Bài tổng quan
Thiên Lương Sửu Mùi: cái may đã có, cái phúc còn thiếu
Gặp ai đó làm lòng xao xuyến thì đó là duyên may, nhưng ngồi lại và chọn ở bên người ấy cùng mọi nhược điểm thì đã thành lựa chọn. Một lá số cũng có chỗ cho cả hai điều, mỗi điều nằm ở một ngôi sao khác nhau. Và chúng không phải lúc nào cũng gặp được nhau…
Khi bạn gặp ai đó làm lòng xao xuyến, đó không phải là lựa chọn mà là duyên may. Nhưng khi ngồi lại, nhìn người ấy với tất cả nhược điểm mà vẫn quyết ở lại, thì từ lúc ấy chuyện đã đổi thành lựa chọn. Một lá số Tử Vi cũng có chỗ cho cả hai điều ấy, chỉ là mỗi điều nằm ở một ngôi sao khác nhau, và chúng không phải lúc nào cũng gặp được nhau…
May mắn và lựa chọn: duyên là Cơ, may là Lương
May mắn là sao Thiên Lương, và nó thường gặp sao thời cơ là Thiên Cơ để thành bộ Cơ Lương. Từ đó ta có những cụm từ như duyên may, duyên lành: duyên là Cơ, may và lành là Thiên Lương. Ta vẫn hay viết cơ duyên, cơ may, duyên may, duyên lành một cách tùy hứng, mà trên bản đồ sao thì chỉ có một vài vị trí thật sự được phép gọi tên như thế.
Tử Vi cư Mão: những vị trí chấm đỏ đều là cách cơ may, riêng vị trí Thiên Đồng phức tạp vì có cơ may mà không thể gọi là cơ may, thành ra mâu thuẫn. Tử Vi cư Tý: tại vị trí khoanh đỏ gọi là cơ may, nhưng ngay chỗ chữ Thiên Cơ lại chỉ được gọi là thời cơ, và chỗ có Thiên Lương cũng chỉ được gọi là may mắn mà thôi. Ngay cả vị trí được khoanh đỏ cũng gọi cho có, chưa hẳn ổn.
Cơ hội chắc gì? May mắn chắc không? Duyên lành thật sao? Cơ hội biết đâu chuyển sang cơ hàn, chuyển sang nguy cơ không kịp chạy. May mắn có khi chỉ là cái may mắn của người khác mà mình chứng kiến, còn mình thêm chữ không đằng trước. Duyên lành có khi chỉ dăm ngày nửa tháng rồi hóa duyên nợ, duyên kiếp. Có người chưa nếm mùi thời cơ đã nhắm mắt, có người tên tuổi nổi như cồn gặp thời cơ lại phải lưu vong, đến đại hạn thời cơ lại chết. Vì Cơ ngộ Không không phải cơ hội, Cơ ngộ Kiếp là nguy cơ. Cơ còn là cơ thể, nên Cơ ngộ Kiếp là cơ thể bị nạn, trục trặc đến bác sĩ cũng bó tay. Đáng sợ hơn nữa là Cơ ngộ Tang Môn, cơ thể bị chôn vùi, ít nhất một phần cơ thể nào đó phải vứt bỏ.
Vì thế có cơ hội bé tí cũng là may rồi. Đừng ngước nhìn cơ hội của người khác với nhà cao cửa lớn, coi chừng té xuống cống không nắp. Chen chân leo lên chiếc đò đầy ắp người là cơ hội chết chùm, vì sau Thiên Cơ luôn có Thiên Đồng chủ cùng chung, cùng chung cả tai họa khi có Địa Kiếp. Người lỡ bước sang ngang vì tưởng là thời cơ thường lôi theo cả đàn em, chiến hữu ra hầu tòa một xâu một chuỗi. Cơ kỵ Linh Hỏa thì thành cơ hàn, vì Linh Tinh chủ lạnh lẽo. Người xưa viết một câu đơn giản:
Khoa Quyền Lộc Mã, tu phòng Không Kiếp ám xung. Cơ Nguyệt Đồng Lương, tối kỵ Hỏa Linh xâm phá.
