Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Ứng dụng

Bài tổng quan

Quẻ tiền, chức vụ, người đi xa và ngoại lệ Mộ, Phá, Không

Bói Dịch - Ứng dụng02/10/202611 phút đọc2 lượt đọc
Quẻ tiền, chức vụ, người đi xa và ngoại lệ Mộ, Phá, Không

Tiền về ngay trong ngày, rồi đến ngày Dần lại mất hết. Cũng một quẻ nhận chức mà tháng này được, tháng Tỵ lại hao. Những quẻ có thật ấy cho thấy mỗi kiểu hào Thế hóa ra Tài hay Huynh đều có một cái kết riêng…


Thế lâm Huynh hóa Tài: tiền về trong ngày, mất đi ở ngày Dần

Có những quy tắc nghe trừu tượng nhưng chỉ cần một quẻ thật là thấy rõ. Ngày Giáp Tuất, tháng Hợi, có người hỏi về một khoản tiền đang kỳ vọng, không biết có về hay không. Quẻ lấy được là Trạch Sơn Hàm hóa Trạch Địa Tụy.

Huynh Thân Kim trì Thế. Theo lẽ thường, Huynh đứng ở Thế thì tiền khó giữ. Nhưng may thay Thế lại động hóa thành Tài, hào chính không khắc hào biến, và Tài này được Nguyệt sinh, lại được Nhật hợp. Vì vậy tiền đắc tài ngay trong ngày. Kết quả đúng là người hỏi nhận được khoản tiền ngay hôm đó. Tuy nhiên, đến ngày Dần, tiền lại mất đi, vì Dần xung hào Huynh Thân Kim đang rơi vào tuần không.

Quẻ nhận chức: được trong tháng, hao ở tháng Tỵ

Một ví dụ khác là người hỏi có được nhận chức mới trong công ty do sếp xin nghỉ hay không. Ngày Canh Thân, tháng Thân, quẻ là Sơn Địa Bác hóa Phong Địa Quan. Thế động hóa thành Quan, nên người này được nhận chức trong tháng, nhờ có Nguyệt hợp. Nhưng đến tháng Tỵ lại có hao tổn. Cũng trong quẻ ấy, Tài hóa Phụ, nên hỏi về giấy tờ thì chắc chắn có; hỏi xin việc lâu dài cũng có, nhưng đó là việc phải nộp, tức là tốn tiền. Trường hợp này giống quẻ về khoản tiền, chỉ khác ở chỗ khi xin việc thì phải tốn kém mới xin được.

Gần với việc ấy là câu hỏi của một người đang học kỹ thuật và có định hướng học xong thì sang Nhật làm việc theo hình thức thực tập. Ngày Bính Thìn, tháng Ngọ, người hỏi muốn biết có đi được theo hướng này không. Bản thân người này đã chủ động đi tìm riêng nhưng bất thành, vì Tài đứng ở Thế mà âm động, còn Phụ Mẫu, tượng của giấy tờ, thủ tục, bị Nhật khắc lại nhập Mộ ở Nhật, nên không có hy vọng. Nhưng may là Tài động hóa Phụ ở nội quái, hào biến không bị Nhật Nguyệt khắc. Vì vậy đoán rằng có một người quen, là nữ, giới thiệu việc làm. Ứng kỳ vào tháng Tý, tức tháng mười một âm lịch, vì Phụ Mẫu Tý Thủy bị Nguyệt phá, đến tháng Tý thì Phụ được trực. Kết quả đúng như vậy: người hỏi đã đi tìm nhiều tháng không được, vừa có người quen giới thiệu việc nhưng có tốn kém, đến tháng mười một âm thì có tin được nhận.

Huynh biến Tài, Quan biến Huynh, Tử biến Quan

Từ những quẻ trên rút ra một vài quy luật nhỏ. Huynh biến Tài, hỏi tiền thì ắt có. Nhưng nếu hỏi việc xa thì tiền có mà tự tiêu hết chứ không giữ được, ứng vào lúc hào Tài.

