Bài tổng quan
Cự Nhật Dần Thân: lá cờ phản đối và ngày xa cách
Lá cờ vừa kéo lên, cổng nhà vừa dựng xong, và từ hôm ấy ai cũng biết ai đang đứng ở phía phản đối. Nhưng bên kia cung đối chiếu lại im phăng phắc, chẳng có ngôi sao nào đáp lời. Vậy tiếng nói ấy rốt cuộc dành cho ai…
Mục lục · 9 phần
- 01Cự Nhật Dần Thân: cách chỉ có hai chính tinh
- 02Thái quá về dương: công khai, nam giới, ban ngày
- 03Bắt đầu giương lên, dựng lên, khởi nghiệp
- 04Công khai phản đối, chỉ trích và nổi dậy
- 05Chia ly, cách biệt, đi xa
- 06Tài can gián của cách Cự Nhật
- 07Cự Nhật ở Dần so với ở Thân
- 08Cự Nhật Dần Thân cần gặp và kỵ gặp
- 09Một câu phú dễ gây ngộ nhận
Cự Nhật Dần Thân: cách chỉ có hai chính tinh
Bộ Cự Nhật gồm Cự Môn và Thái Dương, đóng ở Dần hoặc Thân. Đây là một vị trí rất độc đáo trên lá số Tử Vi: chỉ có hai chính tinh, và cả hai thuộc nhóm văn đoàn. Cung chính chiếu hoàn toàn không có chính tinh nào, nhưng thật ra bộ Cơ Nguyệt Đồng Lương đang ẩn nấp ở đó. Cự Nhật ở Dần thì Thái Dương sáng, ở Thân thì Thái Dương tối, nên hai thế đưa tới hai hoàn cảnh hoàn toàn khác nhau.
Người xưa phê cách này là “quan phong tam đại”: ba đời làm quan, đời ta, đời con và đời cháu. Tuỳ quan chế từng triều đại có khi phong đến năm đời, nếu được lên tước vương, nhưng có lẽ câu phú ra đời thời mà ba đời đã là nhiều nhất. Ý nói người có cách Cự Nhật làm bậc tôi lương đống của triều đình và để lại sự bền vững cho đời sau. Thực tế nhìn lá số thấy rõ: cung Tử Tức được hưởng cách Tử Phủ triều viên, cung Phụ Mẫu được hưởng cách Phủ Tướng. Ngày xưa một vị lương đống của triều đình thì cha mẹ cũng được phong tước, vì đã có công sinh ra người con tài giỏi phục vụ nước nhà. Cách Cự Nhật được gọi là hay cũng nhờ cung Phúc đẹp đẽ.
Thái quá về dương: công khai, nam giới, ban ngày
Ở vị trí này lá số nghiêng hẳn về dương tính: hợp pháp, công khai, minh bạch, rõ ràng; thiên về nam giới (nam ấy gieo hoạ, gặp hoạ hay ban phúc là tuỳ hung cát kỵ hình tinh); thiên về ban ngày, về những việc xảy ra giữa ban ngày. Đó cũng là nghiêng về cái nhìn mà thiếu cái nghe, giống như thấy hình mà mất tiếng, vì đứng quá xa. Từ chỗ ấy suy đoán dễ sai: người ta đùa với nhau ta ngỡ đánh nhau, người ta chửi nhau ta lại tưởng thân thiện.
Cũng là nghiêng về ngày mà không nhớ tháng, nghiêng về cha mà quên mẹ, chỉ biết ban ngày mà không tận dụng ban đêm, bóng tối, chỉ biết công khai mà không biết lợi dụng sự kín đáo, âm thầm, trong khi đôi khi chính đó mới là yếu tố chiến thắng. Không phải lúc nào phơi ra giữa trời cũng tốt, nên nói đây là khuyết hẳn một bên. Nữ Mệnh có cách này thì tính khí như nam; ở các cung chỉ người thì quá nhiều nam giới, thiếu nữ giới.
Bắt đầu giương lên, dựng lên, khởi nghiệp
Cờ vừa kéo lên cột, cổng vừa dựng xong, và ai cũng thấy từ nay có một phía đã tuyên bố lập trường.
Cự Nhật là cách khởi đầu, bắt đầu giương lên, dựng lên: dựng cửa, dựng nghiệp. Điều quan trọng là giương cái gì, dựng cái gì. Có thể là cao cờ nghĩa mở ra một trang sử mới với những lá số anh hùng; có thể là giương cây bút bày tỏ trên từng trang giấy; có thể là giương biểu ngữ phản đối. Cũng có thể là dựng một cái cổng đơn sơ hay rực rỡ như khải hoàn môn, để khẳng định chủ quyền, chỉ lối ra vào cho có nề nếp, không chung chạ với ai. Đó cũng là dấu hiệu của sự chia rẽ, nhưng là loại chia rẽ chỉ biết được chứ không thấy được.
