Bài tổng quan
Nguồn cơn của Liêm Tham Liêm Sát và cái hại Bạch Hổ Đường Phù
Liêm Tham Tỵ Hợi là hình ngục, Liêm Sát Sửu Mùi là chết đường — hai câu đoán nặng nề mà người học số nào cũng thuộc. Cụ Thiên Lương không dừng ở câu đoán, cụ lần ngược lên hỏi vì đâu mà có, rồi đem chính lá số Tào Tháo ra soi…
Hai câu đoán nặng nề và câu hỏi vì đâu mà có
Liêm Tham Tỵ Hợi là hình ngục, Liêm Sát Sửu Mùi là chết đường. Vậy nguyên nhân nào mà có những trường hợp đó?
Nhìn vào địa bàn tử vi phân chia 12 cung âm dương với 14 chính tinh chiếm đóng vị trí. Riêng bộ Nhật Nguyệt trình bày dễ thấy đầy đủ ý nghĩa tư cách chu đáo hơn hết. Thái Dương phải ở dương cung và Thái Âm phải ở âm cung, dầu rằng lạc hãm vẫn xứng đáng phẩm hạnh, một ngày sẽ sáng tỏ. Nếu chỉ chú ý vào vị trí sáng ngời mà không kết hợp lý âm dương, chỉ là a tòng nhất thời không chánh đáng.
Đứng bên Nhật Nguyệt có Đồng Lương Cơ Cự, toàn bộ trình bày lý thuyết đạo học. Đối diện bên phía thực hành phải kể Sát Phá Liêm Tham có Tử Phủ Vũ Tướng cùng phái lưỡng nghi. Vậy không bao giờ có sự pha trộn lẫn lộn, như Vũ Khúc đứng với Thiên Đồng hay Phá Quân ngồi cạnh Cự Môn.
Nói đến Liêm Tham hay Liêm Sát là nói chung đến 8 sao bên phía thực hành, có kết quả rất mau cụ thể, dẫn đến cũng có thể nói là luật nhân quả bù trừ.
Bộ Sát Phá Liêm Tham ở âm cung và công việc khuấy nước chọc trời
Cùng một bộ sao, đặt vào cung dương thì bề thế tươi thắm, đặt sang cung âm lại thành ra chuyện khác hẳn.
Sát Phá Liêm Tham với Tử Phủ Vũ Tướng cùng với một phái, thì Liêm Tham và Liêm Sát đều có nguyên cơ do Tử Phủ Vũ Tướng khiến nên. Bộ Tử Phủ được đặt lên cao như những gì thái thượng chính đáng. Bộ Sát Phá Liêm Tham chỉ phụ thuộc với công việc thực thi xây đắp.
Sự sắp xếp trên 12 cung địa bàn thấy những bộ sao đóng ở dương cung có đủ bề thế tốt đẹp, có ảnh hưởng tươi thắm; trái lại ở âm cung thấy nhiều sự hung hãn mất thể thống trật tự. Vì thế Liêm Tham hay Liêm Sát, cho đến Liêm Phá, Vũ Phá hay Vũ Sát, tức là toàn bộ Sát Phá Liêm Tham ở âm cung, hầu đóng vai trò khuấy nước chọc trời, coi như công việc hàng ngày phải làm.
Liêm Tham Tỵ Hợi vì đâu mà phát sinh ra?
Có phải vì Tử Phá (bất trung bất hiếu), nguồn gốc do Vũ Sát là ương ngạnh hung bạo tham lam vị kỷ; có nghĩa là tư cách vị kỷ hung bạo dẫn đến hành động phản bội sẽ hái kết quả nhà tù (tam hợp Vũ Sát, Tử Phá và Liêm Tham).
Liêm Sát Sửu Mùi (chết đường) là kết quả của Tử Tham (hiếp đáp ép bức người lành), bởi tư cách Vũ Phá (gian ác liều lĩnh ức hiếp người lành sẽ phải chạy trốn chết đường).
Hai thế đứng này đầu giây giật mối do Vũ Khúc hãm, Tham Lang vị kỷ đứng với Thất Sát nông nổi, Phá Quân liều lĩnh, làm gì mà không tù đầy chết đường.