Quan biến Huynh không hẳn là tượng bị lừa gạt như lối luận cũ vẫn nói. Chỉ khi Quan lâm Huyền Vũ ở hào Thế mới là bị lừa; lâm Chu Tước thì là tượng thị phi. Từ đó mà suy ra các trường hợp khác. Cũng vậy, tìm anh em mà Quan hóa Huynh thì không phải tượng anh em chết, mà là tượng gặp mặt, vì Thế hóa Huynh. Có người hỏi về em mình đã bỏ nhà đi mấy ngày, không biết có sao không, có về không. Ngày Nhâm Dần, tháng Tỵ, quẻ là Thiên Hỏa Đồng Nhân hóa Thiên Thủy Tụng. Thế hóa Huynh Đệ nên đoán hôm nay có tin, ngày Tỵ, Ngọ sẽ về, vì Huynh đứng ở Trường sinh tại Nhật, ngày Tỵ Ngọ trực hào Huynh thì ắt về. Kết quả là chiều hôm ấy có người thấy người em ở Nha Trang, gia đình tìm đến nơi thì đúng ngày Ngọ gặp được.

Tử Tôn biến Quan thì nếu hỏi công danh là tượng nghỉ rồi lại có, hoặc có rồi lại nghỉ, tùy thứ tự trước sau của địa chi. Ngoài ra đó còn là tượng sinh bệnh trong lúc làm việc, bệnh gì thì tùy ngũ hành của quẻ mà định, còn chữa thì theo hào Tử Tôn mà hành. Tử hóa Quan hay Quan hóa Tử đôi khi báo điềm chết, nhưng cũng có khi báo việc vượt qua tai họa, lo lắng, nhất là với phụ nữ sắp sinh. Nên định tâm trạng của người hỏi mà xét đoán để tránh sai lầm.

Từng có hai trường hợp cùng ra một quẻ Sơn Phong Cổ hóa Sơn Thủy Mông. Một người đến hỏi việc sinh nở thì bị hư thai. Người kia thì lo lắng vì con mình đang gặp rắc rối, và may như trời giúp, đến hôm sau không biết vì lý do gì mà thoát được. Vì vậy điều quan trọng nhất vẫn là biết người hỏi muốn gì.

Vẻ đẹp của một quẻ đầu tư: nhìn tính người rồi mới nhìn tiền

Ngày Tân Hợi, tháng Dậu, một bạn trẻ đến hỏi về việc đầu tư một dự án mới. Quẻ lấy được là Lôi Thiên Đại Tráng hóa Khôn.

Cách xét bắt đầu từ người hỏi, chứ chưa vội đến tiền. Bạn này tuy là nữ nhưng tính quyết đoán, nhanh nhẹn, có chút nóng nảy, nói nhanh, nhưng biết giữ lễ nghĩa với những người xung quanh. Năng lực hiện tại thì chưa sẵn sàng hoàn toàn cho việc này. Bên cạnh có một người phụ giúp, da trắng, mặt sáng sủa, giữ chữ tín, nhiệt tình nhưng nội tâm hay nghĩ ngợi. Ngoài ra còn có nhà cung cấp thứ ba. Sau khi người hỏi xác nhận đúng cả, mới đi vào luận đoán.

Thổ suy lại bị Nhật khắc, Tuyệt tại Nhật, nên sẽ có hiện tượng chỉ muốn bỏ ngang trong giai đoạn đang làm, lại còn bị cục Tài xung khắc. Nhưng Tài động hóa Không nên chuyện tiền bạc thời gian đầu chưa có, đến sau mới tốt. Hỏi về kinh doanh lâu dài, Tài khắc xung nghĩa là tuy vẫn có tiền nhưng sẽ gặp họa do tiền gây ra. May thay quẻ Lục xung hóa Lục hợp, vạn sự khởi đầu nan, sẽ thành công ở giai đoạn sau, tức là từ tháng Dần trở đi. Ngoài ra Phụ Mẫu đang trì Thế, Thế khắc Nguyên thần động, ắt sẽ có chuyện bất hòa và không vừa ý với người làm chung. Tài tuy vượng nhưng lại hóa Tiết, tiền không giữ được mà phải hao, hao vì đầu tư hay vì việc nhà thì phải phân giải. Lời khuyên là đừng nóng vội, đừng nản chí, rồi sẽ ổn cả.

