Bài tổng quan
Thiên Mã, Lộc Tồn, Tam Hóa và những vì sao đổi hướng theo Mệnh
Một con Thiên Mã ở cung Dần không giống con Thiên Mã ở cung Thân, vì sao này đổi cả ngũ hành theo phương vị chứ không mang một tính chất cố định. Lộc Tồn cũng vậy: đứng một mình dễ hóa ăn mày, nhưng gặp đúng Quyền Khoa lại thành vàng chôn ngọc cất...
Bên cạnh dàn văn quan Xương Khúc, Khôi Việt là những vì sao cơ động hơn: một con ngựa trạm đổi cả ngũ hành theo từng bước chân, một cây lọng che nắng chỉ hợp đi ban ngày, và cả bộ Tứ Hóa vốn được ví như ba viên ngọc quý.
Sao Thiên Mã
Thiên Mã thuộc Hỏa, miếu địa ở cung Dần. Vì là dịch mã nên tùy theo Mệnh thuộc hành nào, Thiên Mã đổi ngũ hành theo phương vị: Mã cư ở Mệnh cung hợp với ngũ hành của Mệnh mới là Mã của mình. Nên tại sao Thiên Mã là người mẫn tiệp, lợi khẩu, giỏi về ngoại giao, mà cũng sao Mã lại ù lỳ, ngôn bất xuất khẩu.
Thiên Mã cư Dần là thanh thông mã, là trạng nguyên chi mã, người Mộc Mệnh cư cung Dần là hợp cách. Thiên Mã cư Thân là bạch mã, hay là tể tướng mã, người Kim Mệnh cư cung Thân là hợp. Thiên Mã cư Tỵ là xích thố mã, hữu vị thủ án mã, người Hỏa Mệnh cư cung Tỵ là hợp cách. Thiên Mã cư cung Hợi là ô truy mã, hữu vị ngự sử mã, người Thủy, Thổ Mệnh cư cung Hợi là hợp cách. Mã ngộ Tràng Sinh, Khốc Khách, ví như ngựa có yên cương có nhạc khua vang, chạy trên đường thiên lý, nên được cách là thanh vân đắc lộ. Lộc Mã giao trì là ngựa được thả vào cánh đồng cỏ, sẽ tha hồ mà ăn, để chỉ người buôn bán, kinh thương, hoặc người quyền quý không phải nhọc nhằn mà lộc cứ đổ về như nước triều dâng.
Nên ghi nhớ Mã đổi phương vị là đổi ngũ hành, nên tại sao Mã Lộc mà người văn chương cự phú, cũng Mã Lộc lại bôn ba lận đận, chẳng qua vì Mã ấy không hợp với mình. Cũng như ngựa cột trong chuồng mà cỏ bỏ ngoài sân, may mắn lắm rút được năm ba ngọn cỏ dài, cỏ đâu mà ăn được cả bó cỏ, nên cả đời lo nghĩ tiền mà tiền không tới tay, đôi khi lại vì tiền mà mắc lụy nữa vậy.
Sao Hoa Cái
Hoa Cái thuộc Mộc, vượng ở cung Thìn Mùi. Hoa Cái là cái lọng, cái dù, là nghi vệ dùng để che cho các nhà quyền quý khi kinh lý cho thêm phần long trọng. Các cuộc kinh lý thường thi hành vào buổi sáng ban ngày, giữa thanh thiên bạch nhật, nếu thực hiện vào đêm tối là không thuận lý. Hợp với Thiên Mã thành cách giáp biên, tiền Cái hậu Mã, là cách chấp chưởng oai quyền, đi đâu có tiền hô hậu ủng. Thí dụ một ông đại tướng đi đâu thì có tùy tùng hộ vệ, còi hú đi trước dẹp đường, nhưng cũng đi ban ngày mới là thuận lý.
Sao Thanh Long
Thanh Long thuộc Thủy, miếu vượng ở Tý, Hợi, Thìn, Tuất, Sửu, Mùi. Chủ sự vui vẻ, bặt thiệp, hỷ sự, hôn nhân, thi cử. Thanh Long miếu vượng tượng là rồng, hãm địa chỉ là con rắn đất. Hội với Hóa Kỵ là long vân khánh hội cách, ví như rồng gặp mây. Hội với Lưu Hà là thanh vân đắc lộ, ví như rồng gặp nước vùng vẫy trong bể cả. Hội với Long Đức là cách song Long, Song Long cư Thìn là cách long nhập uyên (rồng vào vực).
