Bài tổng quan
Cách an hai Đại Tướng, Ngũ Phúc, Quân Cơ, Thần Cơ, Dân Cơ, Tứ Thần
Có sao ba năm đổi một cung, có sao một năm đổi một cung, có sao bốn mươi lăm năm mới dời chỗ. Người tính chỉ cần nhớ nhịp của từng sao rồi chia và rút cho đúng, và mỗi nhịp đều có ví dụ làm mẫu…
Sau khi Thái Ất, Văn Xương và Thủy Kích đã có chỗ đứng, bàn sao còn thiếu những người đi theo: hai viên Đại Tướng, hai viên Tham Tướng, rồi các nền Phúc, Quân, Thần, Dân và bộ Tứ Thần. Mỗi sao đi theo một nhịp riêng: có sao ba năm đổi một cung, có sao một năm đổi một cung, có sao bốn mươi lăm năm mới dời chỗ. Người tính chỉ cần nhớ nhịp của từng sao, rồi chia và rút cho đúng.
Toán chủ và Chủ Đại Tướng
Muốn tìm Chủ Đại Tướng, trước hết phải có toán chủ. Người xưa đếm từ cung Văn Xương đóng đến sát cung Thái Ất, được bao nhiêu thì đó là toán chủ. Chín cung của bầu trời mang chín biệt số: Kiền một, Ly hai, Cấn ba, Mão bốn, Dậu sáu, Khôn bảy, Khảm tám, Tốn chín, còn trung cung năm Thái Ất không vào. Các cung khác là cung gián thì mỗi cung chỉ có một toán. Nếu Văn Xương đứng ở cung gián thì chỉ cung gián ấy được tính một toán, còn các cung gián khác trên đường đếm thì không tính.
Lấy khối 304, năm Đinh Mão: Văn Xương đóng tại Mùi, Thái Ất tại Khôn. Văn Xương ở cung gián được tính một toán, mà Văn Xương đã sát Thái Ất nên khỏi tính nữa, vì thế toán chủ chỉ có một. Lấy khối 289, năm Nhâm Tý, trong khối âm: Văn Xương ở Dần, Thái Ất ở Tốn. Dần là cung gián và có Văn Xương nên tính một. Mão là cung chính, biệt số bốn nên tính bốn. Thìn là cung gián, không tính. Cộng lại được năm, vậy toán chủ là năm.
Để an Chủ Đại Tướng, căn cứ vào số toán chủ mà đặt vào cung chính có biệt số tương ứng. Toán chủ được một ở năm Đinh Mão thì Chủ Đại Tướng ở cung Kiền một. Toán chủ được năm ở năm Nhâm Tý thì Chủ Đại Tướng ở cung giữa. Nếu số toán vượt mười, hai mươi, ba mươi thì bỏ hàng chục, chỉ lấy số đơn: mười lăm lấy năm, ba mươi hai lấy hai, còn mười, hai mươi, ba mươi, bốn mươi thì lấy một, hai, ba, bốn. Cách chỉ lấy số đơn này dùng cho cả toán khách.
Toán khách và Khách Đại Tướng
Bên kia chiến tuyến, mọi việc đếm cũng bắt đầu từ một ngôi sao khác.
Khách Đại Tướng lấy gốc từ Thủy Kích. Theo phép trên, đếm từ Thủy Kích đến ngôi sát Thái Ất, được bao nhiêu toán thì đó là toán khách. Cung gián tính một nếu Thủy Kích đóng ở đó, còn các cung gián khác không tính. Cung chính thì tính biệt số của nó. Ví dụ khối âm cục 289, năm Nhâm Tý, Thủy Kích ở Khôn, Thái Ất ở Tốn. Đếm: Khôn biệt số bảy, Dậu sáu, Kiền một, Tý tám, Cấn ba, Mão bốn. Cộng lại được hai mươi chín. Vậy toán Khách Đại Tướng là hai mươi chín, và an tại cung Tốn chín.
Hai Tham Tướng
Tham Tướng còn gọi là Tiểu Tướng. Ngôi của Chủ Tham Tướng tìm bằng cách lấy số cung của Chủ Đại Tướng nhân với ba. Nếu số thành quá mười thì bỏ hàng chục lấy số đơn. Ví dụ khối âm năm Nhâm Tý, Chủ Đại Tướng ở cung năm nên Chủ Tham Tướng cũng đóng cung năm. Ngôi của Khách Tham Tướng cũng làm như vậy: lấy số cung của Khách Đại Tướng nhân ba. Năm Nhâm Tý, Khách Đại Tướng ở cung chín, chín nhân ba bằng hai mươi bảy, bỏ hàng chục lấy bảy, nên Khách Tham Tướng ở cung Khôn bảy.