Cơ còn là cơ ngơi gặp Hỏa Tinh, như ngọn lửa trong nhà dễ cháy, trừ phi nhà bạn là lò bún, lò bánh. Cơ còn là cây cối nên Cơ ngộ Hỏa là cây bị hạn, cà phê, tiêu, điều biến thành tiêu điều héo úa. Cơ là cơ thể đi với Hỏa tức không phải 37 độ mà có nguy cơ lên 42 độ, thế là có cơ hội ra nằm nghĩa địa.
Thiên Lương, ngôi sao bóng mát và từ thiện
Sau chuyện kể về cái duyên, đến người mang cái may đi cùng.
Thiên Lương là ngôi sao may mắn, ngôi sao bóng mát cuộc đời, là cậu ấm cô chiêu, những mỹ từ tốt đẹp dành để ca ngợi. Trong thân thể, Thiên Lương là phần đỉnh đầu. Trong ngôi nhà, nó là nóc nhà, rường cột, còn Thiên Cơ là nền móng. Khi tốt, sao này còn là trụ cột quốc gia, là tôi lương đống của triều đình. Như câu:
Lương tú Âm linh, nghi tác đống lương chi khách.
Nghĩa là Lương đẹp, Thái Âm sáng thì làm tôi lương đống của triều đình. Thiên Lương còn là sao từ thiện: từ là Thiên Cơ, thiện là Thiên Lương. Cổ nhân nói:
Thiên Lương bảo tư tài dĩ dữ nhân, Thất Sát thủ tha tài vi kỷ vật.
Lương lấy của mình đem cho người, Thất Sát lấy của người làm của mình, và nhờ đó ta thêm tin Thất Sát chủ đoạt.
Trong chuyện chọn lựa có ba sao chủ về sự ấy. Thiên Tướng chủ chọn lựa, thiên về chọn người để trợ giúp, thương yêu, ủng hộ. Tướng Quân cũng chọn lựa nhưng thiên về tìm minh chủ để tôn thờ, một đối tượng để gần gũi. Đào Hoa có tính chọn lựa rất mạnh, từ đãi cát tìm vàng đến tìm người, tuyển thơ văn, tuyển ca sĩ, tìm một lối đi, một công việc, miếng ngon để gắp. Nhưng chắc gì Đào Hoa chọn được cái tốt: có khi chọn tai chọn họa, chọn xấu chê tốt, chọn giặc làm bạn, chọn thù mà chơi. Vì thế may mắn và chọn lựa là Thiên Lương cộng Đào Hoa.
Muốn biết lá số mình có bộ này không thì từ vị trí Thiên Lương xem tam hợp có Đào Hoa không, xung chiếu mang ý khác. Nếu có thì có dịp hưởng cách may mắn và chọn lựa, rồi khảo sát tiếp xem Thiên Lương có thật tốt không, Đào Hoa chọn đúng hay sai. Nếu chỉ có Thiên Lương thì có gì ăn nấy, đơn giản thôi: có lương thực ăn là may rồi, được nghe điều hay, gần điều tốt là may rồi. May mắn đôi khi bé tẻo teo, chỉ là lời chúc "anh đi đường may mắn nhé", chỉ nghe thôi mà không sờ được, không chụp hình được. Vì thế tam hợp của Thiên Lương luôn có Thái Âm là âm thanh.
Nhưng Thiên Lương vẫn có thể sờ mó được, thậm chí có mùi thơm. Người viết nói rằng khi nghiên cứu Tử Vi phải đặt mình vào thời cách đây hơn hai nghìn năm để xem vua quan nhận lương thế nào, mua bán thế nào: các quan sai người gánh, chở lương thực về, trước cả khi có đồng tiền. Lương thực và lương tiền chỉ là một. Vì Thiên Cơ là cây cối, Thiên Lương là quả nó cho. Chỉ cần nhìn đồng tiền bạn kiếm ra, dày hay mỏng, ít hay nhiều, nhìn lương thực trong nhà, là biết ngôi sao Thiên Lương của bạn mờ hay tỏ, tốt hay xấu. Nhưng xấp tiền càng dày, càng giá trị mà xuất xứ từ nguồn bất chính thì họa càng to.
Thiên Lương cư Sửu Mùi: lương dân vô tội
Từ chuyện may mắn chung chung, ta đi vào một nơi Thiên Lương ngồi một mình và chịu những ánh mắt nhìn quanh.
