rất nhiều: được bao bọc trong lụa là gấm vóc, được dân chúng che chở, sống nơi kín cổng cao tường; hoặc ngược lại, bọn chúng bao che cho nhau, rốt cuộc chẳng ai có tội; hay có người bao gái, có người lại được gái bao. Vấn đề là được ai che, che cho ai và che cái gì, ba câu hỏi này mới là phần khó của việc luận.
Chữ "bảo" cũng nằm trong cách này: bảo lãnh, bảo hộ, bảo vệ, bảo chứng, bảo hiểm, bảo kê. Được bảo lãnh đi nước ngoài là một ví dụ. Và một câu phú đẹp gom chung điều ấy: Tử Phủ triều viên thực lộc vạn chung, tức có vạn chung thóc ăn cả đời không hết, vì vừa được bao lại vừa được che.
Thừa nhận, kế thừa và nhận định
Người đã được che chở thì có nền để tiếp nhận điều người đi trước để lại, và cũng biết đánh giá sự việc cho sát.
Cách Tử Phủ còn chủ sự thừa nhận: được thừa nhận là người kế thừa sự nghiệp tiên tổ, hưởng tước hiệu cha ông để lại, hoặc thừa nhận ai đó là con cháu. Ngược lại là không được thừa nhận, công lao bị lãng quên, người khác hưởng thay. Từ ý thừa nhận ấy sinh ra các nghĩa kế thừa, kế tục, tiếp nối sự nghiệp.
Về nhận định, vì Tử Vi chủ định, Phủ chủ nhận, ghép lại là nhận định tình hình, tình thế, sự việc. Nhận định đúng thì tốt, nhận định sai tình huống thì thất bại. Với người ở cương vị cao, một nhận định sai không chỉ hại mình mà hại cả những ai ở dưới.
Bảo mật và lý do phải bảo mật
Từ cái vỏ ngoài là nhà cao cổng kín, ta đi vào bên trong để xem thứ gì cần được giữ.
Bảo mật chính là bí mật phải che đậy: Tử Vi chủ bí mật, Thiên Phủ chủ che đậy. Bố cục ấy rất hài hòa và hợp lý, đòi hỏi Thiên Phủ đồng cung hoặc tam hợp với Tử Vi. Bảo mật cơ sở, tài liệu, tin tức, công việc; trách nhiệm càng cao thì càng nhiều thứ phải giữ, đến cả chuyện đau ốm cũng giữ kín, chỉ người có trách nhiệm mới biết. Bí mật có đủ loại: bệnh tật, thân thế, công việc, tình yêu, hợp tác, nghiên cứu, kinh doanh, quân sự, thậm chí cách tiêu pha cũng là bí mật. Người có trách nhiệm phải che đậy việc mình làm, đó là nghĩa vụ của họ.
Vậy tại sao phải bí mật? Bộ Tử Phủ luôn có Thái Âm gợi âm mưu phía trước, Thất Sát dòm ngó, khám phá, phanh phui ở cung xung chiếu. Bên trong che kín, bên ngoài tìm cách quan sát và chiếm đoạt. Bên trong tốt thì bên ngoài không thành; bên trong che chắn kém thì bên ngoài đoạt được, cướp được, khám phá được. Điều sợ nhất là Thiên Không, vì Thiên Không có nghĩa là không kín đáo, không thành, đáng sợ hơn nữa là Tam Không, có thể đưa đến chết người chứ không phải chỉ hỏng việc. Khi che cái này thì phải phơi ra cái khác: cung phơi ra là Thái Dương ở Tỵ Hợi, cung chứa âm mưu là Thái Âm ở Mão Dậu. Muốn có cặp mắt tinh để nhìn ra đối thủ trong thế này, cần có Hóa Quyền.
Kín cổng cao tường, nhà lớn và nhà chính
Cũng như bí mật cần được che, người có Tử Phủ cũng cần một chỗ ở che được mình.