Song Long hội với Kỵ Hà thời công danh tài lộc không tính trước và cầu cạnh vất vả, mà tài lộc sẽ vô vong tự thành, bất cần sở đắc, nếu gặp cát tinh thời sẽ được hiển đạt lớn lao. Cung Thìn mà gặp được Song Long cách thì thật là phú quý song toàn, an nhàn tọa hưởng, nếu ở cung Phúc Đức tất con gái sẽ thành vương phi. Người sinh tuổi Giáp Đinh là hợp cách. Nữ Mệnh gặp cách Long Kỵ Hà cư Thìn thì dáng người thanh tú, xinh tươi, con nhà khuê môn lệnh tộc, tất giỏi giang về ngoại giao, mà kinh doanh là tay cự phách, làm nên tài lộc nước chảy bạc dòng, lại thêm vượng phu ích tử.
Sao Hóa Kỵ
Hóa Kỵ thuộc Thủy, miếu địa ở Tý Hợi, vượng địa ở Dần Thân Mão Dậu, dư lại các cung là hãm. Kỵ hãm địa là con rắn đất, tượng là chén thuốc đắng; miếu địa ví như rồng hay kỳ lân ở dưới biển cả, tha hồ vùng vẫy, nên cũng như sao Phá Quân được phê là "thủy bà đại hải cách" (sóng gầm bể cả). Ở nơi miếu địa thì phùng thời, phát đạt, tăng thêm quyền quý.
Cư Mùi mà Nhật Nguyệt ở Sửu chiếu lên, hay cư Sửu mà Nhật Nguyệt ở Mùi chiếu xuống là cách "tường vân ấp nguyệt": cách này ví như nhật nguyệt tỏa ánh sáng, mây kia chịu lấy mà thành năm sắc, nhưng cũng vẫn phải có Xương Khúc nữa mới được toàn mỹ. Hóa Kỵ hãm địa chủ ghen ghét, giận hờn, chiêu lấy thị phi, tai họa; ở Mệnh là người oan nghiệt, làm ơn nên oán, hình khắc cô đơn. Ngộ Riêu Y là người đắm đuối tửu sắc, ham mê ẩm thực; ngộ Song Hao thì đam mê cờ bạc; ngộ Linh Hỏa thì ghiền ma túy nặng; gia thêm Hình nữa thì vì đam mê mà lâm nạn, hình phạt ngục tù.
Hóa Kỵ miếu ở cung Quan Lộc thì phát đạt lớn, ở Quan Lộc hội với sao Tấu Thư, ở các cung Dần Mão, Thân Dậu là người làm việc bàn giấy, hay giữ các công việc về vi bằng biên bản mà phát tài. Hội với Lộc Tồn thường là các tay buôn lậu. Nữ Mệnh tối ố Hóa Kỵ hãm địa, nếu gặp thời dâm tiện, khó giữ được lòng trinh chính, năng chiêu thị phi mà suốt đời chỉ là xướng kỹ hay tỳ thiếp mà thôi.
Sao Lộc Tồn
Lộc Tồn thuộc Thổ, miếu địa ở cung Tý Ngọ, vượng địa ở cung Dần Thân. Lộc Tồn phải tùy theo vị trí các cung và các sao giáp mà luận xét cát hung, vì luôn luôn Lộc Tồn có hai sao giáp là Dương Đà. Thí dụ: tại sao ở phú đoán lại nói "Lộc Tồn thủ Mệnh vi khất cái" (sao Lộc Tồn ở Mệnh là cách ăn mày)? Là vì Lộc Tồn không nên cư đơn độc ở trong cung, vì luôn luôn Lộc Tồn bao giờ cũng có hai sao Kình Đà đi kèm, đó là Lộc Tồn đã bị cách giáp Kình giáp Đà rồi. Nếu ở trong cung Lộc Tồn ở cùng Địa Kiếp nữa thì thành cách khất cái, vì Dương Đà giáp kia sẽ hội luôn với Địa Kiếp mà tác hung tác hại.
Ngược lại, nếu trong cung Lộc Tồn hội đồng cung với Quyền Lộc hay Khoa, hay Lộc Tồn lại giáp Khoa giáp Quyền, là cách xuất thế vinh hoa; đồng cung với Lộc là cự vạn chi tài, là đôi kim tích ngọc (vàng chôn, ngọc cất). Hay giáp Quyền giáp Lộc là kim ngọc mãn đường cách (vàng bạc đầy nhà), vì hai chú Dương Đà kia đã trở thành tay đại võ giúp đỡ đắc lực và giữ gìn của cho chủ. Nên quy luật cát phùng hung diệt đương nhiên là căn bản bất di bất dịch để phân minh.
Bộ sao Tam Hóa
Hóa Lộc thuộc Thổ, Hóa Quyền thuộc Mộc, Hóa Khoa thuộc Thủy. Ba sao Lộc, Quyền, Khoa khi ở ba cung liên tiếp nhau ví như ba viên ngọc, khi xa nhau thì sức sáng ít, nhưng khi hợp lại thì tỏa sáng rực rỡ, nên có cách Tam Hóa liên châu, là cách tốt nhất gồm đủ phú quý văn võ nếu cư cung Quan Lộc.
