Bài tổng quan
Hỗn Thiên Giáp Tý, Lục Thân, Thế Ứng, Động Biến Và Phép Chọn Dụng Thần
Trước khi đoán được quẻ, phải an được quẻ: nạp địa chi, định lục thân, xác định Thế Ứng, phân biệt hào động với hào biến, rồi chọn Dụng thần. Hỗn Thiên Giáp Tý cho bảng nạp địa chi vào quẻ nội và quẻ ngoại của tám cung, còn Lục Thân Ca dùng ngũ hành bản cung để định năm loại lục thân. Hào Ứng luôn cách hào Thế hai vị trí. Mỗi lục thân chủ một loại việc: Phụ Mẫu là cha mẹ, nhà cửa, văn thư; Quan Quỷ là công danh, chồng; Thê Tài là vợ và của cải. Từ Dụng thần lại xác định Nguyên thần, Kỵ thần và Cừu thần. Hai quẻ Càn biến Tiểu Súc và Hoán biến Tụng cho thấy thiếu thuyết tham hợp quên sinh thì khó nhìn thấu cát hung và ứng kỳ.
Hỗn Thiên Giáp Tý
Chương 4: Hỗn Thiên Giáp Tý
- Càn tại quẻ nội: Tý thủy, Dần mộc, Thìn thổ.
- Càn tại quẻ ngoại: Ngọ hỏa, Thân kim, Tuất thổ.
- Khảm tại quẻ nội: Dần mộc, Thìn thổ, Ngọ hỏa.
- Khảm tại quẻ ngoại: Thân kim, Tuất thổ, Tý thủy.
- Cấn tại quẻ nội: Thìn thổ, Ngọ hỏa, Thân kim.
- Cấn tại quẻ ngoại: Tuất thổ, Tý thủy, Dần mộc.
- Chấn tại quẻ nội: Tý thủy, Dần mộc, Thìn thổ.
- Chấn tại quẻ ngoại: Ngọ hỏa, Thân kim, Tuất thổ.
- Tốn tại quẻ nội: Sửu thổ, Hợi thủy, Dậu kim.
- Tốn tại quẻ ngoại: Mùi thổ, Tị hỏa, Mão mộc.
- Ly tại quẻ nội: Mão mộc, Sửu thổ, Hợi thủy.
- Ly tại quẻ ngoại: Dậu kim, Mùi thổ, Tị hỏa.
- Khôn tại quẻ nội: Mùi thổ, Tị hỏa, Mão mộc.
- Khôn tại quẻ ngoại: Sửu thổ, Hợi thủy, Dậu kim.
- Đoài tại quẻ nội: Tị hỏa, Mão mộc, Sửu thổ.
- Đoài tại quẻ ngoại: Hợi thủy, Dậu kim, Mùi thổ.
Giả sử như xem được quẻ Thiên Phong Cấu:
Ba hào trên là quẻ Càn, Càn tại quẻ ngoại, nên là Ngọ hỏa, Thân kim, Tuất thổ.
Ba hào dưới là quẻ Tốn, Tốn tại quẻ nội, nên là Sửu thổ, Hợi thủy, Dậu kim.
Sắp quẻ thì sắp từ dưới lên, nên khi sắp xếp ngũ hành, cũng theo trình tự từ dưới lên trên. Các quẻ còn lại cũng tương tự.
Lục Thân Ca
Chương 5: Lục Thân Ca
Càn Đoài kim Huynh thổ Phụ truyền, mộc Tài hỏa Quỷ thủy Tử nhiên.
(Tám quẻ cung Càn, tám quẻ cung Đoài đều thuộc hành kim)
Khảm cung thủy Huynh hỏa vi Tài, thổ Quỷ kim Phụ mộc Tử lai.
(Tám quẻ cung Khảm đều thuộc hành thủy)
Khôn Cấn thổ Huynh hỏa vi Phụ, mộc Quỷ thủy Tài kim Tử lộ.
