Bài tổng quan
Dương Lương Mão Dậu: nắng Phù Tang, người đàn ông may mắn
Mặt trời ở phương đông đã lên cao, nắng không còn chói mắt mà chỉ vừa đủ để phơi một ngày đẹp. Người đàn ông bước ra giữa nắng ấy được nghe tên mình trên bảng vàng, có cả bóng mát lẫn lương thực bên cạnh. Còn khi mặt trời nằm ở bên kia quả đất thì…
Mục lục · 10 phần
- 01Dương Lương Mão và Dương Lương Dậu: hai buổi sáng khác nhau
- 02Nhật xuất Phù Tang: mặt trời đã lên cao
- 03Người đàn ông may mắn
- 04Những tháng ngày may mắn và những âm thanh may mắn
- 05Kẻ phô trương và âm thanh cất lên
- 06Công khai, minh bạch, quang minh chính đại
- 07Những điều trông thấy, nghe thấy, và chuyện nam tính
- 08Cần gặp
- 09Kỵ gặp
- 10Về các tuổi và vài câu phú đáng giải
Dương Lương Mão và Dương Lương Dậu: hai buổi sáng khác nhau
Bộ Dương Lương gồm Thái Dương và Thiên Lương, đóng ở Mão hoặc Dậu. Ở Dậu, cách này kém hơn ở Mão, vì Thái Dương ở Mão sáng và còn được Thái Âm sáng hội chiếu; ở Dậu cả Âm lẫn Dương đều lạc hãm, bên trong thành cách Âm Dương lạc hãm, cần tìm hiểu thêm để luận chính xác. Có thể nói tổng quát cách ở Dậu thiên về may mắn nhưng không rực rỡ và đến muộn màng, rất cần gặp các sao thuộc mục cần gặp và tránh các sao thuộc mục kỵ gặp.
Mão và Dậu khác nhau như hai thái cực. Ở Mão là đem phơi bày cái hay cái tốt ra để hãnh diện đắc ý; ở Dậu dễ bị phơi bày cái xấu để người ta bôi nhọ. Ở Mão là gặp may, ở Dậu dễ gặp xui. Đây là cách “đồng lương chỉ khách”, “bình bộ nhập điện cung”, sớm toại chí, được đặt tên riêng là Nhật Xuất Phù Tang, một trong những cách hay, được dương cao. Khi bị phá cách thì dương ra, phô ra chính tội lỗi sai trái của mình.
Cứ tóm lại như vậy: ở Dậu công danh muộn màng, âm thầm lúc đầu rồi sau mới vươn lên; ở Mão sớm toại chí. Cả hai nơi đều là người may mắn, ở Mão may mắn hơn, đắc ý hơn; tốt xấu cuối cùng do hung cát tinh quyết định.
Nhật xuất Phù Tang: mặt trời đã lên cao
Dương Lương ở Mão là hình ảnh mặt trời xuất hiện ở phương đông và đã lên cao, báo hiệu chắc chắn một ngày nắng đẹp, nên gọi là Nhật Xuất Phù Tang. Phù Tang là tên một loài cây quý, thần thọ, chỉ mọc ở nơi mặt trời mọc; người Nhật tự cho mình là xứ Phù Tang, con của mặt trời. So với Cự Nhật lúc mặt trời mới ló, ở đây nắng đã cao, không còn chói mắt. Nếu bạn từng đi làm sớm theo trục Tây Đông thì biết không gì khổ bằng ánh nắng chiều thẳng vào mặt; đó chính là ông trời phản đối của cách Cự Nhật.
Ngược lại ở Dậu thì tất nhiên không đẹp, vì mặt trời nằm ở bên kia quả địa cầu; nó không mất đi đâu cả nên phải chờ đợi một thời gian. Âm thầm học tập, học hỏi để thành công, công danh thường đến muộn, đúng như câu “Âm Dương phản bối, công danh vãn tuế tất thành”. Khi ấy bộ Âm Dương Lương có nghĩa là âm thầm học hỏi, về sau mới dương lên, may mắn sẽ đến.
Người đàn ông may mắn
Hình ảnh của cách Dương Lương là người đàn ông may mắn. Đôi khi qua truyền thông ta gặp những người tự nhận mình là người may mắn nhất, như “tôi là người may mắn nhất trong cuộc thi hôm nay”. Nghe như khiêm tốn mà thực đúng thế: trong thi cử, thi đấu giữa những người cùng giỏi, nhanh hơn một chút, mau hơn một chút là thắng. Nét chung của người có cách này là gặp nhiều may mắn trong thi cử, thi đấu, may về nhà đất, thường là cậu ấm cô chiêu được kế thừa di sản, tước hiệu, địa vị của cha ông. Đường con cái cũng tốt đẹp, đúng câu “Lương xung toạ thủ kiêm thọ toán”, và “Thiên Lương thủ chiếu cát tương phùng bình sinh phúc thọ”.