Ngũ Phúc: bốn mươi lăm năm dời một cung
Ngũ Phúc có hai phép tính. Phép thứ nhất dùng số tích năm từ Trung Cổ Giáp Dần đến năm cầu xem. Lấy hai trăm hai mươi lăm mà trừ dần, số dư dưới hai trăm hai mươi lăm là số vòng, rồi đem chia cho bốn mươi lăm, vì mỗi cung Ngũ Phúc ở bốn mươi lăm năm mới đi sang cung khác. Ngũ Phúc có năm cung theo thứ tự Kiền một, Cấn hai, Tốn ba, Khôn bốn, cung giữa năm; năm cung nhân bốn mươi lăm thành hai trăm hai mươi lăm năm một vòng.
Ví dụ năm Đinh Mùi 1787. Từ Trung Cổ Giáp Dần đến năm ấy tích được 14.394 toán. Chia cho 225 được sáu mươi ba vòng, dư 219. Lấy 219 chia cho bốn mươi lăm được bốn, dư ba mươi chín. Vậy Ngũ Phúc đã đi bốn cung, nay đang ở cung giữa được ba mươi chín năm, còn thiếu sáu năm nữa mới đủ bốn mươi lăm. Với năm Đinh Mão 1987, tích tuế là 14.594, chia cho 225 được sáu mươi bốn, dư 194, lấy 194 chia bốn mươi lăm được bốn, dư mười bốn, nên Ngũ Phúc đã vào cung giữa được mười bốn năm. Với năm Nhâm Tý 1972, tích tuế là 14.579, chia 225 được sáu mươi bốn, dư 179, chia bốn mươi lăm được ba, dư bốn mươi bốn. Ngũ Phúc đang ở cung Khôn bốn đã bốn mươi bốn năm, còn một năm nữa sẽ sang cung giữa.
Phép thứ hai lấy tích tuế từ Thượng Cổ Giáp Tý cộng với số doanh sai 125, khử bằng 225. Số dư dưới 225 lấy bốn mươi lăm mà rút, khởi Kiền, Cấn, Tốn, Khôn, giữa, bốn mươi lăm năm dời một cung.
Quân Cơ: ba mươi năm dời một ngôi
Nền Vua, tức Quân Cơ, chuyển thuận qua mười hai vị, cứ ba mươi năm mới dời một vị. Mỗi vòng ba mươi nhân mười hai thành ba trăm sáu mươi năm. Cách tính: lấy tích tuế từ Trung Cổ Giáp Dần đến năm cầu việc, khử bằng ba trăm sáu mươi, số dư lấy ba mươi mà rút, khởi từ Ngọ đi thuận mười hai vị. Ví dụ năm Đinh Mùi 1787: tích tuế 14.394 chia 360 được ba mươi chín, dư 354, chia ba mươi được mười một, dư hai mươi bốn. Quân Cơ ở Tỵ đã hai mươi bốn năm. Còn một phép khác: lấy tích tuế từ Thượng Cổ Giáp Tý cộng doanh sai 250 rồi khử bằng 360, sau đó bằng ba mươi như trên. Nếu tính theo Kể Ngày thì lấy số ngày tích từ Giáp Tý đầu sau Đông Chí đến ngày sinh, cộng 250, rồi khử như thế.
Năm Đinh Mão 1987: tích tuế 14.594, chia 360 dư 194; chia ba mươi được sáu, dư mười bốn. Quân Cơ đang ở vị thứ bảy được mười bốn năm, tức đóng ở Tý. Năm Mậu Dần 1998: vòng kỷ dư 315 cộng 250 được 565, dư 205 sau khi trừ 360, rồi chia ba mươi được sáu, dư hai mươi lăm. Quân Cơ ở Tý đã hai mươi lăm năm, còn năm năm nữa sang Sửu.
Thần Cơ: ba năm dời một ngôi
Thần Cơ có hai cách tính. Cách thứ nhất lấy tích tuế từ Trung Cổ Giáp Dần tới năm cầu, khử bằng 360, số dư lại khử bằng tiểu chu 36. Số dư nhỏ hơn 36 và lớn hơn ba thì lấy ba mà rút, và số thu được khởi từ Ngọ đi thuận mười hai chi. Năm Đinh Mão 1987: 14.594 dư 194, chia 36 được năm dư mười bốn, chia ba được bốn dư hai. Vậy Thần Cơ ở vị thứ năm đã hai năm. Từ Ngọ thuận tới Tuất là đủ số, nên Thần Cơ ở Tuất đã hai năm. Cách thứ hai dùng vòng kỷ dư cộng với số doanh sai 250, rồi khử 360, 36 và ba, kết quả cũng ra Tuất. Thần Cơ cứ ba năm mới rời một cung.
Dân Cơ: mỗi năm một cung
Dân Cơ cứ một năm dời một cung. Cách thứ nhất dùng tích tuế từ Thượng Cổ Giáp Tý, hay vòng kỷ dư, cộng với 250 rồi trừ cho 360, số dư dùng 12 mà khử, số dư khởi từ Tuất đi thuận mười hai vị. Năm Nhâm Tý: 289 cộng 250 trừ 360 còn 179, chia mười hai được mười bốn dư mười một, đếm từ Tuất thì rơi vào Thân. Vậy Dân Cơ ở Thân. Năm Đinh Mão: dư 194, chia mười hai được mười sáu dư hai, nên Dân Cơ tại Hợi. Cách thứ hai dùng tích tuế từ Trung Cổ Giáp Dần, khử 360 rồi 12, số dư khởi Tuất; năm Đinh Mão cũng ra Hợi.
