Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Ứng dụng

Bài tổng quan

Quẻ mệnh: tiền bạc, anh em và tâm trạng suốt một đời

Bói Dịch - Ứng dụng02/10/202612 phút đọc2 lượt đọc
Quẻ mệnh: tiền bạc, anh em và tâm trạng suốt một đời

Có người cả đời vui với con số, có người chỉ yên khi được học, và quẻ lập từ ngày giờ sinh nói được điều đó từ rất sớm. Nó còn cho biết ai hay lưỡng lự, ai loay hoay mất phương hướng cho tới một năm nào đó…


Quẻ mệnh: lập theo ngày giờ sinh và cách xem trọn một đời

Quẻ mệnh được lập gần giống quẻ theo giờ: lấy theo ngày, tháng, năm và giờ sinh. Khác một chỗ là Chi của năm sẽ được thay bằng Can của năm. Chẳng hạn năm Bính Ngọ, Bính có thứ tự là 3, chứ không lấy Ngọ với thứ tự là 7.

Về cách xem, quẻ mệnh xem nhiều Dụng thần nhưng không xem đồng thời. Từng thân trong Lục thân đều có nghĩa, mỗi thân coi như một Dụng thần riêng, và quan hệ giữa Thế với Dụng, giữa hào động với nhau, được dùng để xác quyết từng mảng của đời người. Trừ trường hợp đặc biệt khi đã hình thành Quan cục hoặc Tài cục.

Phép xem một đời xem trọn sáu hào. Sáu hào này biểu hiện những điều nổi bật mà bản thân người ấy để tâm suốt đời. Chẳng hạn Huynh đệ trì Thế thì anh em là điều người ấy luôn nghĩ tới. Có người Huynh đệ lại không hiện, không nhất thiết người ấy không có anh em, mà có thể anh em có đó như vô hình. Nguyên tắc xem quẻ mệnh chú trọng vào sự xuất hiện của hào, và sự xuất hiện của hào sinh hào Thế, tức Nguyên thần của Thế. Xem Lục hào cho mệnh thì thứ nhất là tiền, thứ hai là biết điều gì hữu hình, những thứ vô dụng cũng như không.

Nếu một mối quan hệ tồn tại trong quẻ mà bị Nhật xung hoặc Nguyệt xung, chưa nói đến vượng suy, đã báo ly tán. Ly tán không nhất thiết là chia xa bên ngoài, ly tán trong lòng cũng là chia ly. Phụ mẫu xung là cha mẹ, Huynh đệ xung là anh em, Tử tôn xung là con cái, Tài xung là vợ, Quan xung là chồng, cứ thế mà xét. Nếu hào ấy không có trong quẻ thì không xét Phục, vì không có thì đừng cố làm gì.

Cuộc đời không nhất thiết phải bất hạnh như thế. Nếu không đủ nhóm hào để xét, có thể theo địa chi: một chi nào ổn mà sinh hợp với Thế thì có thể xem đó là cứu cánh của đời người.

Tài và Tử tôn: bốn cách giữ hay không giữ được tiền

Cùng một cặp Tài và Tử, vượng suy khác nhau cho ra bốn kiểu người trước đồng tiền.

Tài cục là thế người phát tài về tiền khi Tài và Tử tôn cùng hiện. Tài vượng thì Tử tôn cũng nên vượng, vì Tử vượng biểu thị người giữ được tiền. Nhưng điều quan trọng hơn là phải sinh Thế, hợp Thế, hoặc Thế sinh Tài. Tùy từng vị trí mà biết người ấy với tiền ra sao.

Giả sử Tài trì Thế: dù vượng hay suy, dù có Tử tôn vượng, cả đời đều chịu ảnh hưởng vì tiền. Dù giàu đến đâu mà là đàn ông thì kèm theo nỗi sợ vợ, vì Tài trong quẻ mệnh còn đại diện cho vợ. Tài trì Thế với đàn ông, kiểu nào cũng sợ vợ, vượng hay suy đều vậy, bao năm chưa thấy sai.

Tử vượng, Tài vượng: đều là người cả đời bỏ công chơi với tiền. Nếu Tài động thì tiền cuốn mình đi, cũng chẳng hay ho gì, nhưng với góc nhìn chủ quan của người ấy, họ thấy chơi với tiền là vui.