Đó là người đàn ông có lương thực, lương tiền bên cạnh, có ngôi sao “bóng mát cuộc đời” che chở. Khi bóng mát mất tác dụng thì ngược lại: phơi nắng phơi sương, một nắng hai sương. Đây còn là hình ảnh người đàn ông có tài, tâm hồn hiền lương, hưởng thọ. Phú có câu “Dương Lương Xương Lộc hội, lô truyền đệ nhất danh”: có Lộc Tồn hay Hóa Lộc thì thi đậu thủ khoa, tên được rao truyền; ngày nay là đăng báo, cũng là hình thức khuyến học. Vì Thiên Lương chủ tài năng và chủ phơi bày công khai, còn Thái Dương là công khai cho thiên hạ biết.
Những tháng ngày may mắn và những âm thanh may mắn
Giữa phố xá ồn ào, một chút yên tĩnh đã là phúc, và một cái tên được xướng lên đúng lúc còn là phúc hơn.
Đời người này có những tháng ngày đáng nhớ, êm đềm. Có khi cả xã hội biến động mà Mệnh hay đại hạn tại đây vẫn được hưởng sự yên bình. Người có bộ sao này thường hãnh diện, nở mày nở mặt vì nhà đất, vì người thân (nhưng Thái Dương ở Dậu thì kém đắc ý vì Âm Dương tối). Đường Phu Thê thì có thể loại trừ, vì tại đây có cách Bất Đồng, chỉ cá biệt mới hưởng cách Khai Thông Bế Tắc. Người có Thiên Lương ở Mệnh thường hiền hoà may mắn nhưng không may mắn lắm đường tình duyên.
Người ta chúc nhau một ngày may mắn, một ngày tốt lành, thì đây là: Nhật là ngày, Thái Âm là đêm, Thiên Lương là may mắn; Thái Âm còn ám chỉ tháng. Âm thanh cũng có chuyện may mắn hay không. Tiếng bom đạn nổ, tiếng pháo réo, tiếng kêu cứu, tiếng ồn phố thị, tiếng còi xe tải nặng, tiếng chửi tục, tiếng đay nghiến, gào thét khóc lóc, ngày nay gọi là ô nhiễm âm thanh; ai xin được sự yên lặng là đã may. Được nghe lời hay ý đẹp trong văn chương nghệ thuật, được nghe giáo lý, giáo dục, ít ra cũng đáng gọi là âm thanh may mắn, còn hơn nghe thị phi; càng may mắn hơn khi nghe tên mình trong bảng vàng thi cử, thi đấu. Cho nên bộ Dương Lương thích bộ Đào Hồng Hỉ chủ niềm vui, và cần Xương Khúc để phát huy cái được nghe và cái được nói.
Kẻ phô trương và âm thanh cất lên
Thái Dương dương ra quá mức, là sao ưa phô, ưa dương; Thiên Lương lại phơi bày ra. Những thứ được phô có thể là nhà cửa, hàng hoá, lương thực bày ra lấn chiếm vỉa hè, hoặc những việc làm phúc thiện (rao giảng kinh kệ) để mọi người biết mà cứu giúp. Từ vô hại đến có hại. Nhìn một toà cao ốc là hình tượng của bộ sao; nhìn thức ăn bày chào mời trên hè phố cũng thế; những âm thanh quảng cáo, quảng bá không có tính kích động cũng thuộc cách này.
Vì thế cần gặp Thanh Long, chủ tiếng nói. Cần Khôi Việt, chủ phát biểu: không có Khôi Việt, tiếng nói ít giá trị, vì Khôi Việt là tiếng nói của quý nhân. Và cần Xương Khúc, tiếng nói nghệ thuật, tức tiếng ca tiếng hát. Bộ này tối thiểu phải có Việt mới hay, mới có quyền ăn nói và dễ phát sinh may mắn, từ tâm.
