Bài tổng quan
Hung sát tinh ngộ chế và phẩm chất riêng của Văn Xương Văn Khúc
Củ phụ tử chứa chất độc ghê gớm, ai lỡ dính phải thì điên cuồng không chết là may; vậy mà qua tay nhà danh y khéo sao tẩm, nó đứng ngang hàng sâm nhung quế. Cụ Thiên Lương bảo đám ác sát trong lá số cũng lột xác đúng như thế, và chỉ ra những động cơ nào làm nên cuộc lột xác ấy…
Mục lục · 5 phần
- 01Công việc hàng ngày của đám ác sát là phận sự tên ngục tốt
- 02Lá số Quí Sửu: một người đóng rất khéo vai tuồng của mình
- 03Những động cơ lồng vào để chế hoá: Tuần Triệt, Thiên Tài, Hoá Khoa
- 04Ba bộ trung tinh xuất phát từ hai cung Thìn Tuất
- 05Văn Xương là cả một nền văn học, Văn Khúc là một khoa mỹ thuật
Công việc hàng ngày của đám ác sát là phận sự tên ngục tốt
Hung tinh là bộ Sát Phá Tham; ác sát tinh trong đó có lục sát Không Kiếp, Kình Đà, Linh Hoả được liệt kê đứng đầu. Ngoài 6 tên hiệu này, thật ra còn 1 số như Thiên Hình, Hoá Kỵ, Kiếp Sát, Lưu Hà có những quyền cước có thể lợi hại lấn lướt lục sát; chứ Phá Toái, Khốc Hư chưa xứng đáng mang danh là ác sát tinh.
Phương diện phá hoại, 3 cặp Không Kiếp, Kình Đà, Linh Hoả, mỗi cặp một cách hành hạ: Không Kiếp hay kìm hãm, Kình Đà gieo tai hoạ, Linh Hoả giảm thiểu sức khoẻ. Hình với Kình một cặp phi đao, một mười một chín; Hình trội hơn về phần nghiêm khắc. Hoá Kỵ là sao giảm thiểu, gây thị phi oán hận; còn tai nạn phần nhiều là nội thương, nhất là bên phái yếu, máu huyết sinh sản khó khăn. Kiếp Sát Lưu Hà, bộ này có một sứ mạng phải khắc nghiệt với những ai quyết tâm sấn sổ lướt qua định mệnh. Số đã định sao, thế nhân phải chịu hoàn cảnh; trường hợp làm liều, Kiếp Sát Lưu Hà sẽ thi hành, xoè 2 lưỡi kéo cắt đứt cuộc đời (Phạm Trương Chi). Tóm tắt tất cả công việc hàng ngày của đám ác sát làm phận sự của tên ngục tốt.
Nhưng mỗi khi họ được chế biến lại là 1 cuộc cải trang thành những trang anh tuấn xuất chúng, tuỳ hoàn cảnh, tuỳ tư cách nổi bật lên xuất sắc. Họ cũng như những vị thuốc có danh là độc dược, ai chẳng may dính phải, đời chịu điên cuồng không chết là may; một khi họ được đưa vào cuộc phân chất rồi bào chế sẽ trở nên những môn thuốc đặc sắc ích lợi. Những sự lột xác đó là cảnh trí của ác sát tinh ngộ chế.
Lá số Quí Sửu: một người đóng rất khéo vai tuồng của mình
Cùng một bộ Tham Kỵ Phá Quân, chỉ lệch đi một cung thôi là hai con người khác hẳn nhau hiện ra.
Lá số tuổi Quí Sửu sinh ngày 23 tháng 9 giờ Tuất chứa đựng nhiều tình tiết éo le, có khá nhiều hung sát tinh ngộ chế. Hai chữ Quí Sửu thấy ngay tuổi gặp nhiều nghịch cảnh (chi khắc can); tuổi Sửu Mệnh nằm ở Tí, định mệnh ám chỉ bắt đời chịu nhiều thua thiệt trực tiếp ngay cái thế lý tưởng của tuổi. Thân cũng vậy, ở Thân cung, có nghĩa là tháng 7 cũng ừ, tháng 4 cũng gật, cố chịu đựng với chữ Đức (Long đức); đến Thất Sát (cung Quan) quá đen tối, là cả 1 bộ hung tinh (Sát Phá Tham) hãm địa, trình bày cho biết đương số cũng đã một lầm hai lỡ, ráng cam chịu thiệt thòi.