Tứ Thần, Thiên Ất, Trực Phù, Địa Ất
Bốn sao đi cùng một nhịp nhưng bước đầu của mỗi sao lệch nhau vài cung.
Bộ sao Tứ Thần gồm bốn sao: Tứ Thần, Thiên Ất, Trực Phù và Địa Ất. Cả bộ cứ ba năm rời một vị, vòng sao là 36. Lấy vòng kỷ dư của năm cầu việc trừ dần cho 36, số dư đem rút ba. Tứ Thần khởi từ cung chính một, đi xuôi qua một, hai, ba, bốn, năm, sáu, bảy, tám, chín, rồi Tỵ, Thân, Dần. Tỵ là Giáng Cung, Thân là Minh Đường, Dần là Ngọc Đường. Ví dụ năm Tân Dậu, tích tuế 10.155.718, dư 118; chia 36 được ba vòng dư mười; chia ba được ba, dư một. Tứ Thần vào cung bốn, tức Mão, đã một năm, còn hai năm nữa, tức đến Giáp Tý sẽ vào cung giữa. Năm Nhâm Tý, vòng kỷ dư 289 chia 36 được tám dư một, nên Tứ Thần ở Kiền một năm đầu. Năm Đinh Mão, 304 chia 36 được tám dư mười sáu; mười sáu chia ba được năm, dư một, nên Tứ Thần ở cung Dậu sáu, một năm.
Thiên Ất đi theo cách như Tứ Thần, nhưng chuyển sau Tứ Thần năm cung, tức khởi từ sáu, bảy, tám, chín, Tỵ, Thân, Dần, một, hai, ba, bốn, năm. Năm Nhâm Tý, dư một, Thiên Ất ở Dậu một năm. Năm Đinh Mão, dư mười sáu, chia ba được năm dư một, vào ngôi thứ sáu, nên Thiên Ất đóng tại Thân.
Trực Phù chuyển xuôi, khởi từ năm, sáu, bảy, tám, chín, Tỵ, Thân, Dần, một, hai, ba, bốn. Năm Nhâm Tý, 289 chia 36 được tám dư một, Trực Phù khởi từ năm nên ở cung giữa một năm. Địa Ất tính theo lệ như Thiên Ất, nhưng khởi từ chín, Tỵ, Thân, Dần, một, hai, ba, bốn, năm, sáu, bảy, tám.
Thanh Long, cờ đỏ và cờ đen
Thanh Long, con Rồng Xanh của Thái Tuế, tìm bằng cách lấy số tích từ Giáp Tý đến năm cầu, trừ dần cho sáu mươi, số không hết thì khử bằng vòng mười hai. Số dư khởi từ cung Hợi đi thuận mười hai thần, mỗi năm rời một vị, hết số thì được cung của Thanh Long; một vòng gồm mười hai số. Năm Đinh Mão, vòng kỷ dư 304 chia sáu mươi được năm dư bốn, khởi từ Hợi thuận tới Tý, Sửu, Dần là bốn số, nên Thanh Long đóng tại Dần. Riêng các năm Tỵ và năm Hợi thì Thanh Long đóng tại Tuất.
Khí Cung Xích Kỳ, tức Cờ Đỏ, tính bằng vòng kỷ dư cộng một, trừ dần cho bốn mươi, số không hết thì trừ cho bốn. Số dư khởi từ Hợi chuyển ngược qua bốn cung gọi là bốn mạnh, gồm Hợi, Thân, Tỵ, Dần, mỗi năm rời một cung. Năm Đinh Mão: 305 chia bốn mươi được bảy, dư hai mươi lăm; chia bốn được sáu, dư một, nên Cờ Đỏ ở Hợi. Các năm Tỵ, Hợi thì Cờ Đỏ ở Thân.
Thái Âm Hắc Kỳ, tức Cờ Đen, tính bằng vòng kỷ dư cộng thêm hai mươi lăm toán âm dương doanh sai, khử bằng ba mươi sáu, số không hết thì lấy ba mà rút nếu số dư nhiều hơn ba. Khởi từ Hợi đi ngược mười hai thần vị, cứ ba năm rời một cung. Năm Đinh Mão được chín vòng, dư năm; rút ba được một, dư hai, nên Cờ Đen đóng tại Tuất đã hai năm. Cờ Đen và Cờ Đỏ chuyển chậm hơn toán: hết một nguyên chúng chưa trở lại điểm đầu, thậm chí hết năm nguyên cũng chưa trở lại điểm đầu.
Nguồn: Nguyễn Bỉnh Khiêm, Thái Ất thần kinh.
