Bài tổng quan
Tù, tính, đề, hiệp và lẽ vượng suy theo mùa của các sao
Một vị tướng ngồi cùng cung với Thái Ất thì bị coi là bị giam, một ngôi sao hầu cận đứng chung chỗ thì bị coi là bị chặn. Nhưng thế xấu đến mấy cũng còn phải xem đang là mùa nào, vì sao nào được lệnh của mùa thì mới biết nó mạnh hay yếu…
Mục lục · 9 phần
- 01Tù và tính: giam kẻ nắm quân, chặn người giữ lệnh
- 02Đối và cách: người nấp sau lưng và kẻ ngăn giữa đường
- 03Đề và hiệp: kẹp trước, kẹp sau
- 04Tứ quách cố và thế đóng mãi: cánh cửa không chịu mở
- 05Đề chấp: có cửa lành mà vẫn không mở được đường
- 06Tám chữ vượng, tướng, thai, một, tù, tử, hưu, phế
- 07Thiên Mục sát Thái Ất: trăm việc chùn lại
- 08Ngày giờ mang lệnh của mùa
- 09Năm tướng và năm hành theo mùa
Một vị tướng ngồi cùng cung với Thái Ất thì bị coi là bị giam, một ngôi sao hầu cận đứng chung chỗ thì bị coi là bị chặn. Hai thế ấy, cộng với những thế kẹp trước kẹp sau của sao Thủy Kích và Văn Xương, quyết định ngôi vua hay ngôi tướng sẽ gặp họa. Nhưng người xưa dặn rằng thế xấu đến mấy cũng còn phải xem đang là mùa nào, vì sao nào được lệnh của mùa thì mới biết nó mạnh hay yếu.
Tù và tính: giam kẻ nắm quân, chặn người giữ lệnh
Văn Xương và Bốn Tướng ở chung một cung với Thái Ất thì mang hai tên khác nhau. Nếu Bốn Tướng, tức Đại Tướng và Tham Tướng của hai bên chủ khách, đứng cùng cung với Thái Ất thì gọi là tù, nghĩa là bị giam. Nếu Văn Xương đứng cùng cung với Thái Ất thì gọi là tính, nghĩa là bị chặn.
Tù mà rơi vào chỗ khí tuyệt thì vua băng ngay. Tù ở ngôi âm tuyệt hay dương tuyệt thì tể tướng, soái tướng bị giam ngay ngày ấy. Hung nhất là khi tù hay tính rơi trúng Kể của năm, vì khi ấy có chuyện thoán giết. Vua lo thoán giết, tướng bị giam thì chạy thua.
Nếu Đại Tướng, Tiểu Tướng và Thái Ất hợp với nhau mà mưu, gần Văn Xương thì mưu bên trong nhiếp quyền, gần Thủy Kích thì mưu bên ngoài thông tin với nhau. Toán hòa thì việc thành, toán không hòa thì thua đau. Khi bên chủ bị tù mà bên khách bị đối, hay khi Văn Xương bị tù mà Thủy Kích bị cách và đứng vào cung Thái Ất, thì bên khách thắng. Ngược lại khi bên khách bị tù mà bên chủ bị đối thì bên chủ thắng.
Thế tính thì khác. Khi chủ, khách và tướng đột nhiên đứng cùng một ngôi, Văn Xương chặn lấy ngôi ấy thì người ta phải coi chừng phòng bị, vì tướng ghét thế tính. Nếu thế tính nổi lên sau thì hung, nếu ra quân trước thì mới gặp điều hay. Khi Đại Tướng, Tiểu Tướng bên khách phạm vào Văn Xương thì nói là khách tính chủ, bên chủ gặp tai ương. Khi Đại Tướng, Tiểu Tướng bên chủ bị Thủy Kích cai quản thì nói là chủ tính khách, bên khách khốn khổ. Ở những chỗ ấy người xưa dặn xem toán hòa hay không, độ dài ngắn của toán, rồi phân lường các thế hưu, tù, vượng, tướng trong cung. Nếu họa xâm vào Kể năm và gặp thế tính thì vua ngồi ngôi hư, phải dùng tướng quân thay mình.
Đối và cách: người nấp sau lưng và kẻ ngăn giữa đường
Có những thế không đứng cạnh nhau mà nhìn thẳng vào nhau, và có những thế đứng giữa như một bức tường.
Khi Văn Xương, Đại Chủ, Đại Tiểu đứng đối xung với Thái Ất, người xưa gọi là đối. Đối báo bề tôi đang giữ lòng họa, bậc trên đuổi bỏ người tài lương, quan lại gian trá, kẻ dưới dối vua.