Trên đây tất cả diễn cảnh của âm cung. Đối với người dương mệnh hẳn ở vị trí Thiếu Dương hay Thiếu âm: người quá tự hào, kẻ bị nhiều thua thiệt, tức nước thành bể bờ, khiến xui tình trạng. Con người âm mệnh vì một mối ưu tư gì riêng biệt, Tuế Phá lộng hành trái với lẽ phải, đành chịu chung số phận. Riêng người Thái Tuế ý thức được cuộc sống, tuỳ theo hoàn cảnh hành động tuy có nặng tay nhưng không ngoài ý nghĩa lợi ích chung mà phải gánh vác, dầu rằng cũng có phần vị kỷ.
Lá số Tào Mạnh Đức: hai chữ trung kiên
Một người mà đời sau quen gọi là gian hùng, đem đặt lên địa bàn lại lộ ra chỗ ngay thẳng của ông.
Tào Mạnh Đức (Tào Tháo) sanh năm Ất Mùi, ngày 6 tháng 12, giờ Tuất, ở cuối đời Hán.
Người Bạch Hổ Vũ Sát là tất cả cái gì cứng rắn (Kim mệnh, Vũ Khúc Thất Sát, Bạch Hổ đều là Kim). Hỏi rằng có thể nào ngăn cản được người này trước cuộc rối rắm mất trật tự của xã hội. Ông không hạ bệ Hiến Đế, cứ địa vị Thừa Tướng thừa hành làm việc, đâu có phải là bất trung hiếu (cung Quan Tử Phá bị Triệt). Thật rõ ràng hai chữ trung kiên. Vì thế Liêm Tham ở Hợi đâu có tơ hào đến ông. Liêm Trinh ở đây bị giảm sút bởi Kim mệnh phụ giúp cho Tham Lang (Thuỷ) ở Hợi (Thuỷ). Nếu Liêm Tham ở Tỵ, cần phải thêm Hoá Kỵ (Thuỷ) giữ thế thăng bằng, cán cân không nghiêng lệch sẽ thành vô sự.
Tại sao không nói đến Liêm Tham ở Dần Thân?
Liêm Tham nơi đây dương cung đắc địa, Liêm Tham không còn đắc địa với nhau. Liêm Trinh đứng trong hàng ngũ của Tử Phủ Vũ Tướng, mà Tham Lang nhập phe phái với Thất Sát Phá Quân. Hai bên đứng đối diện nhau.
Đây là trường hợp được đề cao là Đế xuất binh chinh phạt Phá Quân, vì thế Phá Quân bị đeo tiếng bất nhân phản trắc.
Sự thật còn nhiều uẩn khúc. Nếu là tuổi Dần Ngọ Tuất mà Mệnh Phá Quân ở Thìn, nơi đây Phá Quân dành được chính nghĩa (Thái Tuế), thì Tử Tướng kia chắc chắn đã phạm lỗi gì (Tuế Phá) nên Phá Quân mới ra mặt chống đối. Tiếng bất nhân chỉ bị gán đặt, sự thật khác hẳn xa vời.
Còn trường hợp Liêm Tham Tỵ Hợi, Liêm Sát Sửu Mùi đóng ở nhược cung (Phụ, Tử, Nô, Điền)… dương nhân hẳn là Cơ Nguyệt Đồng Lương đóng ở dương cung, đâu có gì là ác hại. Nhưng nếu có Hình Riêu Không Kiếp nằm trong đại hạn Liêm Tham, cũng dễ bị tù tội cuốn theo. Đó là nghiệp quả chung đương số phải gánh chịu.
Tất cả những màn cảnh hỉ nộ ái ố, tốt đẹp hay xấu xa, đều do định mệnh dự phác xếp đặt. Thực hiện được hay không còn nhờ một yếu tố quan trọng là Thân hành động. Tài Thọ có thể quyết định xoay hẳn ngược chiều sóng gió.
Tào Thừa Tướng đem được chữ Thọ (nhân hậu) đến cung Điền (sự nghiệp), mặc dầu đã nạp sẵn Triệt (30%). Vì thế chữ Tài mới đủ khả năng giảm thiểu ách với Thái Âm ngộ Kỵ và Liêm Tham (Thân) ở Hợi.
Có phải đức năng thắng số là ở đây?
Đường Phù là ngôi nhà nổi lênh đênh trên mặt nước
Cùng đi với Bạch Hổ mà hai bên lại dẫn người ta về hai ngả khác nhau, một bên là giấy tờ hợp pháp, một bên chỉ là chỗ đứng phiếm hư.
Biết rằng Bạch Hổ là 1 vị trí trong tam hợp Thái Tuế, có tính cách cương quyết với bất cứ giá nào làm việc để đạt tới mục đích; dầu rằng có ý nghĩa vị tha, nhưng cũng không ngoài thoả mãn dục vọng.
