Bài tổng quan
Ngũ âm kiến vận, Thái Thiếu tương sinh và toán báo biến
Một năm Giáp là năm đàn Cung rung lên, một năm Ất là năm tiếng Thương vang tới, và mười năm của một vòng can chi thay nhau cất lên mười điệu nhạc khác nhau. Từ điệu của năm, người xưa đẩy ra can của tháng, can của giờ chỉ bằng một bài thơ năm câu. Còn con toán cuối cùng của bàn sao rơi vào điệu nào thì điệu ấy chỉ vào…
Một năm Giáp là năm đàn Cung rung lên, một năm Ất là năm tiếng Thương vang tới, và mười năm trong một vòng can chi thay nhau cất lên mười điệu nhạc không trùng nhau. Người xưa tin rằng mỗi điệu ấy gắn với một hành, một sao trời, một hơi thở của đất, và từ điệu của năm họ mới đẩy ra được can của tháng, can của giờ.
Năm âm mang tên của năm hành
Khí ở địa chi mà gọi là Mộc thì ở âm gọi là Giốc: Tỵ và Hợi là Giốc. Khí ở địa chi gọi là Hỏa thì ở âm gọi là Chủy: Sửu, Mùi, Dần, Thân là Chủy. Khí ở địa chi gọi là Thổ thì ở âm gọi là Cung: Tý và Ngọ là Cung. Khí ở địa chi gọi là Kim thì ở âm gọi là Thương: Thìn và Tuất là Thương. Khí ở địa chi gọi là Thủy thì ở âm gọi là Vũ: Mão và Dậu là Vũ. Năm âm ấy lần lượt tên là Giốc, Chủy, Cung, Thương, Vũ.
Ngũ âm theo sao trời
Có bao nhiêu màu mây chạy qua bầu trời trong ngày Đông chí thì có bấy nhiêu điệu âm được dựng lên.
Chữ Tiêu chỉ sáu vị địa chi từ Ngọ đến Hợi, từ lúc khí âm bắt đầu sinh đến lúc tuyệt, nhưng đó cũng là lúc khí dương từ chỗ vượng đi đến tuyệt. Trục Tiêu lấy ranh giới đối xung Tỵ và Hợi, ứng với số chín và số một của chín cung Thái Ất, nơi các sao chạy qua hai mươi tám vì tú. Ngũ âm đi vòng theo sao trời bằng vận khí gốc của thanh văn. Bậc thánh nhân xưa ngửng mặt xem thiên tượng vận khí và thấy như sau:
- Vào ngày Đông chí, thấy một vệt mây xanh từ phương Đông đi qua, trên hoặc dưới các sao Quỷ, Liễu, Nguy, Thất, thì lập Đinh Nhâm làm Mộc vận, thanh văn là âm Giốc.
- Thấy khí mây đỏ ở phương Nam đi qua các sao Khuê, Bích, Ngưu, Nữ thì lập Mậu Quý làm Hỏa vận, thanh văn là âm Chủy.
- Thấy khí mây vàng ở giữa trời đi qua trên hay dưới các sao Tâm, Vĩ, Chẩn, Giác thì lập Giáp Kỷ làm Thổ vận, thanh văn là âm Cung.
- Thấy khí mây trắng ở phương Tây đi qua trên hay dưới các sao Cang, Đê, Tất, Chủy thì lập Ất Canh làm Kim vận, thanh văn là âm Thương.
- Thấy khí mây đen ở phương Bắc đi qua trên hay dưới các sao Trương, Dực, Lâu, Vị thì lập Bính Tân làm Thủy vận, thanh văn là âm Vũ.
Thanh văn nghĩa là nghe ra, cùng gốc với chữ dường như vậy, chứ không phải âm thật sự vang lên. Đó là một cảm nghĩ mà phát tưởng thành tiếng.
Thái và Thiếu: thừa và hụt trong từng điệu
Mười niên can trong ngũ vận có dương và có âm. Can dương thì thái quá, can âm thì bất cập. Thái quá trong ngũ âm là Thái, bất cập trong ngũ âm là Thiếu. Cho nên mỗi vận chia ra một Thái và một Thiếu:
- Giáp, Kỷ thuộc Thổ vận, âm là Cung: dương thổ Giáp gọi là Thái Cung, âm thổ Kỷ gọi là Thiếu Cung.
- Ất, Canh thuộc Kim vận: có Thái Thương và Thiếu Thương.
- Bính, Tân thuộc Thủy vận: có Thái Vũ và Thiếu Vũ.
- Đinh, Nhâm thuộc Mộc vận: có Thái Giốc và Thiếu Giốc.
- Mậu, Quý thuộc Hỏa vận: có Thái Chủy và Thiếu Chủy.
Năm bước đẩy vận lên: Thái sinh Thiếu
Khi phân tích từng trường hợp Thái Thiếu tương sinh trong ngũ âm, người ta thấy Thái sinh Thiếu theo chiều giáng khí, tức khí của thiên đi xuống để giúp địa khí. Nếu đi ngược lên, đó là địa khí thăng lên, khí bay tỏa ở trời làm mây mưa gió. Thái để giáng, Thiếu để đẩy lên theo vòng tiêu tức. Theo luật Thái Thiếu tương sinh, ta có năm bộ thôi vận.