Khi Đại Khách, Tiểu Khách và Thủy Kích chen vào phía trên Thái Ất thì gọi là cách. Việc bí mật bên trong lẫn việc binh nhung đều dính vào thế này. Trên dưới cách biệt như bị giam, chính sự đổi thay, bề tôi bên trong khinh nhờn, thậm chí trộm vua. Kẻ ở ngoài biên thì ngạo mạn, mầm loạn lớn dần. Phép vua và chính sự chẳng được lợi gì. Nếu cách rơi vào Kể của năm thì hung nguy. Cái đáng lo nhất là thua vì toán không hòa.
Đề và hiệp: kẹp trước, kẹp sau
Đứng trước Thần hai cung thì gọi là đề. Đứng sau Thần hai cung thì gọi là hiệp, hoặc đề hiệp. Nếu Thủy Kích và Văn Xương cùng hiện ra thì cái chết đến rất nhanh. Văn Xương, Thái Ất, Thủy Kích mà hiệp ở chủ khách thì khách phải nhận phần hung. Hai, bốn của Thái Ất và chủ khách mà gặp nhau, nếu hiệp vào Thái Ất thì tướng mất mạng liền. Nếu toán không hòa thì họa đến.
Khi cửa đủ, tướng phát thì mưu thành. Khi Thủy Kích, Văn Xương, hai Mắt và cả Bốn Tướng bị hiệp thì có hai viên tướng mưu mô. Nếu chỉ một Mắt và một Tướng bị hiệp thì gọi là hiệp bại, phải lo âu. Nếu chủ khách, Thái Ất, Thủy Kích và Văn Xương chen nhau thì cùng mưu đuổi giết người bất ngờ. Nếu hai hoặc bốn của Thái Ất cùng đứng với nhau, hoặc đề hiệp Thái Ất ở dưới thần, thì có người giết vua. Toán không hòa thì phải chịu nạn thừa.
Khi Thủy Kích, Văn Xương và Mắt, hoặc cả Bốn Tướng giành nhau, hai phía hiệp lấy nhau thì mưu hại nhau lẫn nhau. Từ cung một đến cung bốn, bên chủ tuy bị đề hiệp mà rồi vẫn có công chiến. Từ cung chín đến cung sáu, bên khách tuy bị đề hiệp mà vẫn dùng việc chiến chinh được. Khi hiệp vào thế tù ở nơi khí tuyệt thì binh đi đều xấu, cả chủ lẫn khách dùng binh đều hung. Nếu Thủy Kích hiệp Văn Xương về sau thì bên khách thắng. Nếu hiệp Thái Ất sau thì bại, ở trước thì chỉ phải lo âu. Nếu Văn Xương và Đại Tướng, Tiểu Tướng hiệp Thủy Kích thì bên khách lưu vong. Còn bên chủ mà bị tù bị bách thì bên khách sầu tương, nguy.
Tứ quách cố và thế đóng mãi: cánh cửa không chịu mở
Khi Thủy Kích cùng cung với Thái Ất, Đại Tướng, Tiểu Tướng chặn nhau, Văn Xương và Thái Ất, Đại Tướng chủ cũng chặn nhau, thì người xưa gom lại gọi là tứ quách cố, nghĩa là bốn vòng thành cứng. Các sao ấy đứng sát nhau mãi, chẳng chịu dời cung nào. Mọi việc muốn thành công đều khó, nếu gặp Kể năm thì thêm nạn binh đao, nên phòng ngừa nghiêm.
Nếu Tham Khách và Thiên Mục cùng cung, Tham Chủ và Địa Mục cùng cung rồi cứ chuyển vần như vậy; nếu Văn Xương lại thêm tù, bách, ếm, tính, thì đều gọi là thế đóng mãi. Ai gặp thế này cũng gian truân vô cùng.
Đề chấp: có cửa lành mà vẫn không mở được đường
Có một thế gọi là đề chấp, gắn với Thái Ất, cửa Mở, cửa Sống, thế hợp và thế xung. Khi Trực Sự gặp cửa Sống, cửa Mở, nhưng cung của Thái Ất không hợp cũng không xung thì thành thế đề chấp. Còn hợp mà gặp được cửa cát bên trong, nhưng tướng lại ngồi cửa Đổ, cửa Tử và cửa đối xông thì năm ấy hung càng thêm hung. Làm gì cũng xấu, chớ nghĩ đến chuyện đưa quân đi.
Tám chữ vượng, tướng, thai, một, tù, tử, hưu, phế
Cùng một ngôi sao, mùa này làm vua mà mùa khác phải đi làm tù nhân.
Mọi việc xem trong Kể giờ đều phải lấy địa chi của giờ ấy làm chuẩn. Nếu ếm, đối, bách, cách vật vờ trong giờ thì việc cầu muộn không xứng lòng. Nếu Văn Xương ếm Thái Ất thì người đi xa không yên. Nếu tính, tù, khách, ếm thì tai họa sinh ra. Nếu cửa đủ, toán hòa, tướng phát thì trăm điều đều tốt lành.