Cách Tam Hóa liên châu miếu địa ở các cung Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi. Ở ba cung Dần, Thìn, Ngọ có Tam Hóa là thượng cách, vì ba cung này thuộc Dương cung. Ở ba cung Mão, Tỵ, Mùi cách Tam Hóa kém đi một bậc. Tam Hóa là ba viên ngọc quý, thời phải bày biện ra nơi cao quý thuộc ban ngày, không ai bày ra để chơi nơi tối tăm hay là bày ngọc ra ban đêm để ngắm nghía cả, vì lý do đó mà ở cung Dương là thượng cách, ở cung Âm là kém đi; trái lại ở Thân, Dậu, Tuất, Hợi, Tý là hãm địa vì thuộc Tây vị Âm, có cách Tam Hóa ở các cung toàn Âm như Dậu Hợi Sửu, bên Tây vị thời sự phù trì của Tam Hóa ảnh hưởng rất ít, nên học hành kém và không làm nên hiển đạt được, vì các cung bên Tây thuộc Âm, lại ba cung Dậu Hợi Sửu lại là Âm của Âm vị.
Ba sao này một thủ hai cư ở cung tam hợp chiếu là tốt nhất, thí dụ một thủ Mệnh, một ở Quan Lộc và một ở Tài Bạch. Ba sao này ở nơi miếu địa đi theo phù trì có cách Tử Phủ, Sát Phá, Cơ Lương, Nhật Nguyệt, ví như quân thần khánh hội cách, đôi khi không cần đến Tả Hữu Thai Tọa hay Khúc Xương, và bộ Tam Hóa là kiêm gồm cả văn võ, phú quý, mưu trí toàn năng.
Riêng đối với cách Vô Chính Diệu mà có trung tinh nhập miếu ở cung Mệnh, thời Tam Hóa nên ở tam phương Quan Tài, Di củng chiếu mới hợp, vì trong cung Mệnh có hung tinh độc thủ, nếu hội họp với Tam Hóa đồng cung sẽ bị khắc chế mất uy lực của Tam Hóa, vì vậy Tam Hóa không nên cư đồng cung mà nên củng chiếu. Hóa Khoa tuy mưu lược nhưng cũng thiên sang văn tinh, Hóa Lộc tối kỵ lạc Không Vong. Hóa Quyền đi với cát phù cát, mà hội với hung thời hóa hung, ba sao này tốt đẹp rực rỡ vô kể khi ở miếu địa, nhưng lại rất yếu ớt với các sao hung sát. Ở Tử Vi ba sao này đã được ví như là "miêu nhi bất tú" cách, miêu là lúa mạ, là của ngọc thực rất được quý báu ở thời cổ xưa, nếu cây lúa không tươi chẳng những không sinh được hạt mà lại còn bị chết non yểu nữa.
Sao Kình Dương
Kình Dương thuộc Kim đới Hỏa, miếu địa ở Thìn Tuất, vượng địa ở Sửu Mùi. Kình Dương là Bắc Đẩu tinh, chủ hung bạo, thường rất oán báo ân, thân sơ không kể, nhưng có hung tính, không quá gian hiểm như Hóa Kỵ. Nhập miếu được tôn là thần bút, văn chương quán thế, thần kiếm, vì Kình hỏa khí là Hình. Tuy nói là Thìn Tuất Sửu Mùi Kình Dương hùng, nhưng hoàn toàn hợp cách cho người tuổi Tân ở cung Tuất và người Ất ở cung Thìn là miếu địa, được hưởng trọn cách Kình Dương. Người Bính Mậu, Kình Dương cư Ngọ là cách mã đầu đới kiếm, chấn ngự biên cương.
Sao Thiên Lương
Thiên Lương thuộc Mộc, Nam Đẩu tinh, miếu địa ở hai cung Thìn Tuất. Thiên Lương miếu vượng chủ tính tình cao khiết, thường có tâm hồn ôn lương, hậu trọng mà hay nhân từ thương xót người, nên gọi là phúc tinh. Hội với Thái Dương, Xương, Lộc, thời thanh danh vang lừng, thường là những bậc quân sư thượng phu. Ở hai cung Sửu Mùi là hãm địa, vì cung Sửu là trầm vu thổ, ruộng xình, ở cung Mùi là bình dương thổ, nếu gặp được Kỵ Đà Riêu hóa khí để nuôi dưỡng cho đại lâm mộc này đủ chất thủy mà sinh tươi tốt. Nếu gặp thêm được sao Mộ nữa, ví như ở cánh đồng xanh, đồng lúa kia có gò đống lớn lao, ta thường thấy có cây đa cây đề cổ thụ, có bóng rợp che mát, mà trâu bò hay các nông phu thường nghỉ trưa ở dưới bóng mát đó, sao Mộ ở đây ví như gò đống để Thiên Lương là mộc sinh trưởng vậy. Người có cách này là những bậc danh tài văn học. Mặc dầu Thiên Lương ngộ Đà La, và tuy Đà La hãm địa là kẻ thị phi khẩu thiệt, song Đà ở đây đã hóa khí văn chương rồi vậy.