"Thâm nghiêm kín cổng cao tường, Cạn dòng lá thắm dứt đường chim xanh" là câu thơ gợi tả đúng nhất sự kín đáo của cách này. Những người có Tử Phủ hội họp, không nhất thiết đồng cung như Dần Thân, thường thích cuộc sống kín đáo: nhà có tường cao, biệt thự, nhà ngang dãy dọc; mức khiêm tốn hơn là có phòng riêng, buồng riêng. Dĩ nhiên, sẽ có người nói tôi có Tử Phủ nhưng đang ở túp lều cuối đường làng. Chuyện đó thì Tử Phủ ngộ Tam Không, chưa chết là may rồi.
Trong định, ngoài đoạt
Dù nhà có kín cỡ nào, quyền lực thật sự vẫn hay bị chia đôi giữa bên trong và bên ngoài.
Bên trong quyết định, nhận định, thừa nhận hay phủ nhận, nhưng bên ngoài lại đoạt. Có ý định mà quyền lại nằm ở ngoài. Muốn toàn quyền định đoạt, cung xung chiếu phải yếu hơn một chút. Vì thế cách Tử Phủ không bằng cách Tử Vi cư Ngọ, nơi Tử Vi quyết định thì bên ngoài mới được tham gia. Dù vậy, Tử Phủ vẫn thuộc hạng cách hay, và càng hay khi Thất Sát chính chiếu yếu hơn chút. Nếu không, cung tọa thủ bị uy hiếp nặng, có thể mất quyền định đoạt, mất địa vị, mất sự bao che, thậm chí mất mạng. Cái khó của Tử Phủ là phải thật tốt mới đoạt được phía ngoài.
Những sao cần gặp
Sau khi thấy khung, ta tới việc xem mỗi vì sao đứng cạnh làm đẹp hay làm hỏng bức tranh.
Tả Phụ, Hữu Bật là ưu tiên hàng đầu để hưởng cách "nhất hô bách nặc"; có thêm Lộc Tồn mà không bị phá cách thì phú quý hơn người, được khen là "quý bất khả ngôn", quý không lời nào tả hết. Lộc Tồn chủ sự tồn tại vững bền và tránh được khó khăn do Kình Đà gây ra. Hóa Khoa, Hóa Quyền, Hóa Lộc thì tạo thành đạt lớn, càng hay nếu đủ tam Hóa; nhị Hóa thì Khoa Quyền hoặc Khoa Lộc là hay. Nhóm văn tinh như Khôi Việt, Xương Khúc lợi cho trình độ, tài năng. Tứ Linh lợi cho sự kính trọng, mến mộ. Cáo Phụ, Quang Quý đem vẻ vang. Thai Tọa lợi cho sự thanh nhàn.
Những sao kỵ gặp
Cũng cùng căn nhà ấy, có những vị khách mà càng gặp càng thấy thế cục lung lay.
Kỵ Hình là vi phạm pháp luật, "sương đọng mây tan". Đào Hồng cùng Không Kiếp thì yểu; có Đào Hồng mà không Không Kiếp vẫn tốt.
"Tử Vi mạc phùng Không Kiếp Hồng Đào nhập Mệnh giảm thọ."
Tam Không thì dễ chết: gặp Thiên Không thì khó thành, nhiệm vụ không hoàn thành; gặp Triệt thì bí mật bị lộ, nửa chừng đứt gánh; gặp Tuần thì bị phong tỏa, chịu sự sai khiến của kẻ khác. Nhưng nếu Tuần hay Triệt đóng ở cung Tài thì Tử Vi vẫn có thể gặp. Hỏa Linh có thể gặp và còn tốt, tính chuyên môn, nhất là có Quyền chủ lệnh lạc khẩn cấp, yếu tố quan trọng trong lãnh đạo; nếu Linh ở vị trí xấu có thể gặp cách Linh Xương Đà Vũ. Hóa Kỵ có thể gặp nhưng đừng có Thiên Hình, và cần Quyền, vì quyền cấm đoán chỉ lãnh đạo cao cấp mới có. Thiên Hình thì cần Lộc Tồn, hợp với bộ Binh Hình Tướng Ấn, cần Quyền để được quyền trừng phạt, kỵ gặp thêm Kỵ, Khôi, Việt, Không Kiếp. Không Kiếp đi với Thiên Không là nhiệm vụ không thành, đi với Địa Kiếp là gánh tai họa, tự làm khổ mình; đủ bộ là không thành mà còn mang họa, có Đào hoa thì khó tránh. Kình Dương thì buôn bán lớn, nên kinh thương. Đà La thì kém sút, thua thiệt, thích lui vào hậu trường, không ưa đua tranh.