Công khai, minh bạch, quang minh chính đại
Cách Dương Lương mang tính công khai, minh bạch, rõ ràng; hai chữ quang minh và hai chữ chính đại nghe rất dễ hưởng vì được nhị hợp với bộ Liêm Phủ. Họ nắm cùng lúc công khai và âm thầm, biết cái gì cần dương ra, cái gì cần giấu, cái gì nên nổi, cái gì nên chìm. Người mới học Tử Vi thì nên âm thầm thôi, kẻo bị người ta nhờ chấm lá số là thấy cực rồi. Có người âm thầm mua số trúng rồi công khai khoe “tôi trúng số”. Có những thứ âm thầm rất hay như trợ giúp, làm việc phúc thiện, âm thầm dành dụm, miễn không hại ai là tốt. Nếu bị phá cách thì dễ bị phơi tội lỗi ra ánh sáng.
Sự bày tỏ công khai ở đây không nhằm phản đối ai, và cũng không bị ai phản đối, vì không có bóng dáng Cự Môn xung hay hợp; tất nhiên kỵ gặp bộ Kỵ Kình Đà Hình hội họp. So với Cự Nhật là người đàn ông phản đối, Dương Lương là người đàn ông phơi bày, êm ả hơn nhiều. Mão thuộc quẻ Chấn, tượng sấm, phương chính Đông; Dậu thuộc quẻ Đoài, tượng đầm lầy, phương chính Tây; phía Tây thiên về dễ bị phơi bày.
Những điều trông thấy, nghe thấy, và chuyện nam tính
Bộ Dương Lương có Âm là những điều trông thấy, nghe thấy, và cũng là những điều mình nói ra. Được hỗ trợ bởi cát tinh phù hợp như Phượng Các, Khôi Việt, Xương Khúc hay Tam Minh Hỉ Hồng Đào thì tốt; ngược lại gặp Hổ Khốc, Kỵ Kình, Kỵ Hình, Kỵ Kiếp, nhất là Tam Ám Diêu Đà Kỵ, thì những điều trông thấy nghe thấy đau đớn như gai nhọn châm vào mắt vào tai, chưa kể dễ bị mục tật. May là có người đã chế ra cặp kính cận, kính loạn thị, nên cái giương ra khoe ra thành chiếc kính.
Thái Dương là biểu tượng đàn ông, ngôi sao của nam tính. Nữ Mệnh có Thái Dương thì có nam tính như đàn ông, nhưng ở đây Thiên Lương toạ thủ nên chỉ hiền hoà, giúp mình tự tin không ngại đám đông. Nữ Mệnh có Thái Dương lại gặp Cự Môn thì hung hăng, thuở nhỏ hay chơi đòn; hung hơn nữa khi Bạch Hổ đồng cung, lại có Khốc Diêu Hình. Thái Dương đóng ở Mão rất hay, ở Dậu kém sút nhiều, nhưng nhờ cách Dương Lương vẫn là người đàn ông may mắn, tuy muộn màng kém vẻ vang.
Cần gặp
Ngọn đèn đã lên, giờ chỉ cần người cầm loa, người giữ cửa, và một tờ giấy ghi tên đúng chỗ.
Xương Khúc đắc lực, rất cần thiết. Tam Minh, cần nhất là Đào Hồng chủ tháng ngày vui vẻ, nhất là bộ Hồng Thanh có Khôi Việt. Bát Toạ: “Bát Toạ hướng Thái Dương thị tụng ư cung cấm”, lợi công danh, xuất nhập nơi quyền quý. Xương Lộc lợi thi cử, văn tài, “lô truyền đệ nhất danh”. Tuần Triệt thì như câu phú: Âm Dương lạc hãm tu cần Không diệu, tối kỵ sát tinh; Nhật Nguyệt tịnh minh tối kỵ Tam Không, tu cần Khoa Lộc. Dương Lương ở Dậu thì cần Tuần Triệt, còn ở Mão thì kỵ Tuần Triệt trừ khi có Khoa Lộc chủ thành đạt, thành công. Dương Lương vốn ưa phô bày mà Tuần Triệt có tính phòng ngừa nên không phát huy tác dụng. Ví dụ bạn có từ tâm dựng một điểm uống nước miễn phí, nhưng không bày ra thì ai biết đường tới uống; lại thêm Tuần Triệt ngại ngùng, nghĩ mấy ai chết khát mà giúp. Có người đi ngang qua dù không uống vẫn thấy lòng an vui vì cuộc đời còn đẹp.