Sao Thiên Cơ
Thiên Cơ Nam Đẩu tinh thuộc Mộc. Thiên Cơ chủ sự tính toán linh lợi, uyển chuyển khéo léo, là người rất sáng ý, tinh tường, biết tùy thời ứng đối, biến dịch, tiên liệu công việc khôn lường. Song hãm địa là kẻ gian xảo, yếm trá. Cách Thiên Cơ xấu tốt ở hai cung Sửu Mùi cũng luận như sao Thiên Lương.
Đại Hao, Tiểu Hao
Song Hao thuộc Thủy, là bại tinh, miếu địa ở Mão Dậu, vượng địa ở Tý Ngọ. Cách song Hao Mão Dậu là "chúng thủy triều đông", là tất cả các dòng nước đều chảy về phương đông. Bốn cung Tý Ngọ Mão Dậu là tứ chính thủy nên song Hao miếu vượng ở đó, và ở phú đoán rõ ràng gọi song Hao là chúng thủy, là các dòng nước, thì tại sao song Hao lại là Hỏa như các sách Tử Vi đã ghi. Nên song Hao không thể là Hỏa mà là Thủy vậy.
Người mạng Thủy Mệnh lập Mão, người mạng Kim Mệnh lập Dậu là hợp cách song Hao. Song Hao miếu địa cư Quan Lộc thì tốt đẹp bội phần hơn cung Mệnh, nếu hãm địa cùng các hung sát là vi khất cái cách. Cung Mão Dậu có song Hao tọa thủ, mà cung Mão vô chính diệu, bên cung Dậu Thân có Triệt án ngữ, nếu Mệnh Quan, Tài lập Mão là thượng cách, vì Triệt đáo kim cung sẽ khắc cái khối Kim sinh ra thành Thủy, để cho dòng nước là song Hao chảy mãi mãi bất tuyệt, ví như nước đã có nguồn chảy mãi cũng không hết được.
Cũng do một lý ấy mà Cư Cơ Mão Dậu là cách phú hữu lâu dài, vì song Hao là dòng nước chảy ra bất tận, nuôi dưỡng Thiên Cơ đại lâm mộc, nếu chỉ được Cự Môn thủy hiện hợp với Thiên Cơ thì thủy của Cự Môn không đủ nuôi dưỡng mãi mãi đại lâm mộc được. Nên người Bính Mộc, Tân Thủy có Cự Cơ Mão Dậu là thượng cách. Song Hao tối hiềm Hóa Lộc: song Hao thuộc Thủy nên thù ghét Hóa Lộc là chí lý, vì hội với Lộc thì cái Thổ của Lộc sẽ khắc chế, hút hết Thủy của song Hao rồi. Hơn nữa Thổ của Lộc chẳng những hút hết nước của Cự Môn Thủy, mà ngay Mộc của Thiên Cơ cũng sẽ khắc cái Thổ của Hóa Lộc nữa, thành ra cả ba sao Hao, Cự, Cơ đều xúm nhau lại mà tỵ hiềm Hóa Lộc cả. Nhưng trái lại nếu Cơ Cự cư Mão Dậu không có song Hao, hội với Quyền Lộc thì lại không sao cả.
Cự Cơ Tý Ngọ là "thạch trung ẩn ngọc cách", trong đá có ngọc, ví như ở dưới lòng đất có mỏ vàng, mỏ kim cương, phải làm sao cho vàng ngọc kia phát được quang huy, lộ ra ngoài để khai thác được, chớ nếu vàng ngọc kim cương cứ ở trong lòng đất sâu hay trong lòng núi thời làm sao mà lấy được. Ba cách của Cự Cơ: đệ nhất cách là cần thiết phải gặp được hai sao Triệt Tuần, ví như sấm sét đã làm nứt núi ra để lộ vàng và kim cương cho ta tha hồ mà lấy, đây là cách Cự Cơ Tý Ngọ ngộ Tuần Triệt khai phát. Đệ nhị cách là Cự Cơ Tý Ngọ Kình Hình, gặp được Kình Dương Thiên Hình, ví như có kỹ sư, tàu bè, máy móc để khai thác mỏ vàng kia. Đệ tam cách là Cự Cơ Tý Ngọ ngộ song Hao, ví như nước chảy đá mòn, nên ngọc vàng lộ ra ở khu nào thời lấy được ngọc vàng ở khu đó.
Nguồn: Hà Lạc Dã Phu Việt Viêm Tử, Tử Vi Áo Bí Biện Chứng Học.
