Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Chuyên đề

Bài tổng quan

Bài thơ Lỡ bước sang ngang dịch ra ngôn ngữ các ngôi sao

Tử Vi Nam Phái - Chuyên đề01/10/202610 phút đọc2 lượt đọc
Bài thơ Lỡ bước sang ngang dịch ra ngôn ngữ các ngôi sao

Người chị nước mắt đầm đìa dặn em ở lại trông vườn dâu, trước giờ pháo đỏ nổ rền. Mỗi lời dặn ấy hóa ra đều có một ngôi sao đứng sau…


Lỡ bước nghĩa là chọn sai một con đường

Bài thơ “Lỡ bước sang ngang” của Nguyễn Bính, sáng tác năm bốn mươi, kể lời người chị dặn em trước ngày theo chồng, rồi nỗi đau mười năm sau của chính người chị ấy. Đọc bài thơ bằng mắt người học Tử Vi, ta thấy gần như mỗi chữ đều trùng với một ngôi sao.

Trước hết là chữ “lỡ bước”. Lỡ bước là sai lầm khi chọn một con đường, từ con đường có thật đến con đường theo nghĩa bóng. Trên con đường có thật ấy có lắm mìn bẫy đợi chờ, có những con mắt rình mò theo dõi, chờ cơ hội là cướp đoạt, là giết. Con đường không có thật thì như kinh thương, quân sự, khoa học hay luật học, để rồi sau đó nhận ra không phù hợp với mình. Lỡ bước theo ai đó đi một quãng đời mới biết y là ma quỷ, rồi tự nhận ra mình sai lầm. Vậy lỡ bước đồng nghĩa với sai lầm.

Sai lầm là Thất Sát. Còn bước chân đi để lại dấu vết là Vũ Khúc. Vì vậy Vũ Sát là bước đi sai lầm. Ví dụ hạn Vũ Sát của Hạng Võ: ông bị một ông nhà quê lừa chỉ nhầm đường mà đi vào lối chết. Vũ Sát, hay khúc rẽ sai lầm, là một trong các yếu tố của bộ sao này; ngoài ra Vũ Sát còn là mất của, đoạt của, bị áp bức bằng vũ lực. Hạn Vũ Sát là lỡ bước vào một con đường như binh nghiệp, con đường nghệ thuật, để rồi sau đó nhận thấy con đường ấy hoàn toàn không phù hợp. Vũ Sát tại cung phối thì dễ gặp cảnh:

Chàng nói gà, nàng đành bảo quạ, chuyện tơ duyên anh ả đôi nơi.

Câu chuyện người chị trong bài thơ

Để tiện đối chiếu, xin nhắc lại câu chuyện của bài thơ. Đêm trước ngày đi lấy chồng, người chị dặn em ở lại nhà trông vườn dâu, thương mẹ già, rồi nhờ em hương khói nơi miếu thiêng. Chị biết chuyến này đi là tan vỡ giấc mộng vàng, nên bảo em cứ uống rượu hồng cho say, vui cùng chị vài giây cuối cùng. Sáng hôm sau pháo đỏ nổ rền, mẹ trông theo thở dài, em đứng đầu làng nhìn chị khuất sau ngàn dâu; năm ấy chị mười bảy tuổi.

Ở nhà, em nhớ mẹ thương, nhà cửa xác xơ, mẹ ngồi se tơ bên củi và thường nhắc chị giờ ra sao. Chị thì mười năm gói hận bên giường, mười năm nước mắt thay canh, mười năm lòng lạnh như tiền. Rồi một đêm hè, chị gặp lại một người, thấy máu trở về tim, mối tình chết có người hồi sinh; nhưng người ấy đi rồi chị lại về với nỗi buồn cũ, nhặt cánh hoa lê cuối mùa mà khóc suốt một ngày một đêm. Cuối thơ, chị dặn em thương lấy mẹ già, đừng mong ngóng chị nữa, coi như chị đã sang sông đắm đò.

Dưới đây là hai mươi sáu chữ, cụm chữ trong bài thơ được tác giả “dịch” sang ngôn ngữ các sao, theo đúng thứ tự trong thơ.

Cô gái dặn em ở lại, và cái chữ “ở lại” ấy là chữ đầu tiên mở ra cả một hàng sao.

Lời dặn em ở lại nhà: một nắng hai sương

“Ở lại” có nghĩa là đưa tiền rồi quay trở lại, chủ sự đi tới rồi đi lui trở lại, nên là sao Phục Binh. “Đồn”, ở đây tương đương chặt, cắt ra, nên là Vũ Khúc. “Thương”, như thương mẹ già, là Thiên Tướng, ngôi sao tình yêu. “Một nắng hai sương” nghĩa là đi từ sáng sớm có sương buổi mai, chiều tối mới về nghỉ khi sương ban đêm xuống: đủ hai sương một nắng, làm vất vả từ sớm đến tối mịt, là cách Âm Dương ngộ Lực Sĩ.