(Tám quẻ cung Khôn, tám quẻ cung Cấn đều thuộc hành thổ)
Ly cung hỏa Huynh thủy vi Quỷ, thổ Tử mộc Phụ kim Tài trợ.
(Tám quẻ cung Ly đều thuộc hành hỏa)
Chấn Tốn mộc Huynh thủy Phụ Mẫu, kim Quỷ hỏa Tử Tài thị thổ.
(Tám quẻ cung Chấn, tám quẻ cung Tốn đều thuộc hành mộc)
Nghĩa là:
- Cung Càn, cung Đoài thuộc hành kim: kim là Huynh Đệ, thổ Phụ Mẫu, mộc Thê Tài, hỏa Quan Quỷ, thủy Tử Tôn.
- Cung Khảm thuộc hành thủy: thủy là Huynh Đệ, kim Phụ Mẫu, hỏa Thê Tài, thổ Quan Quỷ, mộc Tử Tôn.
- Cung Khôn, cung Cấn thuộc hành thổ: thổ là Huynh Đệ, hỏa Phụ Mẫu, thủy Thê Tài, mộc Quan Quỷ, kim Tử Tôn.
- Cung Ly thuộc hành hỏa: hỏa là Huynh Đệ, mộc Phụ Mẫu, kim Thê Tài, thủy Quan Quỷ, thổ Tử Tôn.
- Cung Chấn, cung Tốn thuộc hành mộc: mộc là Huynh Đệ, thủy Phụ Mẫu, thổ Thê Tài, kim Quan Quỷ, hỏa Tử Tôn.
Giả sử xem được quẻ Càn Vi Thiên:
Quẻ này thuộc cung Càn, nên chiếu theo ca quyết "Càn Đoài kim Huynh thổ Phụ truyền, mộc Tài hỏa Quỷ thủy Tử nhiên". Bởi vậy, hai chi thuộc hành thổ là Thìn, Tuất là Phụ Mẫu, chi Thân thuộc hành kim là Huynh Đệ, chi Ngọ thuộc hành hỏa là Quan Quỷ, chi Dần thuộc hành mộc là Thê Tài, chi Tý thuộc hành thủy là Tử Tôn.
Các quẻ còn lại cũng loại suy ra từ đó.
Thế Ứng
Chương 6: Thế Ứng
Càn Vi Thiên, Thế tại hào 6.
Thiên Phong Cấu, Thế tại hào sơ.
Thiên Sơn Độn, Thế tại hào 2.
Thiên Địa Bĩ, Thế tại hào 3.
Phong Địa Quán, Thế tại hào 4.
Sơn Địa Bác, Thế tại hào 5.
Hỏa Địa Tấn, Thế lùi về hào 4.
Hỏa Thiên Đại Hữu, Thế lùi về hào 3.
Cách hào Thế hai vị trí là hào Ứng.
Các quẻ khác cũng tương tự như vậy.
Động Biến
Chương 7: Động Biến
Sáu hào không động sẽ không biến, động ắt sẽ biến.
Hào trùng (○) vốn là hào dương, động nên biến thành hào âm. Hào giao (✕) vốn là hào âm, động nên biến thành hào dương.
Nếu hào sơ của quẻ Càn là hào động, sẽ biến thành hào âm, là quẻ Tốn.
Nếu như các hào thượng và hào hạ của quẻ Càn đều là hào động sẽ biến thành quẻ Khảm:
Nếu trong quẻ Khôn chứa hào động sẽ biến thành quẻ Khảm:
Nếu như ba hào của quẻ Khôn đều động sẽ biến thành quẻ Càn:
Ví dụ: Xem được quẻ Thủy Thiên Nhu biến Thiên Thủy Tụng:
Gieo được quẻ Thủy Thiên Nhu, đây là quẻ chính (chính quái). Biến được quẻ Thiên Thủy Tụng, đây là quẻ chi (chi quái), hay quẻ biến.