Ngoài đời ta dễ gặp những chuyện rất thường: phản đối người thân quen đưa tới sự cách ly trong lòng. Cự Nhật là cách khởi đầu để tuyên bố công khai: tôi là doanh thương, tôi là kẻ phản đối, tôi là người khởi nghĩa. Dễ gặp nhất là người bất mãn, kế đó là người mới xây nhà. Trong kinh thương, đây là cách lợi cho khai trương, khởi nghiệp. Cũng có kiểu khởi nghiệp đáng chú ý như người anh hùng trong Truyện Kiều đã khởi nghiệp binh đao với xương chất cao bằng đầu; chắc chắn ở đó có Phục Binh. Cự Môn hợp với kinh thương khi đi cùng Kình, nhưng thành cách lưỡng dương phức tạp.
Hình ảnh của nó là bình minh đã qua, một ngày mới bắt đầu, báo hiệu một ngày dài phía trước. Ngày ấy vất vả, vui hay buồn tuỳ các hung cát trợ tinh. Như cỗ máy bắt đầu chạy, cách Cự Nhật có những thay đổi rất rõ, thường làm những việc mới lạ chưa quen.
Công khai phản đối, chỉ trích và nổi dậy
Đi với thị phi tinh, Cự Nhật chủ công khai phản đối, chỉ trích, bất mãn ra mặt. Từ đó có thể nảy sinh phản bội, nổi dậy, nổi loạn, biểu tình, dựng căn cứ làm phản, giương cao cờ nghĩa, giương cao họng súng. Căn cứ có khi là mật khu, nhưng thường gặp hơn là mảnh vườn cha ông để lại: người anh bên này, người em bên kia, biểu tình biểu dương lực lượng trên chính mảnh đất ấy, và khi lên cao thì thành gậy gộc gạch đá. Từ đó mất đoàn kết, công khai phản đối ai đó, dấy lên sự phản đối: đối với thân nhân trong nhà, hàng xóm, tập thể cơ quan, thậm chí cả chính quyền.
Dương có nghĩa là phất cao, công khai, dấy lên; Cự là phản đối. Dương Cự là dấy lên sự phản đối, công khai phản đối, càng mạnh mẽ khi có Kình Dương chủ phản kháng, tranh luận. Điều đặc biệt là người Cự Nhật công khai phản đối mà đối phương hầu như im re không phản ứng, vì ở cung đối chiếu không thấy bóng dáng ngôi sao nào cả: nhóm Cơ Nguyệt Đồng Lương núp hết. Giống người đàn ông to tiếng mà vợ con im thít, không ai dám hó hé.
Vì vậy cần hỏi: phản đối ai, vì mục đích gì, quan trọng ra sao, thành hay bại. Hậu quả hay kết quả đều tuỳ hung cát kỵ hình tinh.
Chia ly, cách biệt, đi xa
Về tính chất chuyển động, cách này dễ nảy sinh việc đi xa, chia ly, cách biệt, liên quan chữ “ly” trong ly bôi, chén rượu tiễn đưa. Nếu gặp Hà Phi Phục hoặc Phượng Mã Khách thì tất nhiên đi xa. Từ đó Cự Dương hoá thành “những ngày xa cách”: Dương là ngày, Cự là cự ly. Khi Cự Nhật đi cùng nhóm sao chuyển động, người ta có vô vàn thơ nhạc tả cảnh biệt ly. Trong Truyện Kiều có câu “Rằng: tôi chút phận đàn bà, nước non lìa cửa lìa nhà đến đây”, vì Cự Nhật có nghĩa lìa cửa, lìa nhà, xa nhà.
Chuyện Bá Lý Hề với năm bộ da dê nổi tiếng là một Mệnh cách Cự Nhật ở Dần: người tài bị bên địch bắt giữ, nhà vua biết tài nên muốn chuộc, nhưng sợ địch biết người ấy giỏi mà giữ lại để dùng, nên chỉ xin đổi lấy năm bộ da dê. Địch mắc kế, tưởng chỉ đáng giá năm bộ da dê, nhờ vậy người ấy thoát cảnh giam cầm trở về nước. Dù có thành ly biệt hay không còn tuỳ các sao khác quyết định. Nhưng nếu Mệnh hay hạn có cách này mà không chuyển động thì dễ gặp cảnh giữ một khoảng cách nhất định với ai đó, tức biệt ly tại chỗ, vì bộ sao này mang tính phản đối rất cao, phản đối cả những điều nghe thấy, cũng như thấy cảnh chướng tai gai mắt mà phản đối.