Chữ “đi” xuất hiện nhiều lần trong bài. Đi vì công việc thường liên quan đến Thiên Mã; đi mang tính nhàn du, du lịch, hay bị ép buộc phải đi thì phần nhiều liên quan đến Lưu Hà. Toàn bài thơ nhắc nhiều lần chữ đi, trong tiếng khóc, tiếng thở dài, nên là bộ Mã Khốc Khách. Đây là cách luôn có trên lá số của mỗi người: khi ta đi thăm viếng để chia sẻ, đi hiếu sự, đi vì công việc như tài xế, xe thồ thì lòng thường không vui. Tác giả còn nhận xét về thi pháp: trong thơ văn hiếm khi lặp lại nguyên cụm từ vừa dùng, mà ở đây câu hai và câu sáu lại rất gần nhau, một nét rất đặc biệt.

“Hôm nay” là Thái Dương.

Pháo, khói và chuyến sang ngang

Xác pháo trên đường là Thái Âm cộng Thiên Không, chủ tiếng động không ngờ: tiếng súng, tiếng nổ. Khói pháo còn vương khắp làng là bộ Khôi Hỏa, bộ sao chủ đống tro tàn khói bụi, một đám cháy lớn, liên quan đến chết chóc, đến ô nhiễm môi trường, tùy trường hợp mà luận. Từ đám cháy ta thấy cả việc đốt vàng mã, khói hương, đến đám cháy trong lòng không ai thấy được.

“Sang ngang” tức vượt sông, qua sông, là cách Việt Hà gồm Lưu Hà và Thiên Việt: Việt chủ vượt, Hà chủ sông. Còn là cách vượt thoát.

“Tan vỡ mộng vàng”: mộng vàng, ước muốn, mơ ước, khao khát là Tham Lang; tan tác, tan nát là Phi Liêm; tan vỡ là Phá Quân. Phá tan tành là cách Phi cộng Phá. Trên lá số, cung Phu Thê có cách này thì tan vỡ mộng vàng; cung Tài Bạch thì tan vỡ mộng giàu sang; cung Điền thì tan nát cửa nhà. Ví dụ một lá số mẫu tuổi Giáp Thìn: từ cung Mệnh có Tham Lang với mộng vàng, nhưng đến cung Tài Bạch lại tan vỡ mộng giàu sang.

“Rượu” liên quan đến bộ Thiên Diêu cộng Thiên Y. “Vui” là Đào Hoa; đi với Thiên Không thì dễ gặp không có gì vui đâu, đi thêm với Địa Kiếp thì họa đầy. “Một vài giây cuối cùng” kéo theo chữ đầu tiên, cuối cùng: tác giả nhắc đến một bài viết riêng về “lần đầu tiên”, và nói đùa rằng lần đầu tiên tôi ra nằm nghĩa địa đồng nghĩa với lần cuối cùng của cuộc đời.

Thuyền hận, miếu thiêng và nhà hương khói lạnh

“Hận” là Thiên Khốc. “Lo, lo lắng” là Bệnh Phù; nếu tác giả bài thơ viết đổi thứ tự “đầy con thuyền hận, lo không tới bờ” thì người viết thấy còn hay hơn. Ở chỗ này người học có thể đọc thêm về nỗi lo âm ỉ ấy qua bài về Bệnh Phù.

“Miếu thiêng” là Thiên Phủ cộng Linh Tinh, vì Linh còn chủ linh thiêng. “Người thờ” là Phượng Các: Khổng Tử được nhiều môn đệ tôn thờ là nhờ cách Tang Phượng làm nòng cốt. “Hương khói lạnh”: lạnh là Linh Tinh, từ lạnh nhạt đến lạnh lùng, lạnh lẽo, lạnh toát mồ hôi, tùy thời cơ mà đoán. Khôi Linh đôi khi phải nghiến răng đoán là một đống tro tàn lạnh lẽo, một mồ hoang vắng bóng người thăm, một bàn thờ không người chăm sóc; hương khói lạnh là bộ Khôi Linh Hỏa.