Khoa Lộc hợp cách, nhưng chú ý các tuổi Đinh Kỷ Quý dễ bị cách Song Hao Mão Dậu kỵ Hóa Lộc (mua đắt bán rẻ, việc mình làm trả công không tương xứng). Tuổi Canh muốn có bộ Khoa Lộc ở đây phải an Tứ Hóa theo cách Nhật Vũ Âm Đồng, nếu không thì năm mơ cũng không bao giờ có; đó là một lý do tác giả chọn cách an như vậy. Khôi Việt: “Nhật Nguyệt phản bối hà vọng thanh quang, tối hỉ ngoại triều Khôi Việt”: Âm Dương tối không có Khôi Việt thì đừng hy vọng nổi danh. Thái Tuế thành bộ Tam Thái, bộ sao của bậc thầy, nhưng kỵ gặp Việt Hình vì thái quá mà sinh hoạ. Bệnh Phù hợp với Thiên Lương, nhưng có Khốc thì kém hay vì Thái Dương có nam tính; Khốc có tính táo bạo, Dương Hổ Khốc có Cự hội họp thì rất táo bạo. Phượng Các, Hoa Cái hợp cách, lợi uy tín, kề cận quý nhân, đẹp nhà đất, nhất là Phượng Các có Khôi Việt. Thanh Long dễ dương danh, nhất là bộ Hồng Thanh có Khôi Việt. Lộc Tồn chủ tồn tại vững vàng, một kho lương thực, lương tiền.
Kỵ gặp
Tang Môn có Phục Binh đồng cung dễ làm chuyện sai trái. Phục Binh có Kiếp Sát hội họp không hay, nhưng Phục Binh có Điếu Khách lại tốt, phục thiện và lợi cho dịch vụ. Kình Đà thì đa khắc thân, bệnh tật triền miên, rất kỵ khi Thái Dương hãm, tức dương lên không nổi; tuỳ hung cát tinh nhiều ít mà suy luận, đừng máy móc, vì câu phú chỉ là gợi ý để nhớ mà luận. “Dương Nhẫn bất nghi Nhật Nguyệt, bệnh tật triền miên.” Kình Đà có Khoa lại hay, có Phượng lợi cho ngành xây dựng. Bộ Âm Dương ngộ Kình bị phê vì nó biểu tượng cho hai giới nam nữ trong gia đình mà Kình chủ chống đối, nhất là Kình hung hăng như Kình có Kiếp Sát, Kỵ, Hình, Địa Kiếp. Tam Ám Diêu Đà Kỵ thì mục tật.
Hóa Kỵ dễ bị mục tật, kỵ gặp thêm Kình Hình Tam Ám thì dễ bị vật nhọn đâm vào mắt. Dương sáng ngộ Kỵ là ngày đẹp bị mây che, tuỳ hung cát tinh; thành người đàn ông bị ghét bỏ. Hạn ngộ mà dễ chết thì biến thành ngày kỵ giỗ, tức cái ngày đáng ghét. Có Kỵ cần Khoa hoá giải, hay nằm trong bộ Long Kỵ Hà thì lại tốt. Không Kiếp thì phú quý nan toàn, công danh bất hiển, nam đa gian đạo nữ đa dâm; rất kỵ khi Dương hãm, làm mất may mắn của Thiên Lương, biến thành nỗi bất hạnh. Mã thì túng du vô yếm, ưa ăn chơi. Hỏa Linh nếu không có Kỵ Hình Không Kiếp và cả Khôi Việt thì lợi cho buôn bán lương thực thực phẩm. Thiên Hình là hình khắc, bắt bẻ, trừng phạt, nhưng có Khoa hoặc nằm trong bộ Binh Hình Tướng Ấn thì hợp cách. Việt Linh Hình thì phòng sấm sét, búa đao; bộ Nhật Nguyệt rất kỵ bộ này.
Về các tuổi và vài câu phú đáng giải
Tuổi Giáp, Mậu kém hay: “Dương cư Đoài Chấn lục Mậu lục Giáp phúc nan toàn”. Tuổi Ất hưởng bộ Kỵ Quyền; tuổi Bính hiếm có người được Khoa hội họp; tuổi Đinh may ra có người hưởng Xương Lộc; tuổi Mậu cá biệt có người có Quyền Khoa nhưng Phúc bị Cơ Kỵ cật vấn nghi ngờ nên nan toàn; tuổi Kỷ hưởng chữ Khoa; tuổi Canh được kể là hay nhất, lợi thế nhất; tuổi Tân hưởng chữ Quyền, cá biệt thêm Khoa; tuổi Nhâm ở Mão hưởng cách song Lộc, có người gặp cả Khoa; tuổi Quý hưởng chữ Khoa.