Tài vượng, Tử suy, Tử trì Thế: nếu tĩnh thì là tượng có tiền nhưng người kém quá, nếu vô căn thì sống chẳng lâu. Nếu Tài động mà không kiềm chế được thì sẽ chết vì tiền cuốn mình đi.

Tử vượng, Tài suy, Tử trì Thế: tiền chẳng quan trọng, chỉ hiềm khi Huynh đệ động, cả đời bị người lừa mất tiền. Nếu chỉ tĩnh, không ai động sinh khắc, cứ nhàn nhã mà sống, vì làm Quan thì cũng tự bỏ. Nếu Tài động, lâu lâu tiền cũng cuốn mình theo. Quan động thì phải chịu những chuyện chín đời, vì Cừu thần động.

Tử động, Tài suy, Tài trì Thế: coi như cuộc đời hay được giúp đỡ, tùy nội hay ngoại quái mà biết sự giúp ấy đến từ trong nhà hay ngoài ngõ. Cuối đời vẫn được con thương, và nội ngoại cho biết con gần hay xa.

Nếu Tử tôn vượng gia Thanh Long trì Thế thì tiền chỉ còn là trục quy chiếu cho những khái niệm khác, không cần bận tâm. Nếu xét sang chuyện vợ chồng, Tử sinh Thế, nếu là đàn ông thì tuy sợ vợ nhưng cũng lắm người yêu, có thể vì giàu, vì lý do này lý do khác, nhưng đó là người đào hoa. Nếu Tử phục dưới Thế lâm Tài thì là người biết suy tính trước sau, vượng suy của Tử cho biết tính xa hay tính gần. Nếu Quỷ phục, tức Tiết, là người lo nhiều hơn nghĩ.

Nếu Tài tự vượng trì Thế thì một tay xây cơ đồ, chẳng nhờ ai, nhưng sẽ cô đơn. Quan hệ xã hội thì xem Ứng: Ứng vượng suy là bạn nhiều hay ít, sinh hay khắc Thế cho biết thế giới này ghét hay thương mình. Người có Tài, Tử vượng thì nên kinh doanh; nếu chưa có điều kiện thì nên học kinh doanh theo cách của mình, đừng theo ai cả.

Huynh, Phụ và những mối duyên xuất hiện trong quẻ

Có anh em như tay chân, có anh em như bóng mây ngang trời.

Người có Tài trì Thế còn có những bất hạnh riêng. Nếu Phụ mẫu và Huynh đệ đều hiện thì cuộc đời cô độc ngay trong gia đình mình: khắc Phụ, mà Huynh cũng khắc mình. Không hiện thì không tính. Quẻ mệnh có điều thú vị: hiện mới tính, còn không thì lướt qua. Cũng như có những người anh em như thể tay chân, nhưng cũng có người như bóng mây ngang trời, chẳng sao.

Hào động cũng nên lưu ý. Chẳng hạn Huynh đệ sinh Thế, tuy gần anh gần em, nhưng đó cũng là thân khắc Tài, nên người giúp mình cũng là người hại mình: cần đề phòng.

Có trường hợp cũng đáng lưu ý là hào hợp Thế. Ví dụ quẻ Tiết, Thế khắc Phụ nhưng Thế cũng hợp với Phụ, xem như việc tíu tít sớm ngày với cha mẹ nhưng cũng có điều không vừa ý. Nhân vô thập toàn, ai cũng có lúc sai, chẳng ai đúng mãi, kể cả bậc thánh nhân, nói chi đến bố mẹ. Nếu con người không bao giờ sai thì đã thành chủ nhân vũ trụ từ lâu.

Những hiện tượng khác cũng cần ghi nhớ. Tử tôn trì Thế thì cuộc đời hay gặp may. Quỷ trì Thế thì hay gặp điều đen đủi. Quỷ trì Thế hóa Tử thì gặp họa mà qua. Huynh ở hào biến là anh em khác dòng. Tử ở hào biến là con nuôi. Tử hóa Quỷ là có con mất. Phụ trì Thế thì cả đời đừng giữ tiền. Phụ mẫu trì Thế mà nghĩ về tiền thì sẽ thấy mình bất hạnh. Tài xung Thế thì tiền hay rơi đâu mất. Nhưng đó không phải mấu chốt của đời người, chỉ là hiện tượng.