Tham ngộ Kỵ, những cảnh giam cầm khó tránh, ấy thế mà vẫn thoát như thường. Thân là Phá Quân gặp Mộc Dục là hình dạng một kẻ bất lương hoang dâm trác táng vô độ. Chỉ lệch một chút, tuổi âm đóng cung dương, Tham Kỵ phải nói là được Triệt tẩy uế chỉ có 30%, cùng với Phá Quân đắc Lộc Hỉ, khiến người này trở thành một kịch sĩ rất tài tình. Nếu Mệnh ở âm cung, hoá ra sai lệch hết, vì Triệt đập tan nát đến 70%, còn gì là Tham Kỵ. Tham Lang vẫn đượm vẻ đào hoa phong nhã, Phá Quân trở nên nhã nhặn vô tâm, Hoá Kỵ biến chế thành khôn khéo mềm dẻo. Những tính cách này chỉ là tính cách vai tuồng phải đóng, mà đóng rất khéo, lột hết được tinh thần.
Sự thật Tham Lang đã được sao tẩm chế thành thẳng thắn lương thiện, truỵ lạc hư thân biến mất hết, chỉ là bóng dáng cũ xưa mà thôi. Thất Sát ở Quan, người bạn nâng đỡ mình, trước hung hăng bao nhiêu nay gặp cảnh khốn cùng (Sát phùng Suy) cũng không nên cơm cháo gì, ở vị trí Thiếu âm, ý nghĩa không ngoài sự vụng tính. Mệnh ở Trực Phù tuy thua thiệt so với bên ngoài vẫn không đáng ngại (Tí khắc Ngọ Thiên Di), dầu là võng giá nghênh ngang (Tử Vi ở Ngọ), sự thật rõ ràng con số không bạch đinh, lẽ phải trái vẫn ở ngõ ngoài.
Những động cơ lồng vào để chế hoá: Tuần Triệt, Thiên Tài, Hoá Khoa
Củ phụ tử chứa chất độc ghê gớm, nhưng qua tay nhà danh y khéo sao tẩm thì đứng ngang hàng với sâm nhung quế.
Hung sát tinh ngộ chế là cả một công trình ma luyện, như các bậc thượng tiên luyện tinh đơn, cải lão hoàn đồng, trường sinh bất tử.
Đành thế, nhưng trường hợp nào biết được là hung sát tinh thụ chế?
Trong bộ máy tinh vi của lý học luôn luôn có những động cơ lồng vào để phá thải và kìm hãm những tình trạng cần phải sửa đổi cho thật lỗi lạc hay đập nát sa thải. Đó là Triệt, Tuần, Thiên Tài, Hoá Khoa.
Tuần Triệt ở giữa 2 cung, không phải 2 cung đều chịu ảnh hưởng như nhau. Theo luật âm dương phải cân nhắc theo tuổi số: như người dương (dương nam hay dương nữ), ảnh hưởng bên cung dương nặng hơn, có nghĩa là đến 70%, bên cung âm chỉ còn 30%. Trái lại người âm (âm nam, âm nữ), cung âm nặng đòn cân hơn cung dương, cùng mức độ sai biệt 70 so với 30. Triệt có ý nghĩa nặng nề phá nát, Tuần chỉ là ngăn cản, Hoá Khoa có ý thấm nhuần gột rửa tự tu cải sửa, còn Thiên Tài cẩn thận hơn, trước khi giảm bớt phải đo lường, tức là châm chước lá số biến đổi.
Tất cả hung sát tinh không khác gì cây phụ tử, có những rễ cái gọi là củ phụ tử chứa chất độc ghê gớm; nhờ các nhà danh y khéo sao tẩm trở thành những vị thuốc bổ giá trị sánh đồng hành cùng sâm nhung và quế.
Sau đây là một lá số có đến 3 ác sát tinh thụ chế ở ngay Mệnh, nổi tiếng là học giỏi như thần đồng, thi đậu tú tài hải ngoại đầu tiên ở Việt Nam. Tuổi Canh Tí sanh ngày 9 tháng 8 giờ Tỵ, chỉ vì là người dương không hợp với Thái Âm thủ Mệnh, và Thân ở vị trí Tang môn, nên sự nghiệp không có gì đáng kể. So sánh tài năng với những người quyền cao chức trọng, đương số vẫn lấn lướt rõ ràng, ấy thế mà vẫn ở địa vị khiêm nhường, xem ra vẫn còn may.
Hai chữ Canh Tí cũng biết là người có năng lực dư dả thế nào, tài cao học rộng hay dẫu oan trái vẫn đeo theo không rời nửa bước (Mệnh ở Thìn, tuổi Tí, Thái Âm hãm, Thiên Hình, Hoá Kỵ, Địa Kiếp đắc Tuần).
Ba bộ trung tinh xuất phát từ hai cung Thìn Tuất
Cùng một cặp đi ra từ một chỗ, nhưng một bên đi từ Tây sang Đông nên vẫn trội hơn bên kia một bậc.