Vì sao Giáp và Mậu kém? Thái Dương can Giáp hoá Kỵ, lại có Kình đồng cung, dễ gặp bộ Hà Sát; nói cách khác, người tuổi Giáp không hợp Thái Dương vì luôn có Kỵ; ở Dậu có Kỵ Kình Đà xung, ngày xấu lại thêm giông bão. Can Mậu thì Thiên Cơ hoá Kỵ ở cung Phúc, dễ gặp bộ Hà Sát; cung Tài, cung Phúc bị bộ Binh Kiếp Kỵ, Phục Binh cần có Thiên Đồng cứu giải mà ở đây không có sao này. Nên hai tuổi này phúc khó toàn, được cái này mất cái kia. Người thành công khó mà bị hà hiếp, nhất là khi giương ra khoe ra là bị vùi dập ngay tại chỗ. Cả hai tuổi này là nạn nhân bị phơi bày ra ánh sáng.
Câu “Âm Dương lạc hãm tu cần Không diệu” được hiểu như sau: Không diệu là Tuần Triệt làm Thái Âm đỡ tăm tối; Tuần thu gom những cái xấu tốt bên ngoài, Triệt loại trừ giúp Thái Dương phân biệt xấu tốt vì chỗ này tối tăm quá. Nhưng đừng gặp Thiên Không vì đã tối tăm lại thêm “không biết gì”, tất sinh hoạ từ Địa Kiếp. Câu thứ hai: khi sáng sủa mà gặp Tuần Triệt thì kém hay vì bộ sao này có khuynh hướng dè dặt, phòng ngừa. Một khi Nhật Nguyệt tối thì “Âm Dương phản bối, công danh vãn tuế tất thành”.
Nhật Nguyệt vô minh nhi phùng Diêu Đà Kỵ Kiếp Kình ư Mệnh, tật nguyền lưỡng mục.
Vô minh là không sáng, lại gặp Tam Ám cùng bộ Kiếp Kình; chỉ riêng bộ Kiếp Kình cũng đủ tai hoạ vì ám chỉ tai hoạ mọc lên.
Thái Dương thủ Mệnh lạc hãm, lao tâm phí lực, tuy Hóa Quyền, Lộc diệc hung; Quan lộc bất hiển tu cần chung noạ; thành bại bất nhất, đản xuất ngoại ly tông khả cát.
Đường công danh không hiển hách, trước chuyên cần sau biếng nhác, khi thành khi bại; nên xa quê hương mới tốt.
Nam tử tối hiềm Nhật hãm; nữ tử thiết kỵ hắc vân.
Nhật hãm là hình tượng người đàn ông không ngẩng mặt lên, thiếu nam tính, khó thành đạt. Với nữ thì bất lợi vì Kỵ, tức mây đen: thấy mặt người ta sợ, ghét; cần có sao cứu giải. Nếu có sợ thì sợ tài năng và uy quyền của mình, như các cao thủ khiến người khác khiếp sợ uy danh, mới nghe tên đã bủn rủn hết ý chí đi thi.
Nhật Nguyệt phản bối hà vọng thanh quang, tối hỉ ngoại triều Khôi Việt.
Bộ Nhật Nguyệt là âm thanh vươn lên, Khôi Việt chủ bộc phát ra, như chiếc loa, đài truyền thanh, truyền hình đưa tiếng vang khắp thế giới, đồng thời là tiếng nói của người cao quý. Nhưng có Khôi Việt mà thêm Hỏa Linh Hình thì gặp hung nguy: lúc đó không còn là quý nhân mà là kẻ phạm pháp, phạm tội được loan truyền khắp nơi.
Nhật hãm xung phùng ác sát, lao lực bôn ba.
Một khi mất tác dụng thì đâu còn cảnh ngồi mát ăn bát vàng: hai yếu tố xấu cộng lại là lạc hãm gia thêm ác sát.
Còn câu phú nôm: “Thái Dương hãm địa bất lương, từ Dậu đến Sửu nghịch dòng chẳng hay; Dương Đà Kiếp Không ăn mày, mua phiền chuốc não lo ngày lo đêm”. Việc đánh giá một ngôi sao bất lương hay không tuỳ nhiều yếu tố; riêng Thái Dương hãm chỉ nói lên nỗi khó khăn không may, bước khởi đầu không êm. Như trồng cây trên vùng đất xấu và vùng đất tốt: cây phát triển ở đất tốt chưa chắc sống được vì gây trở ngại nên bị chặt bỏ, còn cây èo uột ban đầu lại được sống. Mỗi ngôi sao đều có chỗ đắc dụng; những câu phú võ đoán chỉ làm tăm tối bộ não và gây khó khăn cho việc học.
Nguồn: Tử Vi Bửu Đỉnh – Chính Tinh.