Khi quy tắc có ngoại lệ: Mộ, Phá, Không gặp xung hợp

Quy tắc nào trong Dịch cũng có chỗ lệch. Ba chỗ dễ vấp nhất là Mộ, Phá và Không khi gặp xung hoặc hợp.

Lấy ngày Thìn, tháng Tuất làm ví dụ. Thủy sẽ không tính là Mộ ở Nhật, vì lúc này Nguyệt đã xung Thìn là chỗ Mộ của Thủy, nên Mộ không còn. Suy ra cùng ngày ấy với Hỏa, nếu trong quẻ có Tuất âm động thì Hỏa cũng không bị tính là Mộ ở hào động, vì Nhật đã xung chỗ Mộ ấy. Nói chung, Mộ rơi vào hào động hoặc hào biến mà hào đó bị Phá hay bị xung thì không còn xem là Mộ nữa.

Cũng có một trường hợp cá biệt về Mộ: Nhật Nguyệt khắc hào Mộ đang Hưu, dù đó là hào biến. Ví dụ ngày Canh Dần, tháng Tỵ, Tỵ động hóa Tuất. Tuất là Mộ của Hỏa, nhưng Tuất khi ấy đang Hưu lại bị Nhật khắc, nên chỉ tính là hóa Tiết chứ không tính hóa Mộ. Còn khi gặp ngày Thân hoặc ngày Tỵ, Thổ ở Trường sinh tại Thân hoặc vượng tại Tỵ, thì Tuất không còn là Hưu tù nữa.

Với Phá, nếu gặp ngày hợp thì không tính là Phá. Chẳng hạn ngày Mão, tháng Thìn: Tuất được Nhật hợp nên không xem đây là hào Phá, mà xét như một hào Thổ bình thường đang lâm Nguyệt kiến. Ngày Thìn, tháng Tuất cũng tương tự. Với xung Không cũng vậy, nhưng khác với hợp ở chỗ: ngày xung Không chỉ xung được khi hào bị xung đang vượng, hoặc ít nhất còn có khí. Riêng hào biến thì chỉ cần xung là được. Ví dụ ngày Mậu Dần, tháng Hợi, quẻ Ích hóa Tiệm, cục Thủy đã thành vì tuy hào biến tại Thế rơi vào Không, nhưng may được Nhật xung nên thành cục.

Có lúc Dụng thần ở hào biến chỉ báo thời điểm của sự việc, hoặc một điểm trong chuỗi sự việc liên tục, chứ không báo độ vượng suy của cả chuỗi. Vì thế cần hỏi rõ người hỏi muốn biết điều gì. Âm động thì báo việc đang xảy ra hoặc ứng kỳ ngay trong ngày, nên phải hỏi cho rõ quy mô thời gian của sự việc rồi mới đoán.

Cuối cùng, nếu ngày xung hào đang bị hợp thì hợp không còn là hợp. Nguyệt xung là Phá, nhưng hào vẫn phải chờ đến lúc trực hợp thì việc mới thành. Ví dụ quẻ Cấu hóa Càn trong tháng Ngọ, vẫn phải chờ đến ngày, tháng, năm, giờ Tý, Sửu thì việc mới nên.