Điều cốt lõi: tìm ra điều khiến đứa trẻ vui để chuẩn bị từ bước đầu

Có những người cả đời bị bắt leo cây, trong khi đáng ra họ bơi giỏi.

Điều cốt lõi nhất của quẻ mệnh là biết tương lai con mình cần gì để cảm thấy vui, để cha mẹ có sự chuẩn bị cho con từ bước đầu tiên của cuộc đời. Con cái đôi khi chỉ cần bấy nhiêu.

Để biết con sẽ phát về đâu, chỉ cần xem nhóm Thế với hào 1, hào 2, gồm các cặp Tử – Tài, Quan – Phụ, Phụ – Huynh, Huynh – Tử, là biết sự tối ưu của người ấy nằm ở đâu. Từ đó tránh việc bắt cá leo cây. Ngày dài tháng rộng cá cũng có thể leo được, nhưng như thế lại phí mất ngày dài tháng rộng, mà cá cũng chẳng vui.

Cuộc đời không mấy khi lưỡng toàn kỳ mỹ. Hôm qua có người hỏi quẻ mệnh một nữ sinh năm Mậu Ngọ, tháng Mùi: Thế bị phá, Quan thoái, Tài suy lại bị Nhật xung. Tiền tài và danh đều hỏng, sức khỏe kém, anh em ly tán bất hòa, chồng cũng mất. Không phải ai cũng may mắn hơn người.

Nếu có một lời khuyên thì với người Phụ vượng, Nhật sinh Thế, nên đầu tư cho việc học. Nếu thích về một ngành nào thì cứ theo ngành ấy, ngành nào cũng được, chẳng nhất thiết phải học trên giấy; nếu khéo mà đi làm công việc đòi hỏi tay chân thì phí. Không ai là người vô dụng, tài năng đặt đúng chỗ thì gọi là may mắn; nếu không may thì cũng do chính mình mà thôi.

Trời không mấy khi bạc người. Trong tình huống cuối cùng, cứ xem những hào hiện trong quẻ, hào nào vượng thì đổi hướng theo hào ấy. Tài vượng, Tử suy thì kinh doanh dễ hơn, hoặc chơi những gì thuộc về bước sống ngắn gắn với tiền thì xem như phong lưu. Tử vượng thì theo nghề y hay nghề cứu người. Quan vượng thì đừng tự mở lối, cứ làm trong nhà người khác. Phụ mẫu vượng thì cứ học hành nghiên cứu đến cuối. Riêng Huynh đệ không phải để ăn bám anh em hay trộm cắp, mà Huynh sẽ xét theo các cặp đi kèm là Phụ hoặc Tử; bất quá có thể lấy Quan, nhưng là Quan thanh liêm.

Mười dấu hiệu về tâm trạng chủ đạo của một đời người

Khi hào Thế rơi vào một trạng thái đặc biệt, nó vẽ ra tính khí suốt đời của người ấy.

Với những tình huống hào Thế không được thuận, có thể đoán được trạng thái tâm lý chủ đạo của đời người, gồm mười điều sau.

Một: Hỏa Tuyệt thì người hay nản chí. Nếu vượng, hay gặp cảnh tuyệt xứ phùng sinh, nghĩa là sẽ có thành tựu liên quan đến hào Thế. Ví dụ Tài là tiền, nếu Tài vượng hóa Tuyệt tại Thế, thì người luôn rơi vào trạng thái tiền hết gần sạch rồi lại đầy, nhưng trước khi thành tựu xuất hiện, sẽ phải đi xuống một đoạn.

Hai: Du hồn, Quy hồn: đời người hay lưỡng lự, bất quyết.

Ba: Hào Thế là Âm thì cả đời kỵ tĩnh, nhưng không quyết đoán được.

Bốn: Hào Thế nhập Mộ thì hay gặp những cuộc bế tắc trong đời. Nếu vượng và nằm đúng lúc xung Mộ thì ổn, còn nếu suy thì cứ luẩn quẩn mãi.