Cách Thiên Lương cư Sửu Mùi không có gì đặc sắc, rất bình thường. Bên trong có bộ Nhật Nguyệt, bên ngoài Thiên Cơ xung chiếu, thành cách Cơ Lương với nội Lương ngoại Cơ. Thuộc nhóm sao văn đoàn nhưng bố cục không hoàn chỉnh. Bù lại, không có Cự Môn hội họp thì cũng bớt rối ren.
Cần nhắc trường hợp Hình tù giáp Mệnh. Mệnh tại Mùi, cung Thân có Thiên Hình, hay Mệnh tại Sửu, cung Dần có Hình, là cách Hình tù hiếp Mệnh: trái phải, trước sau đều có người uy hiếp. Anh em theo dõi (Liêm Trinh), cha mẹ áp bức quan sát (Thất Sát), hăm dọa (Thiên Hình), nên Mệnh đóng đó dễ khủng hoảng tinh thần vì luôn có cây gươm chĩa vào người, cảm giác bị theo dõi rất khó chịu. Do đâu? Vì Thiên Lương ở Sửu Mùi có tính ham ăn ham chơi, lại bị thôi thúc bởi trai gái bên ngoài, đó là bộ Nhật Nguyệt; nếu thêm Thiên Mã thì ăn chơi không biết chán. Trong khi cung Phụ Mẫu có Thất Sát áp đặt, ưa ép buộc, còn cung Huynh Đệ khá trong sáng theo dõi để tương trợ. Làm cha mẹ ai chẳng lo khi người thân biến thành kẻ bất lương, để tiếng xấu trong gia đình.
Vì vậy cách này kỵ có Hình ở cung Phụ Mẫu, kỵ có Thiên Mã tại Mệnh. Nếu có thì là hình ảnh người chạy xe lòng vòng, ăn quán này uống quán kia từ sáng (Nhật) đến tối (Thái Âm) với đám trai gái nào đó, và bị phê "khước tác phiêu bồng chi khách", tức từ chối làm việc, ưa làm khách lang thang. Có câu: "công danh đợi tuổi tác cao, giáp Liêm giáp Sát một hào chẳng sai", nghĩa là chơi mệt rồi về già mới nghĩ lại lo làm ăn. Thiên Lương còn hàm ý người già như Thiên Phủ, nhưng Thiên Phủ già về tư tưởng khi còn trẻ, còn Thiên Lương thì không có hiện tượng ấy.
Nhìn chung cách Thiên Lương Sửu Mùi thuộc loại lương dân vô tội: không gây bạo lực như nhóm Tử Vũ Liêm, không phá phách sát phạt như Sát Phá Tham, không hô hào ồn ào như Cự Môn. Nhưng có thật vậy không hay thường dân có tội thì không còn là lương dân, là tùy hung tinh, Kỵ Hình tinh hội họp. Cái hiền hòa ấy chỉ là bề ngoài, phần nổi của Thái Dương, còn Thái Âm là sao âm thầm, từ đó có thể làm điều bậy bạ sai trái, một ngày nào đó bị phơi bày ra ánh sáng Thái Dương.
Ngôi sao may mắn nhưng thiếu cái phúc
Cái may luôn đến trước, còn cái phúc phải đến sau, và ở đây cái phúc đứng ngoài cửa.
Đúng là ngôi sao may mắn, thường sinh ra trong gia đình khá giả, thừa hưởng của cải cha mẹ, ít bận tâm lo toan. Là cậu ấm cô chiêu vừa được nuông chiều vừa bị quản lý. Thiên Lương là ngôi sao nông cạn, bụng để ngoài da, nhờ đó cũng lành tính. Nó cần một ngôi sao thâm sâu là Thiên Đồng nhưng lại không có, nên chỉ có may mà không có phúc, vì Thiên Đồng chủ phúc, mà cuộc đời đâu chỉ cần may, còn cần phúc về sau. Người ta cho rằng có con mới có phúc, và phúc là Thiên Đồng. Ở đây không có sao này nên bố cục không hoàn chỉnh, con cái nằm ở cung Phu Thê có hàm ý không hay: con chị đâu rồi? Nó ở với bố nó. Nên tốt nhất là đừng hỏi thêm. Cách Cự Đồng ở cung Phu Thê thường dễ đổ vỡ hạnh phúc vì con cái, dễ tạo phản từ bất mãn, phản đối qua phản bội, tùy hung tinh nhiều hay ít. Hình tượng người ở đây chỉ thấy trai, gái, người già mà thiếu vắng con nít.