Từ đó người xưa chia ra tám chữ, đặt vào tám cung của tám quẻ: vượng, tướng, thai, một, tù, tử, hưu, phế. Cũng gọi theo lối nôm là mạnh, khá, thai, mất, giam, chết, thôi, bỏ. Tám tiết khí chia nhau chữ vượng. Lập xuân thì vượng ở cung tám, tướng ở cung ba, thai ở cung bốn, một ở cung chín, tù ở cung hai, tử ở cung bảy, hưu ở cung sáu, phế ở cung một. Đến xuân phân thì vượng ở cung ba, tướng ở cung bốn, và cứ thế thuận chiều: thai, một, tù, tử, hưu, phế.
Khi Thiên Mục, tức Văn Xương, chảy qua nơi nào thì tám chữ ấy báo nghĩa ấy. Đứng ở đất vượng thì gặp nhiều tốt lành. Đứng ở đất tướng thì có việc tranh giành, nhưng nếu Văn Xương đứng vào đó thì việc lành tốt. Đứng ở đất thai thì có việc sinh sản. Đứng ở đất một thì sợ chìm đắm, kỵ ngày qua sông. Đứng ở đất tù thì bị giam cấm, hình tội, chuyện lo buồn, nhưng nếu Thái Ất và Văn Xương đối xung tới nơi ấy thì lại có ân xá. Đứng ở đất tử thì có chuyện chôn cất. Đứng ở đất hưu thì lo bệnh tật, mọi việc không nên. Đứng ở đất phế thì thay đổi nhiều lần, thường sinh lo sợ.
Khi Thái Ất rơi vào các cung này thì cũng diễn theo ý trên. Vào cung mạnh thì nói về việc mới, vào cung phế thì nói về việc cũ, kèm cả việc thay đổi. Vào cung thai thì có việc sinh sản, vào cung một thì lo về điều đề phòng, đi thuyền nên cẩn thận thuyền đắm, vào cung chết thì lo chuyện chết chóc trong nhà. Cửa đủ, tướng vượng thì muôn việc đều cát. Nếu không thì mọi việc chẳng thông dòng.
Thiên Mục sát Thái Ất: trăm việc chùn lại
Khi Thiên Mục ếm Thái Ất thì mọi việc như chinh chiến, xây dựng, mua bán, trăm việc đều chịu thua thiệt, không lợi. Nếu cửa đủ, tướng phát, âm dương hòa thì trăm việc đều lành. Nếu cửa không đủ, tướng không phát, toán không hòa thì trăm việc đều hung. Có lúc âm dương hòa mà cửa không đủ, hoặc ba cửa đủ mà toán không hòa; khi ấy không nên quyết vội mà phải nghe ngóng tin tức rồi mới suy.
Thiên Mục đứng ngay bên cạnh Thái Ất thì người định đi xa nên hoãn, vì chẳng yên. Khi bên khách cắp bên chủ thì đều không lợi, còn khi bên chủ bị ngăn giam thì cái ác nảy ra liên tiếp. Người xưa còn phân biệt đối tượng của hai thế này. Chủ cắp khách và ngăn khách có thể nói về hàng quan mà không nói về hàng dân. Khách cắp chủ và ngăn chủ có thể nói về hàng dân mà không nói về hàng quan, tức các bậc tam công, tể phụ, khanh, đại phu.
Ngày giờ mang lệnh của mùa
Mỗi năm có năm hành, mỗi hành có một mùa làm chủ: đông, tây, nam, bắc và giữa. Bốn mùa lần lượt nhận lệnh, thế nên người xưa dặn khi xét lành dữ phải xem sao nào vượng, sao nào tướng, sao nào sinh. Được thế vượng, tướng, sinh thì thắng. Gặp khí chết thì thua quân. Chẳng hạn ba tháng mùa thu, phương Tây tức cung Dậu được khí. Quân giữ phương ấy mà tiến công thì thắng. Còn phương Đông tức cung Mão là nơi khí chết trong mùa thu, quân đóng ở đó sẽ tan, thua lớn.
Năm tướng và năm hành theo mùa
Thái Ất thuộc Mộc, vượng ở ba tháng xuân. Thủy Kích thuộc Hỏa, vượng ở ba tháng hạ. Văn Xương thuộc Thổ, vượng ở bốn quý, tức mười tám ngày cuối mỗi mùa. Đại Tướng bên chủ thuộc Thủy, vượng ở ba tháng đông. Tham Tướng bên chủ thuộc Mộc, sinh ở mùa đông và vượng ở mùa xuân. Đại Tướng bên khách thuộc Kim, vượng ở mùa thu. Tham Tướng bên khách thuộc Thủy, sinh ở mùa thu và mạnh ở mùa đông.
Năm tướng ứng năm hành, tùy bốn mùa mà rõ lành dữ. Hai quân dàn trận giữa đồng, bên nào được khí sinh thì thắng, bên nào gặp khí chết thì bại.
Nguồn: Nguyễn Bỉnh Khiêm, Thái Ất thần kinh.
