Bài tổng quan
Khung cách, cục và cung sao định hình một đời người
Có người tin chắc một lá số mang cách Tử Phủ Vũ Tướng đương nhiên hơn hẳn năm cách còn lại — niềm tin ấy chỉ đúng một nửa. Bên cạnh cách và cục làm nên khung lớn của một đời người, còn cả một hệ thống cung cường, cung nhược và những quy tắc riêng về từng vì sao mà người xem số không được phép bỏ qua. Trong đó, có một hiện tượng khiến việc đoán định trở nên rất dễ — hoặc rất khó...
Mục lục · 5 phần
Khi phần Âm Dương Ngũ Hành đã được cân nhắc xong, người xem số phải chuyển tầm nhìn sang một vùng khác trên lá số, nơi ghi cách và cục. Không ít người cho rằng mấy chữ ấy chỉ để trang trí, song thực tế chính cách và cục vạch ra tầm vóc của cả một kiếp người, và những điều lớn như sang hèn, giàu nghèo, thọ yểu đều được thu gọn tại đây. Trước hết cần phân định hai loại cách: một loại gắn với Chính Tinh, một loại gắn với phụ tinh, và loại sau đôi khi còn mang riêng tên cục.
Cách của Chính Tinh — sáu bộ khung lớn của một kiếp người
Lý số học nhóm một vài Chính Tinh lại thành từng bộ, và mỗi bộ được gọi là một cách. Người ta kể ra sáu cách chính: Tử Phủ Vũ Tướng, Sát Phá Liêm Tham, Cơ Nguyệt Đồng Lương, Cự Nhật, Nhật Nguyệt và Vô Chính Diệu. Vô Chính Diệu là trường hợp lạ: trong cung chẳng có Chính Tinh nào ngồi giữ, thế mà vẫn được thừa nhận thành một cách riêng biệt.
Trong giới xem số, thói quen phổ biến là đặt cách Tử Phủ Vũ Tướng cao hơn hẳn năm cách kia. Thói quen ấy không vô cớ, nhưng khi soi kỹ thì có phần đi quá xa. Sáu cách đứng ngang nhau về giá trị, miễn sao mỗi cách đạt được sự thập toàn thuộc về nó. Thập toàn đòi hai điều. Điều đầu là sao phải đủ số: cách đòi bốn sao thì phải nhìn thấy bốn, cách đòi ba sao thì phải nhìn thấy ba, chỉ khuyết một sao thôi là cách đã không còn nguyên vẹn. Điều sau là những sao ấy phải đóng ở thế đắc địa hoặc cao hơn; gặp sao hãm thì cần Tuần hay Triệt đến bù mới đỡ; số sao đắc địa càng nhiều thì cách càng trọn. Ngay cả khi một cách có nhiều sao hơn mức cần thiết, những sao thừa ra vẫn phải đắc địa mới đem lại điều hay. Thừa mà đắc địa thì tốt; còn thiếu, dù thiếu nhiều hay ít, cũng chẳng bao giờ tốt.
Với Vô Chính Diệu, vì cung không có Chính Tinh tọa thủ nên phải đòi những điều kiện khác thì mới kể là toàn cách. Đầu tiên, Tuần hoặc Triệt phải nằm ngay trong cung ấy; đứng giữ tại chỗ thì quý, chỉ rọi chiếu vào thì giá trị thấp hơn. Sau đó, cung phải quy tụ đủ bốn sao không, hoặc tối thiểu ba sao: Tuần Không, Triệt Không, Địa Không, Thiên Không. Có bốn thì hơn có ba; riêng Tuần và Triệt bắt buộc phải ngồi ngay tại cung, hội chiếu suông thì chưa đủ. Nếu Nhật, Nguyệt sáng sủa lại soi vào nữa thì cách thêm đẹp, nhất là lúc cung Vô Chính Diệu đã có Tuần hay Triệt trấn giữ. Trường hợp Nhật Nguyệt không chiếu tới thì các Chính Tinh xung chiếu từ cung đối diện phải sáng sủa để bù vào chỗ thiếu ấy. Thông thường, Vô Chính Diệu đắc tứ Không hay tam Không không bị đánh giá kém năm cách còn lại, dù đây chỉ là chuyện tương đối chứ không thể chốt tuyệt đối. Còn nói chung, đắc cách ở Chính Tinh vẫn chưa đủ làm căn cứ khen một đời là hoàn hảo; phải kèm theo nhiều điều kiện khác nữa, có phần đã trình bày ở các yếu tố Âm Dương Ngũ Hành, có phần sẽ được trình bày ngay sau đây.