Thiên Lương là đòn nóc, phần cao nhất ngôi nhà, nhưng phải có nền móng nhất định là Thiên Cơ. Hai sao tam hợp mới hay, ở thế xung chiếu không hay, cảm giác như ở chung cư: cũng bóng mát cuộc đời nhưng chắc gì của ta, hay nương nhờ bóng mát kẻ khác. Nên cách Cơ Lương Mùi Sửu không hay bằng cách Thìn Tuất, vì không hoàn chỉnh cách Cơ Nguyệt Đồng Lương, chỉ thấy nhà cửa mà không thấy ruộng nương, thấy trai gái mà không thấy con cái.
Tính thị phi của bộ này là bên kia Thiên Cơ cật vấn, bên này Thiên Lương bày tỏ, phơi bày. Lợi thế nằm ở người bị cật vấn, vì trong lý lẽ Thiên Lương có lỗi lầm gì đó. Kỵ thêm Bạch Hổ chủ bày tỏ thổ lộ, nhưng đồng cung với Thái Tuế thì Thiên Cơ là học trò, Thiên Lương là bậc thầy, vì phía Thiên Lương hình thành bộ Tam Thái. Phần nhiều người có Thiên Lương thủ Mệnh thường thọ cao, ít đau ốm: "Lương xung, tọa thủ kiêm thọ toán".
Ngày lành tháng tốt, và những sao hợp với Thiên Lương
Nếu không bị phá cách, cách này vẫn được xem là tốt vì may mắn nơi ăn chốn ở, dễ thụ hưởng di sản hơn là tay trắng làm nên. Đặc biệt hợp với Thái Tuế đồng cung, hình thành bộ Tam Thái, bộ đếm thời gian, hàm ý những ngày có ý nghĩa chứ không rong chơi như khi có Thiên Mã. Có Phượng Các thì lợi về nhà cửa thêm đẹp, tính cách hơn người. Đồng cung với Quan Phù, tức hưởng bộ Phù Trì có Phượng Các, thì có bộ Tứ Linh là hay. Đồng cung với Bạch Hổ hình thành bộ Cơ Lương Tang Điếu, dễ bị tai nạn té ngã từ cao, có thể chết hoặc thương tật. Đồng cung với Tang Binh dễ thành phần tử xấu trong xã hội, vì có bộ Tứ Hung (Tang Hổ Điếu Binh) mà không có sao cứu giải.
Gặp Đào Hoa hội họp thì cũng hay (ví dụ tuổi Ngọ), báo hiệu tháng ngày vui vẻ, nhưng kỵ thêm Kỵ và nhất là kỵ bộ Hồng Quả (Hồng Loan Quả Tú) cho tuổi Dần Thân. Hồng Loan hội họp với điều kiện không có Quả Tú. Nói tóm lại, đồng cung với Thái Tuế, Long Trì, Đào Hoa hợp thì hay, mang ý nghĩa những tháng ngày may mắn kể cả khi hạn hành qua đây.
Với nhóm Lộc Tồn, lợi nhất là Lộc Tồn tam hợp, không đồng cung tại đây được. Đặc biệt ưa Bệnh Phù, lợi cho y dược thuốc men. Có Phục Binh đồng cung vẫn tốt, chủ phục thiện, hướng thiện, miễn đừng thêm Tang Môn đồng cung. Gặp Thanh Long hợp cách, một ngôi sao trong sáng, phù hợp với Thiên Lương có tính từ tâm, và hợp bộ Âm Dương chủ tiếng động, Thanh Long chủ tiếng nói, tiếng nói của người có lòng hướng thiện. Thấy Kình Dương thì gây nhiều mâu thuẫn xung đột, nhất là Kình đồng cung, chống lại tất cả người thân bất kể lớn nhỏ. Có thêm Hình Kỵ Không Kiếp thì khỏi phải nói. Nếu có Thiên Mã, câu phú "Kình tứ mộ Mã triều lai, biên cương ắt hẳn ra tài võ công" đành sửa là "đua xe lạng lách trổ tài du côn". Kình Phượng Các thì lại chủ xây dựng nhà cửa, không có tính xung đột. Thấy Đà hội họp thì còn dễ chịu vì Đà nhu nhược, nói còn nghe nhưng vẫn bị trai gái dụ dỗ. Các trường hợp khác dễ rơi vào "Nhật Nguyệt Dương Đà đa khắc thân" hoặc "nhân ly tài tán".