Những câu phú gắn với cách Tử Phủ
Cuối cùng, cổ nhân đã tóm lại mọi thứ trong vài câu ngắn mà ta nên thuộc.
"Lưỡng Lộc Ngọ Dần nhi phùng Tử Vũ, Đinh Kỷ âm nam phú đa danh thọ."
Tử Phủ cư Dần tuổi Đinh Kỷ hưởng câu này, với điều kiện không có các sao ở mục kỵ gặp.
"Tử Phủ đồng cung vô sát tấu, Giáp nhân hưởng phúc chung thân."
Sát tinh ở đây trước hết là Không Kiếp; nếu có Hỏa Linh Kình Đà thì các sao này quay sang hỗ trợ Không Kiếp. Chỉ riêng Không Kiếp thôi cũng đã hỏng cách rồi.
"Trương Tử Phòng thao lược đa mưu phùng Tử Phủ Kỵ Quyền."
Câu này chỉ quyền biến, được quyền cấm đoán, không cần lệnh vua. Ngoài chiến trường, tướng quân được toàn quyền quyết định, chờ lệnh vua thì đã muộn.
"Tử Phủ triều viên Lộc Tồn phùng, chung thân phúc hậu chí Tam công."
Có Lộc Tồn là đủ sung sướng một đời, vì tồn chủ tồn tại, đi với Liêm chủ dài lâu, hình thành bộ trường tồn. Nhưng thêm Kiếp vào thì thành trường tồn một tai họa không phá nổi.
"Tử Phủ ngộ Khoa Quyền Lộc hựu gia Tuần Triệt Kiếp Không, Hình Hỏa, phú nhi bất quý hữu hư danh."
Đủ tam Hóa mà dính nhiều sao xấu thì giàu mà không quý, danh chỉ là hư danh. Và câu "Tử Vi Thất Sát gia Không Vong hư danh thụ ấm" cũng cùng ý: có một trong ba sao Vong là hư danh, hưởng cái ấm của cha ông chứ không phải tài thực. Còn câu "Tử Vi Quyền Lộc hội Dương Đà, tuy hoạnh cát nhi vô đạo, vi nhân tâm thuật bất chính" mô tả cảnh bon chen, đạp lên nhau trong vòng danh lợi, nơi quân tử ở nơi thôn dã còn tiểu nhân lại ngồi chỗ cao.
Cũng có câu gợi hình dáng Phật: "Cấn Canh Tử Phủ vi Phật nhi", ý chỉ cách Tử Phủ Dần Thân có dáng vẻ bệ vệ đài các. Xuất thân từ đền đài dinh thự thì khó mà không cao sang. Ở một câu khác, Lưu Huyền Đức đạt được nghiệp Hán nhờ Tử Phủ, Khoa Quyền, Hình Ấn, Hồng Khôi ở Mệnh Thân, cho thấy Hình nằm đúng bộ vị thì vô hại, nó là sự bắt bẻ trong tác phong, quan phục, cách ăn mặc đi đứng.
Còn câu "Dần mộc Phủ Vi hữu hội Tam Kỳ Kình Bật cư lai..." người viết lưu ý rằng nó mô tả một trường hợp cá biệt, vì các tuổi có Kình ở Dần không thể có đủ tam Kỳ. Dù có tam Kỳ mà gặp Không Kiếp thì Không Kiếp lắc đầu đành chiều theo ý ông ấy, nên Bửu Đỉnh đã phong cho hai sao này là vị giám khảo cuối cùng của mọi cách cục.
Gom cả ba lớp lại, cách Tử Phủ Dần Thân là lá số của người biết nói, biết làm, biết che, biết nhận, nhưng luôn sống dưới con mắt của kẻ đứng ngoài cổng. Muốn biết căn nhà ấy vững hay lung lay, chỉ cần soi hai điều: bên trong có đủ người giúp như Tả Hữu, Lộc Tồn, tam Hóa hay không, và bên ngoài Thất Sát đang đứng ở thế người gác cổng hay thế kẻ chiếm cung.
Nguồn: Tử Vi Bửu Đỉnh – Chính Tinh.