Ba hào trên là quẻ Khảm, tức Khảm là quẻ ngoại, trình tự sắp xếp là Thân kim, Tuất thổ, Tý thủy. Bởi vậy, hào 4 là Thân kim, hào 5 là Tuất thổ, hào 6 là Tý thủy.
Biến thành quẻ Càn, tức Càn là quẻ ngoại, trình tự sắp xếp là Ngọ hỏa, Thân kim, Tuất thổ. Bởi vậy nên Thân kim biến thành Ngọ hỏa, Tý thủy biến thành Tuất thổ, hào giữa không động nên không biến. Những hào được biến ra, khi sắp lục thân vẫn phải căn cứ theo ngũ hành của quẻ chính. Những quẻ khác cũng tương tự như vậy.
Dụng Thần
Chương 8: Dụng Thần
1. Hào Phụ Mẫu
Xem cho cha mẹ, lấy hào Phụ Mẫu trong quẻ làm Dụng thần.
Xem cho ông nội, ông ngoại, chú bác, cô dì, cha mẹ, phàm là những người thân thích hoặc trưởng bối bề trên của cha mẹ hoặc bằng vai với cha mẹ, cha mẹ vợ, nhũ mẫu, cha mẹ nuôi, cha mẹ kế, tất cả những người gọi là cha, mẹ, hoặc người ở xem cho chủ nhân, đều dùng hào Phụ Mẫu làm Dụng thần.
Xem về trời đất, thành trì, tường rào, nhà cửa, phòng ốc, thuyền bè, xe cộ, quần áo, đồ đi mưa, tơ lụa, vải vóc, đồ lông, cùng tấu chương, văn thư, văn chương, sách vở thư viện, văn khế đều lấy hào Phụ Mẫu làm Dụng thần. Sự vật là nhiều không kể xiết, nên phải dựa vào sự biến thông của con người. Tất cả những gì bảo vệ che chở cho thân ta, đều dùng Phụ Mẫu làm Dụng thần.
2. Hào Quan Quỷ
Xem về công danh, quan lại, sấm xét, quỷ thần, vợ xem cho chồng, đều dùng hào Quan Quỷ làm Dụng thần. Xem về gian thần, trộm cướp, tà ma, cũng lấy hào Quan Quỷ làm Dụng thần. Tất cả những sự việc có tính chất trói buộc ta đều thuộc trường hợp này.
3. Hào Huynh Đệ
Xem về anh chị em ruột, anh chị em, cô dì trong họ, anh em rể, anh em kết nghĩa, đều dùng hào Huynh Đệ làm Dụng thần.
Anh em là người ngang hàng với mình, nếu họ được đắc chí sẽ khinh khi mình, thấy tài sản ắt sẽ đến đoạt. Bởi vậy, khi xem về của cải, thì đây chính là thần cướp của; khi xem về mưu sự, thì đây chính là thần cản trở; xem về thê thiếp nô bộc, thì đây là thần chủ về hình thương khắc hại.
Xem cho anh em rể, lấy hào Huynh Đệ làm Dụng thần, lần nào cũng ứng nghiệm.
Xem cho anh chị em họ, nếu dùng hào Huynh Đệ làm Dụng thần không linh nghiệm, thì lấy hào Ứng làm Dụng thần.
Tân bình thích: Chỗ này xem mức độ thân sơ với người được dự đoán, người không thân thì lấy Ứng làm Dụng, người thân thiết thì lấy Huynh Đệ làm Dụng.
4. Hào Thê Tài
Xem về thê thiếp, nô bộc, người dưới, phàm là những người bị ta điều khiển, đều lấy hào Thê Tài làm Dụng thần. Xem về hàng hóa, của cải, châu ngọc, vàng bạc, kho tàng, tiền bạc, lương thực, tức những vật dụng thiết yếu cho bản thân ta, đều lấy hào Thê Tài làm Dụng thần.
5. Hào Tử Tôn
Xem về con trai, con gái, con rể, cháu nội cháu ngoại, đồ đệ, phàm là ở vai con cháu, đều lấy hào Tử Tôn làm Dụng thần.