Về tài năng, Thiên Lương vẫn là sao tài năng, năng khiếu, nhưng cần thêm các sao hỗ trợ. Khôi Việt là bộ sao quý nhân, đặc biệt hợp với Thiên Lương vì Thiên Lương chủ cái gì đó rất cao, hợp với Khôi Việt chủ cao to. Đi với Việt phát may, phát từ tâm. Nếu thêm Hồng Loan, Thanh Long hay Hoa Cái Thanh Long thì dễ gần kề bậc đại quý nhân. Xương Khúc hội họp đắc lực vì bộ Âm Dương cần bộ này, chứng tỏ người nghệ sĩ, âm thanh hay tiếng nói có tính nghệ thuật. Nếu có Lộc Tồn hay Hóa Lộc thì lợi cho thi cử đỗ đạt cao. Tả Hữu cũng phù hợp nhưng chỉ trợ tinh, phù thịnh không phù suy: gặp cát tinh càng tốt, gặp hung tinh càng thêm họa. Cách này khó mà đủ Tam Hóa, nên khó nổi tiếng, chỉ một số văn nghệ sĩ nổi tiếng trong cách này mà thôi.
So sánh Thiên Lương cư Sửu và cư Mùi: Sửu hay hơn Mùi vì bộ Nhật Nguyệt sáng sủa và hai sao ấy trấn ngự hai cường cung quan trọng, nên thành đạt của người Thiên Lương Sửu hơn hẳn người ở Mùi.
Thiên Lương Sửu Mùi cần gặp và kỵ gặp
Chốt lại, ta xem Thiên Lương cần gì để sáng và sợ gì để tối.
Cần gặp: Khôi Việt, Hồng Thanh hoặc Khôi Việt Cái Thanh, "nam cận cửu trùng, nữ tác cung phi", nhưng thấy Khôi Việt phải kỵ Hỏa Linh Hình. Xương Khúc rất hợp cách: "Tả Hữu Xương Khúc hội họp, văn vi thanh hiển, vũ vi trung lương". Xương Lộc lợi thi cử công danh. Thái Tuế hoặc Quan Phù đồng cung. Đào Hồng hội họp không có Quả Tú (nếu có thì nam nữ dễ góa). Bệnh Phù đồng cung lợi nghề y dược. Tuần chủ trung lương. Tam Hóa là dấu hiệu thành đạt, uy tín, thấy Hóa Lộc thì có gặp Hỏa Linh cũng vô hại.
Kỵ gặp: Mã thì nam "khước tác phiêu bồng chi khách", túng du vô yếm, ăn chơi không chán. Tang Môn đồng cung thì té ngã, nhất là từ trên cao. Tang Binh đồng cung thành Tứ Hung dễ làm việc sai trái. Bạch Hổ dễ ngã, lại thêm tai họa thị phi vì một sao phơi bày lại thêm một sao bày tỏ làm tăng cao tính thị phi. Hỏa Linh phá cách, tình cảm trai gái sinh giận hờn, tai họa vì đêm ngày gặp toàn chuyện khẩn cấp, đêm không yên ngày không vui, trừ phi có Hóa Lộc mới hợp cách; kỵ thêm Kình Đà hoặc Không Kiếp, nên có câu "Cơ Lương nếu đóng nơi Mùi Sửu, lại gia thêm tứ Sát long đong". Kình Đà gây bất ổn. Không Kiếp phản cách hoàn toàn, mất tác dụng, mang ý nghĩa bất hạnh. Việt Linh Hình phòng sấm sét, búa đao, tai họa giáng xuống, Thiên Lương rất kỵ bộ sao này. Kỵ thì chưa chắc xấu, nhưng Kỵ Hình, Kỵ Kình, Kỵ Đà thì tất nhiên là xấu. Triệt đồng cung thì bị trừ lương thực lương tiền: xét đạo đức không ảnh hưởng, nhưng kinh tế bị thiệt vì nó là sao lương thực.
Nguồn: Tử Vi Bửu Đỉnh – Chính Tinh.