Lối bốc phệ trong lời Phan Kế Bính

Bốc phệ, hay bốc Dịch, hay còn gọi dân dã là xem quẻ Kinh Dịch, là gì? Có thể mượn lời của Phan Kế Bính trong cuốn Việt Nam Phong Tục (1913–1914) để tỏ tường:

Lối bốc phệ khởi đầu từ vua Phục Hy. Ngài xem tượng Hà Đồ mà vạch ra tám quẻ: Càn, Đoài, Ly, Chấn, Tốn, Khảm, Cấn, Khôn, gọi là tám quẻ chính. Mỗi quẻ chính lại nhân ra thành tám quẻ trùng quái, tám lần tám thành sáu mươi tư quẻ. Mỗi quẻ trùng quái có sáu nét vạch gọi là sáu hào, sáu mươi tư quẻ tổng cộng ba trăm tám mươi tư hào. Trong ba trăm tám mươi tư hào ấy, mỗi hào biến động lại hóa thành quẻ khác, nên khái quát được hết vạn vật trong trời đất. Mà vạn vật trong trời đất không gì ra ngoài âm dương ngũ hành, nên phép bốc quẻ chỉ dùng âm dương ngũ hành mà đoán được hết mọi việc.

Sau Phục Hy, vua Văn Vương đặt ra thoán từ, tức lời đoán cho từng quẻ. Chu Công đặt ra hào từ, tức lời đoán cho từng hào. Đức Khổng Tử đặt ra thập dực, tức lời giải nghĩa các thoán từ của Văn Vương và Chu Công, từ đó các nhà bói toán cứ theo lời ấy mà đoán quẻ.

Phép bói Dịch ban đầu chỉ có hai loại là bói cỏ thi và bói mai rùa. Về sau các nhà âm dương suy diễn ra thêm các phép xem theo giờ, theo tiếng, chiết tự, và cái nào đúng thì dùng cái đó. Có một phép là Kim tiền bốc, tức xem quẻ bằng đồng xu âm dương, do ông Kinh Phòng đời Hán đặt ra. Về sau ông Dã Hạc thêm bớt để tính tượng, nên còn được gọi là phép bói Dã Hạc. Phép này giản tiện hơn các cách khác nên người ta dùng nhiều, nhất là các thầy bói chuyên về phép này.

Phép bói ấy cần ba đồng xu. Người xem hỏi việc gì như tiền tài, công danh thì nói cho thầy bói biết, thầy bói chỉ cách gieo quẻ. Ba đồng cùng ngửa gọi là Trùng, ba đồng cùng sấp gọi là Giao, một sấp hai ngửa gọi là Đơn, hai sấp một ngửa gọi là Sách. Mỗi lần gieo là một hào: Trùng là Thái dương, Giao là Thái âm, Đơn là Thiếu dương, Sách là Thiếu âm. Sáu lần gieo thành một quẻ, rồi dựa vào động tĩnh mà xét. Sáu hào được gắn với năm loại việc là Phụ Mẫu, Thê Tài, Quan Quỷ, Tử Tôn và Huynh Đệ mà đoán, và dùng cả quan hệ ngũ hành sinh khắc: Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy, Thủy lại sinh Mộc; Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim, Kim lại khắc Mộc. Cần nhất là Thế, Ứng và Dụng thần. Mình xem việc gì thì Thế là mình, Dụng thần là việc cần xem, còn Ứng là người ngoài.

Xem quẻ còn phải xem nhật thần, tức ngày, và nguyệt tướng, tức tháng. Hễ nhật nguyệt sinh phù, vượng trợ cho mình là tốt, hình xung khắc hại là xấu. Lại xem việc mình cầu: xem công danh thì xét hào Quan Quỷ, xem tiền tài thì xét hào Thê Tài. Việc mình cầu được sinh vượng thì hay, phải hình xung khắc hại thì xấu.

Nhiều người rong chơi cùng Dịch từ lúc còn đầu xanh, đến giờ đã chớm bạc. Trong tuổi thanh xuân, cũng có biết bao thăng trầm, mà quẻ vẫn là một ván bài để người ta tìm ra câu trả lời.

Nguồn: Vi Nhất Sơn, Bốc Dịch Đại Toàn.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Ứng dụng