Khi xấu, câu ta nghe là “từ nay dương gian cách biệt”, tức là chết. Vì vậy cần tránh những sao kỵ của cách này. Thật ra mọi cách đều có thể dẫn tới cái chết; mỗi người một cách, có người không hợp hạn này thì dễ chết, ngay cả các cách tốt như Đồng Lương, Cơ Lương, Tử Phủ.
Tài can gián của cách Cự Nhật
Nếu dừng bài ở đây, chỉ một phần mười số bạn biết được tài thật của Cự Nhật. Đó là tài can gián. Thời gọi là phong kiến thực chất rất dân chủ, thường đặt chức Gián nghị đại phu, có khi hai vị Tả Hữu, có nhiệm vụ được phép can gián nhà vua; nếu không đặt chức này thì mặc nhiên quan từ tam phẩm trở lên cũng có quyền can gián. Ngày nay có Viện Dân biểu, nhiều nước có tới hai viện Thượng và Hạ; ở nước Anh tiếng nói của Hạ viện còn quan trọng hơn Thượng viện.
Cự Nhật ở Dần so với ở Thân
Cự Nhật ở Dần hay hơn ở Thân nhiều, vì Thái Dương sáng nên dễ nổi danh sớm. Ở Thân Thái Dương hãm, công danh đến muộn, tuổi cao mới phát nhưng chưa thành công thì vẫn không lâm cảnh bần hàn.
Cự Nhật Dần Thân cần gặp và kỵ gặp
Cái miệng biết phản đối cần được trao tiếng nói hợp lý, và cũng cần tránh những cú châm lửa vào lúc đang giận.
Cần gặp: Thanh Long, vì đã phản đối thì tất nhiên cần có tiếng nói. Quyền Phượng hợp cách; phú viết “Cự Nhật Dần Thân thiên môn nguyệt lãng, kỵ ngộ Lộc Tồn, ái giao Quyền Phượng”, bộ Quyền Phượng mang ý có uy tín và được ngưỡng mộ. Xương Khúc rất hợp, vì hợp với Thái Dương chủ phản đối bằng văn chương nghệ thuật: nhờ vậy có những tác phẩm từ văn chương tới điện ảnh để phản bác điều gì đó, ngày nay thêm mạng, nhật ký trực tuyến. Xương Khúc thêm Khoa Quyền thì tuyệt mỹ. Bát Toạ hợp cách, xuất nhập nơi quyền quý. Đào Hoa là phú quý, vì Thái Dương ưa nhóm Tam Minh Đào Hồng Hỉ. Tuần và Triệt đều hợp cách: Tuần chủ sự phản đối trung thực, trúng; Triệt có nghĩa là sự phản đối phải bộc lộ ra ngoài. Nhưng hai sao này không nên đứng đầu tại cung này, vì Thái Dương sáng kỵ gặp chúng làm lu mờ.
Thái Tuế là sao đứng đầu nhóm ngôn ngữ có lập trường, từ đó dễ gặp Phượng Các ngưỡng mộ, Hoa Cái cái thế hơn người. Hợp nhất là người tuổi Tân vì hưởng hai hoá khí Quyền Lộc. Thiên Mã liên quan tới việc thủ công, dùng tay chân sờ mó làm việc, như thợ may, thợ cắt tóc.
Kỵ gặp: Thái Dương sáng kỵ Tam Không, Kiếp Không; nhưng Thái Dương hãm ở Thân có thể gặp mà vô hại. Kình thì tính phản kháng rất mạnh nhưng dễ đau ốm, khắc người thân; kỵ gặp thêm Hỏa Tinh, vì câu phú nói “Cự Hỏa Kình Dương chung thân ải tử”: lấy cái chết để phản đối trong cơn nóng giận bộc phát lớn. Nếu có Kình thì hay nhất là gặp bộ Kình có Phượng. Đà La tất sinh dị chí với Cự Môn, đa khắc thân với Thái Dương; hay nhất là cần đi với Phượng. Đà là chí hướng khác thường: đi với cát tinh thì phi thường, đi với hung tinh thì dị thường, và nếu có Kỵ thì xem tiếp bên dưới.