Cách của phụ tinh — phú cách, quý cách và thọ cách
Về các cách của phụ tinh, một sách khác đã liệt kê tương đối đầy đủ, ở phần luận về Bản Mệnh, Cục và Cách. Xét chung, chúng gồm bốn loại. Phú cách chỉ cảnh giàu có. Quý cách chỉ sự sang cả, quyền chức. Bần tiện cách chỉ cảnh nghèo hèn của tầng lớp dưới. Tạp cách thì thuộc nhóm kém, không có gì phải bàn.
Trong các cách ấy, Lý số học nhấn mạnh ba cách quan trọng nhất: quý, phú, thọ, và chữ thọ ở đây cũng hàm nghĩa phúc. Muốn lá số thực sự rực rỡ, không thể chỉ có một hoặc hai cách; cả ba phải cùng hiện diện. Điều đáng suy ngẫm là người xưa luôn cho quý cách đứng đầu, trên cả phú cách lẫn thọ cách. Cách xếp thứ bậc này phản ánh tâm thức trọng quyền tước và chức phận của nền văn hóa Trung Hoa: ở nơi đó, được mang phẩm hàm, được đứng vào hàng quan lại của triều đình là cái phúc cao hơn cả việc giàu của hay sống lâu.
Một cách của phụ tinh chỉ xứng danh tốt đẹp trọn vẹn khi thỏa bốn điều kiện, phần lớn giống với bốn điều kiện của cách Chính Tinh. Thứ nhất, sự đầy đủ: toàn bộ các sao làm nên cách phải hiện diện, thiếu một sao là cách khuyết. Thứ hai, sự đắc địa: mọi sao trong cách đều phải đắc địa; sao nào hãm thì phần cách do sao đó đảm nhiệm bị hụt đi. Thứ ba, sự đông đảo: cùng lúc quy tụ được nhiều cách hay thì càng quý, càng tốt. Thứ tư, sự đồng chất: cách của phụ tinh cần hòa hợp với cách của Chính Tinh cùng có trên lá số. Ví dụ, võ cách như Sát Phá Liêm Tham phải đi với các võ cách tương ứng của phụ tinh, văn cách phải kết với văn cách; trộn văn với võ thì không thể coi là đồng chất.
Yếu tố Cục — khung Ngũ Hành trùm lên cả cuộc đời
Nơi trung tâm mỗi lá số Lý số học luôn có ô ghi Cục và Bản Mệnh. Để cân nhắc Cục, phải xét trên hai bình diện tách biệt: bình diện đầu là quan hệ Ngũ Hành giữa Cục và Bản Mệnh, bình diện sau là quan hệ Ngũ Hành giữa Cục và cung Thân.
Bình diện đầu, Cục với Bản Mệnh, đã được phân tích kỹ trong phần các yếu tố Âm Dương Ngũ Hành: năm trường hợp được xếp bậc, từ Cục sinh Bản Mệnh là tốt nhất đến Cục khắc Bản Mệnh là xấu nhất.
Bình diện sau, Cục với cung Thân, đưa ra một cách hiểu lạ tai nhưng đáng ghi lại. Một ý kiến cho rằng Cục ứng với lúc con người tự lập thân, bởi vậy gắn chặt với cung Thân. Từ đó, muốn biết hậu vận thì đặt hành của cung Thân và hành của Chính Tinh tại Thân cạnh hành của Cục, rồi đọc sự hay dở qua chuyện ba thành tố ấy sinh khắc nhau ra sao. Nếu chấp nhận quan điểm này thì Bản Mệnh thôi đại diện cho toàn thể một đời; nó chỉ biểu thị chặng đầu, tức tiền vận, gắn với cung Mệnh. Chặng cuối, tức hậu vận, thì do cung Thân kết hợp với Cục nói lên.
Cũng theo quan điểm ấy, ba tình huống cần được tách ra giống như ở cung Mệnh. Nếu cung Thân Vô Chính Diệu, việc duy nhất là xem hành cung Thân có phù sinh hành Cục hay không: phù sinh thì tốt, khắc thì xấu. Nếu cung Thân có đúng một Chính Tinh tọa thủ, quy tắc sinh khắc Ngũ Hành qua hai hệ cấp của cung Mệnh được mang sang dùng lại, với ba thành tố là hành cung Thân, hành Chính Tinh tại Thân và hành Cục; chín thế phối trí xuất hiện và được xếp hạng từ tốt nhất đến xấu nhất, đúng như bảng chín trường hợp đã lập cho cung Mệnh.
Nếu cung Thân có hai Chính Tinh đồng cung, việc lập bảng chi tiết cũng không cần thiết, bởi nó rối mà chẳng hữu ích thêm mấy; nắm quy tắc chung là đủ. Cục được cả hai Chính Tinh phù sinh ở cả hai hệ cấp là tốt nhất; bị cả hai Chính Tinh khắc ở cả hai hệ cấp là xấu nhất; sao nào sinh Cục thì Cục thịnh về mặt ý nghĩa của sao đó, sao nào khắc Cục thì Cục suy về mặt ấy. Trọng tâm đặt ở hệ cấp thứ hai, giữa Chính Tinh của Thân với Cục; hệ cấp thứ nhất, giữa cung Thân với Chính Tinh, dẫu có lệch chút ít cũng không quan trọng.