Xem về tôi trung, tướng tài, thầy thuốc, thuốc thang, sư sãi, đạo sĩ, binh lính, đều lấy hào Tử Tôn làm Dụng thần. Xem về gia cầm, gia súc, chim chóc, cũng lấy hào Tử Tôn làm Dụng thần.
Tử Tôn là thần chủ về phúc đức, chủ về chế ngự ma quỷ, chủ về giải trừ ưu phiền, nhưng lại cũng là thần chủ về bãi quan giáng chức. Bởi vậy mới gọi Tử Tôn là phúc thần, mọi sự gặp Tử Tôn đều là tốt lành, duy chỉ có xem về công danh là không nên gặp.
Tân bình thích: Trên đây trình bày những ý nghĩa thường gặp của lục thân, người mới học có thể hiểu rõ những ý nghĩa này là đã đủ dùng. Nhưng nếu muốn đoán quẻ một cách xuất sắc, thì chỉ nắm vững những ý nghĩa trên đây vẫn là chưa đủ. Đối với Thê Tài, trong dự đoán bệnh tật, Thê Tài có thể đại diện hô hấp, máu, nước mắt, phân và nước tiểu, kinh nguyệt, tinh dịch, trứng, rằm, lông tóc, tủy,... Những ý nghĩa này đều đã được tôi nghiệm chứng từng cái một ở trong thực tiễn. Tạm thời lấy những ý nghĩa trên đây làm kiến thức nhập môn, rồi sau này mới nghiên cứu sâu hơn.
Dụng Thần, Nguyên Thần, Kỵ Thần, Cừu Thần
Chương 9: Dụng Thần, Nguyên Thần, Kỵ Thần, Cừu Thần
Dụng thần: Tức là các loại Dụng thần đã đề cập đến ở chương trên.
Nguyên thần: Hào sinh ra Dụng thần là Nguyên thần.
Kỵ thần: Là hào khắc Dụng thần.
Cừu thần: Là hào khắc chế Nguyên thần, khiến không thể sinh Dụng thần, lại sinh ra Kỵ thần, mà khắc hại Dụng thần.
Nếu như kim là Dụng thần, sinh ra kim là thổ, nên thổ là Nguyên thần; khắc kim là hỏa, nên hỏa là Kỵ thần. Khắc thổ sinh hỏa là mộc, nên mộc là Cừu thần.
Bất kể là xem chuyện gì, trước tiên cần phải xác định hào nào là Dụng thần. Khi đã tìm ra Dụng thần, cần phải xem có được vượng tướng hay không? Có Nguyên thần động để sinh vượng, trợ giúp hay không? Có Kỵ thần động khiến cho bị khắc hại hay không?
Ví dụ: Vào ngày Mậu Thân tháng Thìn, xem về bệnh mới mắc của cha, được quẻ Càn Vi Thiên biến Phong Thiên Tiểu Súc.
(Quẻ gốc bản cung thuộc Kim; Không Vong: Dần, Mão.)
Có người mang quẻ này đến hỏi ta rằng: "Bệnh gần gặp xung sẽ khỏi, quẻ này là quẻ lục xung, thế nhưng cha tôi bệnh rất nặng, nhờ ông xem giúp đến ngày nào sẽ khỏi bệnh?"
Ta đáp rằng: "Quẻ này có tổng cộng ba hào Phụ Mẫu Thìn thổ, Mùi thổ, Tuất thổ, cần chọn hào vượng tướng làm Dụng thần. Nay có Phụ Mẫu Thìn thổ gặp Nguyệt kiến, vậy lấy hào Thìn thổ làm Dụng thần. Bệnh đang rất nặng, là vì Nhật thần xung Dần mộc khiến Dần mộc ám động khắc Thìn thổ."