Cự Môn Linh là lệnh lạc và sự phản đối, xa cách, ngăn cách và lẻ loi, phản đối và lạnh nhạt; cũng chỉ người đàn ông lẻ loi lạnh lùng, những ngày tháng vất vả vì lệnh lạc. Cự Môn Hỏa có tính khẩn cấp, hoả tốc của Hỏa Tinh cộng với tính chẳng ngờ của Cự Môn, nên cơn giận đến bất ngờ: nổi giận vì phản đối, vì phản bội; sự phản công đến nhanh, trở tay không kịp. Kỵ gặp thêm Kình Dương là cơn giận bốc lên đưa tới tự sát. Phú nói “Cự Môn thủ Mệnh ngộ Kình Dương, Linh Hỏa phùng chi sự bất tường; vi nhân tính cấp đa điên đảo”, nghĩa là người tính gấp gáp và tráo trở; cũng chỉ người đàn ông nóng nảy, những ngày tháng khẩn cấp.
Hình thì phản đối bằng pháp luật, thiên về luật sư hoặc công việc dùng luật pháp để phản đối, nên cần nhóm ngôn ngữ Tuế Hổ Phù và cần sách vở là Xương Khúc. Nó cũng chỉ phản đối bằng hình thức: nửa chừng bỏ họp, không đi họp, cũng là một hình thức phản đối; phản đối bằng chân, tay, mặt, mắt, bằng cái nhìn lườm nguýt, và kẻ bị phản đối sẽ không quên ánh mắt ấy. Xấu là dễ vạ miệng, kỵ gặp thêm Hóa Kỵ, Không Kiếp.
Cự Môn Không là không đương cự nổi, bất lực, dù đi với Kình Dương cũng vậy; có tính bất ngờ của Thiên Không cộng chẳng ngờ của Cự Môn: không bè đảng, hoặc sự phản bội không ngờ của bè đảng, không tôi tớ bạn bè. Cự Môn Kiếp là tai hoạ do sự phản kháng, phản bội, phản đối; cũng là tai hoạ do đàn ông mang lại, có tính công khai, thiên về ban ngày; nếu có Quan Phù thì nữ Mệnh đa lệ phối duyên. Lộc Tồn hội họp thì sự cách biệt, ly biệt kéo dài, có thể là vĩnh biệt, chết hoặc không bao giờ gặp lại; đó là cát xứ tàng hung, nỗi bất mãn vẫn tồn tại: Cự Môn phản đối nhưng Lộc Tồn vẫn cứ tồn tại, dấu hiệu đành chịu thua; trên bảo dưới không nghe, vì Lộc Tồn dầu sao cũng là bàng tinh.
Cáo Phụ làm đảo lộn luân thường: nhỏ hỗn với lớn, vì Cáo dám tố cáo Cự, Cự phản đối mà Cáo vẫn cứ Cáo; sau đó chuyển sang Phụ rẫy. Hóa Kỵ thì dễ mục tật, thị phi, thuỷ tai; cả Cự lẫn Dương đều sợ gặp Kỵ. Phú nói “Cự Môn Hóa Kỵ giai bất cát, Mệnh Thân vận hạn Kỵ tương phùng”: Cự Kỵ là phản đối mà bị cấm, người đàn ông bị ghét bỏ; đại kỵ khi có thêm Đà, hình thành bộ cản trở rất mạnh. Kỵ Đà nhất là gặp thêm Tấu, Tuế thì rất kỵ cho cả hai sao:
Tuế Đà Cự Kỵ phận nghèo, một thân lên thác xuống đèo không yên.
Vì còn rơi vào hoàn cảnh kiện cáo. Hao thì nữ Mệnh kỵ phi lễ thành hôn. Kiếp Phù Khốc Khách thì nữ Mệnh đa lệ phối duyên. Nếu bản cung có Quan Phù, có Địa Kiếp hội họp bất kỳ đâu thì hình thành cách ấy, nghĩa là tôi khóc người đàn ông ấy bị nạn, do tù tội, đi xa hay gặp nạn.
Một câu phú dễ gây ngộ nhận
Cự Nhật Dần cung lập Mệnh, Thân tiên trì danh nhi thực lộc.
Câu này dễ bị hiểu nhầm. Nghĩa thật là trước nổi danh, sau mới thực lộc, nôm na có tiếng trước có miếng sau. Ví dụ cụ thể là những người bất đồng chính kiến: trước tiên họ nổi danh (thật sự chẳng ăn được gì trong đó), thấy bất mãn thì lên tiếng phản đối, nhưng về sau họ dễ thành đạt. Dĩ nhiên không phải ai cũng thành công, còn tuỳ vận hạn. Trước mắt có các hạn Cơ Lương, Tử Sát đang đợi, nhưng không phải ai đến đó cũng gặp điều tốt đẹp. Cự Nhật ở Thân cũng vậy: có khi chờ lâu mới thành công, vì Thái Dương hãm nên công danh đến muộn hơn.
Nguồn: Tử Vi Bửu Đỉnh – Chính Tinh.