Theo cách nhìn này, khi luận hậu vận, chỉ cần đặt cung Thân bên cạnh Cục là đủ; khỏi phải xét lại cung Mệnh với Bản Mệnh hay cung Thân với Bản Mệnh, vì mỗi cặp đã tự lo phần của một chặng đời.
Nhìn tổng thể, cách của Chính Tinh, cách của phụ tinh và yếu tố Cục hợp lại thành bộ khung lớn cho cả một kiếp người. Từ tận gốc, khung ấy đã quy định chuyện sang hèn, giàu nghèo, thọ yểu, rồi sau đó các chi tiết nhỏ của từng cung, từng sao mới được thêm vào để tô điểm. Nhưng khung có đẹp mấy cũng chỉ là điều kiện cần chứ chưa phải điều kiện đủ. Bởi một cách như Cự Nhật có vẹn toàn đến đâu cũng còn phải xem tiếp các yếu tố về cung và về sao, lúc ấy mới thấy hết bức tranh của cả cuộc đời.
Yếu tố về Cung — cung nào cũng có phần nặng nhẹ khác nhau
Công bằng mà nói, mỗi cung trong lá số đều giữ một vai trò riêng, khó khẳng định cung nào trội hẳn cung nào. Từng có người xem thường cung Tật, cho rằng không cần để ý; vậy mà khi cung Tật xấu, bệnh tật đeo đẳng suốt đời thì dù sang giàu tới đâu cũng chẳng hưởng thụ được mấy, thành thử cung Tật vẫn liên can đến sự hay dở của nhiều cung khác. Cũng có người xem thường cung Tử, nhưng ai đủ phú, quý, thọ mà lại không con nối dõi thì niềm hạnh phúc ấy không thể gọi là viên mãn. Dĩ nhiên những chuyện này là ngoại lệ, chẳng phải quy luật chung.
Lý số học chủ trương gác các ngoại lệ hiếm hoi ấy sang bên để chú tâm vào số đông. Đối tượng khoa này nghiên cứu là con người thường hơn là con người bất thường: người có thể trạng ở mức trung bình, có khả năng lo liệu kế sinh nhai, có gia đình vợ chồng con cái, và sống hòa hợp với xã hội xung quanh. Chính hướng tiếp cận hướng về số đông ấy khiến Lý số học phân cung làm hai hạng nặng nhẹ không đồng đều: cung cường là những cung then chốt, tác động thẳng và sâu vào đời sống người bình thường; cung nhược là những cung có sức nặng nhẹ hơn.
Với nam giới, các nhà Lý số học chú ý đặc biệt tới năm lĩnh vực. Cung Phúc cho biết hạnh phúc của cả họ hàng. Cung Mệnh cho biết cá tính riêng của đương số. Cung Quan cho biết đường công danh sự nghiệp. Cung Tài cho biết chuyện tiền bạc. Cung Di cho biết hoàn cảnh và thời vận bên ngoài. Với nữ giới, ngoài bốn cung Phúc, Mệnh, Thân, Tài kể trên, còn phải đặc biệt để ý cung Phu, bởi người phụ nữ phụ thuộc nhiều vào người chồng, từ sự nghiệp, tiền bạc cho đến hạnh phúc gia đình.
Những cung khác chỉ đóng vai trò bổ sung, làm tăng hoặc giảm cái hay cái dở của các cung cường, không định đoạt toàn cục. Chỉ riêng một trường hợp là ngoại lệ, dành cho những hạng người đặc biệt: người mang bệnh nặng như cùi, lao lâu năm, liệt toàn thân; người tật nguyền như cụt tay chân, mù, điếc, câm; hay người già và trẻ em chưa đến mười ba tuổi. Ở họ, cung Tật mới phải được nhìn đúng như một cung cường thực sự.
Một cung cường muốn đẹp thì cần bốn điều. Một là sao lành phải nhiều, nghĩa là những cát tinh dính đến phú, quý, thọ. Hai là trong cung phải có sao đắc địa hoặc hợp vị. Ba là các sao ngồi trong cung hay rọi vào cung phải kết thành cách và cục đủ đầy, đắc địa, đông đảo, đồng chất, theo đúng điều đã bàn ở phần cách cục. Bốn là cung phải tránh được Sát Tinh, đặc biệt Sát Tinh hãm địa; tránh không được thì phải nhờ sao giải có đủ sức để hóa giải.