Người này bèn hỏi: "Trong quẻ này Ngọ hỏa phát động, Dần mộc tuy ám động nhưng lại sinh ra Ngọ hỏa, để Ngọ hỏa sinh thổ. Trong sách xưa có viết: Kỵ thần và Nguyên thần cùng động, thì sẽ được hai sinh. Nhưng nay ông chỉ quan tâm đến Dần mộc khắc Thìn thổ, mà không nói đến Ngọ hỏa sinh Thìn thổ, là tại sao?"
Ta bèn đáp rằng: "Ngọ hỏa tuy động hóa thành Mùi thổ, nhưng Ngọ lại hợp với Mùi, Ngọ hỏa tham hợp mà quên sinh Thìn thổ, nên ở đây Thìn thổ chỉ bị khắc bởi Dần mộc, mà không được Ngọ hỏa tương sinh. Bởi vậy mà bệnh tình trầm trọng, cần đợi đến ngày Sửu xung mất Mùi thổ, khi đó Ngọ hỏa không còn hợp để tham hợp, nên sẽ sinh mộc, tai họa sẽ lui."
Quả nhiên đến ngày Sửu khỏi bệnh.
Tân bình thích: Ví dụ này phân tích rất hay, nếu không biết thuyết tham hợp quên sinh, thì sẽ không nhìn thấu cát hung trong quẻ, càng không thể phán đoán chính xác ứng kỳ. Qua ví dụ này nên hiểu rõ cách dùng tham hợp quên sinh.
Ví Dụ Tham Hợp Quên Sinh
Ví dụ: Ngày Nhâm Tý tháng Dậu, một người gieo quẻ đoán phong thủy nhà ở, được quẻ Phong Thủy Hoán biến Thiên Thủy Tụng.
(Quẻ gốc bản cung thuộc Hỏa; Không Vong: Dần, Mão.)
Khi người này lấy quẻ này hỏi sức khỏe của vợ. Tôi nói với một học viên: "Anh tập đoán thử xem."
Vị học viên nhìn quẻ một lúc rồi nói: "Sức khỏe của vợ anh ta rất tốt, không có bệnh."
Tôi nói: "Anh đoán chưa đúng, vợ anh ta có bệnh, sao nói là sức khỏe tốt được? Anh xem như thế nào?"
Vị học viên trả lời: "Dụng thần hào Tài vượng tướng, không có gì khắc nó nên đoán như vậy."
Tôi nói: "Để tôi đoán tiếp nhé." Tôi quay sang nói với người gieo quẻ: "Vợ anh có bệnh nhũ tuyến tăng sinh và viêm phụ kiện."
Đối phương trả lời: "Quá đúng, vợ tôi có khối u trong vú, thường hay đau bụng." Học viên không hiểu liền hỏi lý do nhận định như vậy.
Tôi đáp: "Đoán sức khỏe của vợ anh ta thì nhìn hào Tài, hào 4 Tử Tôn động mà hóa ra Huynh Đệ Ngọ hỏa tương hợp với hào động, đây là tham hợp quên sinh, không sinh tức là có bệnh. Hào 4 là ngực, Tài là ẩm thực, cũng có thể hiểu là sữa, Tử Tôn là Nguyên thần có thể hiểu là vú. Lâm Câu Trần, Câu Trần là sưng trướng, vì vậy là nhũ tuyến tăng sinh. Hào 3 cũng ám động mà hợp Tử Tôn Mùi thổ, hào 3 Ngọ hỏa là Thai địa của Tử Tôn, Tử Tôn chủ con cái, Thai địa chính là chỗ mang thai, lại hào 3 là tử cung và khoang chậu, lâm Chu Tước, Chu Tước chủ viêm, vì vậy đoán có viêm phụ kiện."
Đây chính là chỗ huyền diệu của tham hợp quên sinh. Lý là cố định bất biến, nhưng khi đoán quẻ thì cần linh hoạt biến thông.
Nguồn: Tăng San Bốc Dịch – Dã Hạc lão nhân (Vương Hồng Ứng bình thích)