Hai cung Thìn Tuất là 2 vị trí xuất phát cho 3 bộ trung tinh chính yếu là Long Phượng (biểu tượng cho năm), Tả Hữu (tháng), Xương Khúc (giờ), theo luật dương thuận âm nghịch mà đi. Trên danh nghĩa dương là quân, âm là thần; nhưng sự khắc chế của ngũ hành thì Tây (Kim) khắc Đông (Mộc), nên Phượng Các, Hữu Bật và Văn Xương cùng phát xuất từ Tây qua Đông, đều có tính cách trội hơn Long Trì, Tả Phụ và Văn Khúc.
Bộ Long Phượng là bộ mặt của tam hợp Thái Tuế, nhưng với người tuổi âm mới đủ 4 sao Long Phượng Hổ Cái, là quí cách của người được định mệnh giao phó trách nhiệm để làm việc cao cả. Người tuổi dương chỉ có 3, nhường Phượng Các cho đối phương (Tuế Phá) theo tinh thần mã thượng, gọi là khen ngợi tư cách và bảo đảm cho bản thân những khi dám ra mặt chống chọi (Giải thần luôn luôn sát nách với Phượng Các).
Hữu Bật đi từ chỗ tối ra chỗ sáng, có ý chí quật cường võ dũng tranh đấu thực lực, khác hẳn bạch diện thư sinh Tả Phụ chỉ là hiền thần trợ tá trung thành. Hai sao thoát thai của Tả Hữu cũng cùng tính cách: Tam Thai chỉ là danh vị cao đẹp trên chánh nghĩa ban thưởng cho người có công lớn như Thái Sư, Thái Phó, Thái Bảo; Bát Toạ, sao của quỹ đạo Hữu Bật, là 8 ngôi chánh yếu như thượng thọ Tổng Trưởng có thực lực điều khiển một nội các.
Văn Xương là cả một nền văn học, Văn Khúc là một khoa mỹ thuật
Hai chữ vẫn quen đi liền nhau trong miệng người xem số, nhưng đặt riêng ra mới thấy đâu là thầy, đâu là trò.
Còn Xương Khúc thường được bao gồm là bộ văn học; người nào mà Mệnh hay Thân có 1 sao đó đều được dự phần hãnh diện giòng dõi nho gia. Nhưng giữa 2 chữ vẫn có một ý nghĩa cách biệt, cần phải phân tách đâu là giá trị trung thực. Văn Xương là tên một vị học giả được đề tặng là Đế quân về văn học, đủ mọi vẻ thông thái thịnh đẹp như ý nghĩa của chữ "Xương" Hán tự. Còn Khúc là 1 đoạn; Văn Khúc là một bản đàn, bài thơ, một vở kịch chứa đựng nhiều tình tiết nghệ thuật. Tức là cả Văn Xương bao gồm cả Văn Khúc, như thầy với trò.
Trong mỗi lá số, nếu là giờ âm thì Văn Khúc đứng chụm theo Văn Xương trong thế tam hợp, thầy trò biểu dương lực lượng. Trái lại giờ dương thì Văn Khúc đứng ở thế nghịch địa, không bao giờ quên để hai sao phụ thuộc là Thai Phụ Phong Cáo thay mặt đề cao Văn Xương lỗi lạc, là bậc tam công xứng đáng được phong tặng ấn tín một vị nguyên huân (Thai Phụ Phong Cáo xuất phát từ Văn Khúc đến nhập vào tam hợp của Văn Xương).
Đến ngay hai sao thuộc quỹ đạo của Xương Khúc cũng thấy sự khác biệt tính cách: Ân Quang là một phần thưởng vinh dự sáng ngời, Thiên Quí là một bảo vật giá trị mà thôi. Tóm lại Văn Xương là bao gồm cả một nền văn học, Văn Khúc là một khoa mỹ thuật.
Cụ Sào Nam là một văn khoa chính phái, sanh năm Đinh Mão ngày 11 tháng 5 giờ Sửu. Thân cụ nêu cao danh nghĩa với Thiên Lương Long Phượng Hổ Cái. Bộ âm dương tuy ở trong tình trạng đen tối, thiết tưởng bộ Tuần Triệt quí giá này vô cùng hữu ích cho Thái Âm xứng danh phẩm cách. Văn Xương Hoá Quyền ở Quan, Hoá Khoa ở Tài, làm gì mà không mão cao áo gấm ở chốn triều đình (Thai Phụ Phong Cáo ở Thân). Chỉ có một vị trí Tang môn (Mệnh) và Thiên Đồng ở Quan, cụ xoay hẳn chí hướng, để lại ngày nay một số tác phẩm quí giá sánh với Thai Phụ Phong Cáo của một Thiên Lương Xương Khúc, đã được nhà đại văn hào Lương Khải Siêu hết lời khen ngợi.
Nguồn: Tử Vi Nghiệm Lý Toàn Thư — Thiên Lương