Yếu tố về Sao — từ điều kiện tốt đẹp đến vị trí và sự trùng lặp
Bên cạnh các cung, chính mỗi vì sao cũng có những điều kiện riêng phải xét. Trước hết, cung cường muốn tốt thì cần nhiều cát tinh thủ, chiếu hoặc giáp; các cát tinh đó phải đắc địa và hợp vị; sao phải hợp cách, văn thành văn, võ thành võ, không lẫn lộn; cát tinh phải lánh được sát tinh và hung tinh hãm địa, nếu chẳng lánh được thì cần sao giải mạnh, hoặc là sao đồng cung, hoặc là sao có hành khắc chế được hành của sát tinh, hung tinh ấy; còn sao hãm địa thì phải nhờ Tuần hay Triệt án ngữ mới bớt xấu.
Kế đó, theo công dụng, sao được phân làm năm loại. Sao quý ứng với chức danh, quyền uy. Sao phú ứng với tiền bạc, điền sản. Sao thọ ứng với việc hưởng thụ được lâu hay chóng. Hai loại còn lại là sao phò trợ và sao cản trở đối với quý, phú, thọ. Lẽ chung rất đơn sơ: lá số thu được càng nhiều lợi điểm về sao, nhất là càng nhiều sao quý, phú, thọ, thì càng hay.
Điều dễ sót là thời gian phát huy hiệu lực của các sao, nhất là sao phú, quý, thọ. Phải xem hiệu lực ấy rơi vào quãng nào của đời để đánh giá cho vừa mức theo tuổi, theo hoàn cảnh từng người, từng phái; không được áp cứng nhắc cho mọi tuổi như nhau.
Một hiện tượng khác cũng cần để tâm là trùng sao: những sao quan trọng nào đó cứ xuất hiện lặp lại khi ta lần lượt xét các cung. Ví dụ cung Phúc có tài tinh thủ hoặc xung chiếu; chuyển sang cung Tài thấy lại chính những tài tinh ấy, sang cung Mệnh lại thấy một số, sang cung Phu Thê vẫn thấy. Một loại sao lặp đi lặp lại như thế làm cho việc đoán về phương diện tương ứng, ở đây là tiền bạc và điền sản, trở nên dễ và chắc. Đảo lại, cung Mệnh có nhiều Sát Tinh thủ hay chiếu, sang cung Phúc gặp lại, sang cung Tài cũng gặp, đến cung Thân vẫn bị chính từng ấy sao chi phối, thì rất xấu. Cung nào chịu hội chiếu nặng nhất thì lĩnh vực của cung ấy bị tác động mạnh nhất; hung tinh tụ lại, ý nghĩa nào nổi trội nhất thì tai họa cũng mang hình thái của ý nghĩa ấy. Thí dụ một người mà Mệnh, Thân, Phúc, Tài, Di chỗ nào cũng thấy lặp lại các sao chỉ tình dục, chắc chắn là người rất đa dâm: nam thì phóng đãng chơi bời, nữ thì giang hồ, phụ bạc, tình duyên trắc trở. Bởi vậy, trùng sao là tình huống rất dễ đoán. Trái lại, khi các sao vãi đều khắp các cung mà khắc nhau, phải cân nhắc kỹ hơn nhiều, vì không tìm ra uy cách hay trội cách nào rõ ràng: hay dở pha nhau, cái hay chẳng đủ mức, cái dở cũng chỉ vừa vừa, khiến lá số rất khó xem và khó kết luận dứt khoát.
Cuối cùng là vị trí của sao. Thông lệ coi sao thủ, chiếu, giáp hay hợp chiếu có sức tác động na ná nhau. Nhưng cũng có quan điểm chia bậc tỉ mỉ hơn: sao thủ mạnh hơn sao chiếu, xung chiếu mạnh hơn tam chiếu, tam chiếu mạnh hơn sao chỉ tiếp giáp hay nhị hợp. Ngoài ra phải xét sinh khắc Ngũ Hành giữa hành của cung với hành của sao ngồi tại đó. Sao Kim ở cung Hỏa bị Hỏa chế; sao Hỏa ở cung Thủy bị Thủy chế; sao Thủy ở cung Thổ, sao Mộc ở cung Kim cũng thế; tất thảy là thế phối trí xấu, và mỗi lần hành của cung khắc sao thì ý nghĩa cùng sức mạnh của sao ấy đều giảm. Ngược lại, khi hành của cung phù sinh cho sao, ý nghĩa và sức mạnh của sao được thêm lên, như sao Hỏa ở cung Mộc, sao Mộc ở cung Thủy, sao Thủy ở cung Kim, sao Kim ở cung Thổ, sao Thổ ở cung Hỏa. Còn sao với cung cùng một hành thì gọi là tị hòa, không tốt cũng không xấu, cứ để ở mức bình thường.
Nguồn: Hi Di Trần Đoàn với nền văn hóa Trung Hoa đời Tống (Dương Thành biên soạn).