“Trắng đêm không ngủ” là Thái Âm ngộ Không: đêm không yên. “Kiếp con chim lìa đàn”: Kiếp là Địa Kiếp, con chim là Hồng Loan. “Đàn”, tức bầy bọn, phe đảng, là một sao khác; ở đây ý thơ nói sự sum vầy không còn nữa. Sum vầy là ngôi Tử Vi, và khi ngôi sao này gặp Sát Phá hoặc Thiên Không thì dễ bị chia lìa: đi với Thất Sát là đánh mất sự sum vầy, đi với Phá Quân là phá bỏ sự sum vầy, đi với Không là sự sum vầy không còn. Phú có câu:

Hồng Loan phùng Địa Kiếp, ư Phu cung bất hảo chi thập.

Nghĩa là mười phần xấu cả mười. Nghĩa đen là loan báo tai nạn, nghĩa hình tượng là con chim bị nạn.

Khi người con gái đã lên đường, hai vai nàng gánh cả giang sơn của nhà chồng, và những chữ trong thơ chuyển sang nặng nề hơn.

Gánh giang sơn, thương nhớ và gương lược

“Gánh vác” là Tử Vi. “Gánh vác giang sơn” vốn là câu dành riêng cho các bậc vua chúa ngày xưa, như câu hai vai gánh vác sơn hà, dưới chân đạp dòng xã tắc. Nhưng đời thường cũng nghe nói “con nớ gánh vác giang sơn bên nhà chồng”, và nghe cũng có lý. Giang sơn của người phụ nữ Việt là mảnh vườn, là ngôi nhà, là mồ mả, là ngày đơm tháng kỵ; ban đầu là Hoàng hậu, về sau là Thái hậu.

“Thương nhớ” là bộ Tướng Ấn, tức Tướng Quân cộng Quốc Ấn, chủ ấn tượng thương yêu quấn quýt với ai đó; nằm ở cung nào thương nhớ cung đó. Câu thơ về nỗi thương nhớ làm tác giả nhớ ngay đến một câu thơ nổi tiếng khác về dòng sông xa và lớp mưa dài.

“Rối”, sự rối ren, là Phá Quân; ngôi sao này mang hai tác dụng trái ngược, vì gỡ rối cũng là Phá Quân. Cụm “tháo gỡ khó khăn” là Phá Quân cộng Kình Dương, nhưng chắc gì, vì cũng là cách rối ren lại thêm khó khăn. “Lược” là Phá Quân chủ gỡ rối; “gương” là Thiên Hình, tốt là tấm gương sáng, xấu là tấm gương xấu để răn đe người, vì Hình là ngôi sao khuôn mẫu.

“Hẹn ước” là cách Tử Tướng, vì Tử Vi định như thế nào thì Thiên Tướng cũng tương đương như vậy. Tác giả lấy ví dụ: hẹn với lòng mình ba ngày viết hai bài nhưng thực tế mỗi ngày đạt một bài, tức Tử Tướng ngộ Tuần, và sao Tuần chủ sự trọn vẹn. “Là không hẹn một lần về nữa” là cách ra đi không trở lại, cách Binh Tướng ngộ Không Kiếp: không quay trở lại. Tác giả nói đề tài này rất dài hơi, sau sẽ có bài viết nghiêm túc; tạm thời, Hạng Võ ghi dấu cách này trên tiểu hạn Mậu Tuất của ông, một vị lãnh tụ khởi nghĩa trẻ ghi nó trên cung Mệnh Thân, còn người viết thì cả gan ghi trên đại hạn.

“Cách” trong “cách mấy mươi con sông sâu” là khoảng cách, từ khoảng cách đo được đến khoảng cách không đo được là khoảng cách trong lòng, là sao Cự Môn.

Đôi lời phê bình bài thơ

Bài viết tới đây hơi dài, tác giả xin tạm ngừng, vì người viết cũng mệt mà người đọc cũng oải. Đánh giá chung, bài thơ của Nguyễn Bính quá dài; nếu rút xuống còn một nửa thì mới hay, vì ý tứ lập lại hơi nhiều. Đó là bình loạn cho vui: trong phê bình cũng có cái đúng cái sai, quan trọng là dám phê bình hay không. Sợ đến nỗi không dám phê bình thì chết đi còn sướng hơn, và hèn đến nỗi không dám nghe phê bình cũng vậy. Hai bài trước đó của tác giả được đăng bằng thủ thuật đăng tự động, kiểu này coi bộ vui: chết rồi cũng có thể viết được.

Cuối cùng, tác giả còn làm một bài nhại lại thơ Nguyễn Bính theo giọng người lính ra chiến trường dặn em ở nhà hái rau, thương mẹ già, rằng dẫu một nắng hai sương cũng chẳng sá gì, vì dân vì nước cũng vì công danh, mai sau dầu nắm mộ xanh thì trên môi trên mắt vẫn long lanh nụ cười.

Nguồn: Tử Vi Bửu Đỉnh – Chính Tinh.

Chủ đề của bài

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Chuyên đề