Đường Phù là ngôi nhà nổi lênh đênh trên mặt nước không nơi căn cứ, một ngày tan rã chìm đắm lúc nào không biết. Một đường lối chứng minh kín đáo sự thọ hưởng Lộc Tồn: chính đáng có Quốc Ấn, mà phiếm hư là Đường Phù.
Quốc Ấn luôn luôn trong tam hợp Lộc Tồn thuận theo chiều xuôi; trái lại Đường Phù đi theo chiều nghịch và ngồi ở vị trí nghịch lý âm dương nơi xuất phát.
Bạch Hổ, Đường Phù liên lạc với nhau chỉ có ở 6 tuổi Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Nhâm, Quí, tức là cảnh trí Lộc Tồn nghịch lý âm dương không thuận cách thọ hưởng mỹ mãn. Bốn tuổi Giáp, Ất, Canh, Tân không bao giờ diễn tả Bạch Hổ Đường Phù, dầu là người Tuế Phá, Tang môn, Điếu khách.
Vậy Bạch Hổ Đường Phù có ý nghĩa với người Thái Tuế chẳng may ở 6 tuổi có hàng can Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Nhâm, Quí: không nên quá tự hào coi thọ hưởng Lộc Tồn như thù lao xứng đáng với công khó nhọc mình đã tận tuỵ xây đắp cho xã hội. Thời gian gặp Lộc hay mệnh có Lộc Tồn, phải có thời gian gặp Bạch Hổ Đường Phù sẽ diễn biến cảnh nhà tan nghiệp đổ, gần đất xa trời.
Đường xuôi thuận lý phải là Bạch Hổ, Quốc Ấn với Tướng Quân, là bộ ba đanh thép như giấy tờ chứng minh hợp pháp cho người đủ tư cách làm chủ đứng đắn lâu dài bền chặt. Trái lại Đường Phù luôn ở trong tam hợp với Song Hao và Kình Đà là thế mỏng manh bế tắc, nuốt khó trôi mà nhả ra vướng nghẹn.
Ba lá số trút hơi thở cuối cùng trong hạn đắc thiên thời
Cái bộ sao vẫn bị coi là ác hại ấy, đến cuối đường lại là chỗ ghi tên người ta cho muôn thuở.
Người Thái Tuế, trường hợp Bạch Hổ Đường Phù trong tam hợp đáo hạn Thái Tuế, dễ trút hơi thở cuối cùng với uy danh tiếng lớn được ghi mai hậu, như 2 tuổi:
- Đinh Mão, ngày 11 tháng 5, giờ Sửu (thọ ngoài 70).
- Nhâm Thân, sanh ngày 3 tháng 8, giờ Dậu (thọ ngoài 50).
Hai tuổi này tuy Mệnh Thân khác nhau, nhưng cùng một hoàn cảnh: người hỏng Mệnh được Thân (Đinh Mão), người được Mệnh lại hỏng Thân (Nhâm Thân). Cả 2 đều ý thức được cuộc sống đời mình (vị trí Quan Phù) nên phải hành động thế nào cho khỏi thiếu bổn phận, đều trở về cõi đất trong cuối hạn đắc thiên thời có Bạch Hổ Đường Phù để ghi tên muôn thuở.
Tuổi thứ 3 sinh năm Nhâm Tí, ngày 2 tháng 9, giờ Thìn, với Liêm Tướng thủ mệnh ở Ngọ và Tử Phủ (Thân) ở Dần bị cả Tuần lẫn Triệt. Hai chữ Tài Thọ tự tạo nên một Ngô Thời Nhiệm, nơi qui tụ tất cả cái gì liêm chí khẳng khái mà không mấy ai hiểu rõ lòng. Vị trí Tuế Phá (Mệnh) và Tang môn (Thân), vì Cô Quả Quan Phúc dẫn dắt cuộc đời trải qua bao sóng gió (3 đại vận 32-41, 42-51, 52-61), vượt qua 2 chữ Thọ (50 và 60), đành khoanh tay trước một thiên thời đắc cách (Thái Tuế) với Phá Quân Kình Dương ở Tí liên hiệp Bạch Hổ Đường Phù tam hợp, được Cô Thần mời rước năm Thìn làm linh thần thọ đắc, xa xăm tiếng dội.
Nguồn: Tử Vi Nghiệm Lý Toàn Thư — Thiên Lương