Năm: Nếu hào Thế bị hào động tiết khí, thì hào động đó là gì, bản thân sẽ phải chạy theo điều ấy mãi. Ví dụ hào Tử động, khả năng là người tin theo tôn giáo và phải theo cơn mê; hào Tài thì là người nhọc công với tiền và chiều vợ. Nếu vượng thì mình vui, việc ấy cũng vui; nếu suy thì miễn cưỡng mà theo.

Sáu: Hào Thế Không thì cả đời loay hoay mất phương hướng, cho đến năm xung trực Thế sẽ tìm ra một con đường mới cho đời mình. Khoảng giữa chỉ như đi lầm lũi trong đêm.

Bảy: Hóa Thoái thì người ban đầu hùng hổ nhưng sau đó đi xuống dần. Nếu vượng thì chờ năm xung mới nguy, ví dụ Tị hóa Hợi thì sợ năm Ngọ. Nếu suy thì mệnh người ngắn ngủi.

Tám: Bị Nhật hay Nguyệt xung thì người suy nghĩ cả đời cứ vun mãi.

Chín: Nếu Thế suy thì người hỏi sẽ bệnh theo hành của hào Thế. Ví dụ Dần Mộc ở hào 2, tại âm, là đau chân phải; hoặc Mộc suy thì bệnh xương, gan, truyền dẫn thần kinh.

Mười: Hào động khắc hào Thế cũng báo về bệnh, và những tai họa trong đời sẽ liên quan đến nó. Ví dụ Tài khắc là tiền hành. Ngoài ra những năm Ứng kỳ của hào động, cần tránh địa điểm thuộc nội hay ngoại quái, và đi theo hướng ngược lại để tránh họa. Nếu Thổ ở ngoại quái, năm ấy tránh đi xa kẻo mắc nạn giao thông. Mộc ở Mão thì tránh cây gần nhà: Dần là cây nhỏ, Mão là cây to.

Lục thú, địa chi và một quẻ sinh năm 1991

Từ một hạt giống như tiền sạch hay tiền bẩn, quẻ mệnh kể ra cả những biến cố không mong.

Về những sự kiện cụ thể, cách đọc phụ thuộc vào sự thông biến của người xem. Tài lâm Thanh Long là tiền sạch. Kỵ thần lâm Huyền Vũ là tượng bị cướp. Tài lâm Phi xà là tiền bẩn; nếu còn lớn thì cẩn thận chuyện rửa tiền. Khi hỏi nguyên nhân cái chết, Phi xà lâm Mộc là treo cổ. Chu Tước ở Hỏa động thì phải tránh giận quá mất khôn. Thanh Long khắc thì cẩn thận bị gài; ở Thủy là chuyện tình ái; nếu có Tử ở hào biến thì cẩn thận có con riêng. Thổ hào 1 làm Câu Trần, nếu vượng thì dưới đất có mộ to. Sự kiện thì muôn hình vạn trạng, tùy hoàn cảnh mà mỗi người tự thông biến.

Thời điểm Ứng kỳ của Lục thân là lúc một sự kiện nổi bật xảy ra trong đời. Như tiền thì lúc nào cũng cần, nhưng lúc Ứng vào hào vượng mới là năm có gì to, vì đời người những lúc bất thường không nhiều. Với các việc xấu, thời điểm thực Không nếu Thế Không chính là lúc việc xấu xảy ra.

Ví dụ ngày 13 tháng 4 năm 1991, 13 giờ 30 dương lịch, ngày Quý Sửu tháng Mão, quẻ Cấn vi Sơn. Thế Tuần không, mà Nguyên thần động hóa Tuyệt. Đến năm 2016, tức năm Thân, cuộc đời đi xuống hẳn: năm ấy xung Không thực Thế, khiến Thế phải gánh việc Nguyên thần hóa Tuyệt mà suy.

Thế âm động là người hay đi, suy nghĩ vụn vặt. Thế động là người hay đi. Về duyên, nếu Dụng bị xung thì đều chịu cảnh mỗi người sống một nơi. Nếu vượng thì chỉ ly thân rồi lại về, nếu suy thì phải chịu cảnh đi xa.

Nguồn: Vi Nhất Sơn, Bốc Dịch Đại Toàn.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Ứng dụng