Lấy năm Giáp làm thí dụ. Giáp thuộc dương thổ, vận của dương thể thuộc Thái Cung. Coi Thái Cung là bản thân, từ đó đẩy lên là thôi vận lên. Nhìn ngược trở lên thì Thiếu Chủy sinh ra Thái Cung, vì hỏa sinh thổ. Thiếu Chủy lại do Thái Giốc sinh ra, vì mộc sinh hỏa. Đó là một sinh hai, hai sinh ba, đúng luật dẫn một cực ba.
Theo chiều giáng khí thì chủ vận ở sơ vận của năm Giáp là Thái Cung. Nó sinh Thiếu Thương ở nhị vận, vì thổ sinh kim. Thiếu Thương, âm kim, sinh Thái Vũ ở tam vận, vì kim sinh thủy. Thái Vũ, dương thủy, sinh Thiếu Giốc ở tứ vận, vì thủy sinh mộc. Thiếu Giốc, âm mộc, sinh Thái Chủy ở chung vận, vì mộc sinh hỏa. Những năm khác suy ra tương tự, và cả mười can nối thành một chuỗi:
- Giáp, dương thổ, Thái Cung, sinh Ất, âm kim, Thiếu Thương.
- Ất sinh Bính, dương thủy, Thái Vũ.
- Bính sinh Đinh, âm mộc, Thiếu Giốc.
- Đinh sinh Mậu, dương hỏa, Thái Chủy.
- Mậu sinh Kỷ, âm thổ, Thiếu Cung.
- Kỷ sinh Canh, dương kim, Thái Thương.
- Canh sinh Tân, âm thủy, Thiếu Vũ.
- Tân sinh Nhâm, dương mộc, Thái Giốc.
- Nhâm sinh Quý, âm hỏa, Thiếu Chủy.
- Quý sinh Giáp, dương thổ, Thái Cung, khép vòng.
Có mười thế tương sinh Thái Thiếu âm dương thì cũng có mười thế tương khắc.
Hai câu quyết ba lần ba và chín lần chín
Toàn số âm thanh được đem dùng vào công việc hằng ngày trong trời đất, muôn vật, dựa trên khí Thái Hòa nguyên khí chung đúc trong con số Thái Ất. Nhà học về âm nguyên thanh điệu coi đạo rất trung, âm rất hòa. Về số thì trọng số sáu và số chín, và cả hai phải ứng với âm dương giúp nhau, thuận hòa, làm đại số mười hai luật lã. Đại số ấy được đem dùng theo luật dẫn một cực ba của Thái Ất, và luật ấy được diễn tả theo âm luật, thanh luật qua các câu quyết bao trùm trời, đất, người, vật trong Ngũ vận lục khí. Ví như câu Tam tam điệt vân, nghĩa là ba lần ba lần lượt vần xoay, có cách nhau, có giáp nhau, có tiêu tức, thôi đẩy lên xuống. Hoặc câu Cửu cửu tương thừa, nghĩa là chín lần nhân với nhau để được chín số thiên, trong đó một đến năm là vòng trong của Hà Đồ, sáu đến mười là vòng ngoài. Từ đó rút ra số nạp giáp, nạp âm, nạp chi, và số năm được rút vào số mười để nạp Thổ trung ương diện cực. Câu kết luận chung là:
Cửu cửu Càn Khôn dĩ định.
Nghĩa là trời đất vẫn xoay, chín nhân với hai, cương và nhu. Ba lần ba lần lượt tương cách, tương giáp, âm dương cương nhu đắp đổi, và từ đó có bài thơ dùng để tính số và khởi can chi cho năm, tháng, ngày, giờ.
Bài thơ khởi can: năm, tháng, ngày, giờ
Con người ở vào địa vị giao khí giữa khí thiên ở trên và khí địa ở dưới. Âm dương can chi của năm, tháng, ngày, giờ đều đã định sẵn từ ngày giờ năm tháng của thời Thượng cổ Giáp Tý, lúc có hiện tượng giao khí của Thất diệu tổ nguyên. Vận khí của năm làm căn bản giao khí cho tháng. Vận khí của ngày làm căn bản giao khí cho giờ. Một ngày đêm có mười hai giờ. Muốn biết tháng thì lấy Dần làm tháng giêng. Muốn biết giờ thì lấy Tý làm giờ khởi đầu.
Bài thơ năm cặp can được ghi như sau, và đồng thời dùng được cho cả tháng lẫn giờ:
Giáp Kỷ hoàn gia Giáp, Ất Canh Bính tảo sơ, Bính Tân tầm Mậu khởi, Đinh Nhâm Canh Tý vi, Mậu Quý tầm Nhâm Tý.
Nghĩa là năm hoặc ngày mang can Giáp, Kỷ thì tính Giáp ở Tý. Mang can Ất, Canh thì khởi Bính ở Tý. Mang can Bính, Tân thì khởi Mậu ở Tý. Mang can Đinh, Nhâm thì khởi Canh ở Tý. Mang can Mậu, Quý thì khởi Nhâm ở Tý.
Can của tháng giêng, tháng Dần, trong mỗi năm được lấy theo cặp can năm: năm Giáp và Kỷ khởi Bính Dần làm tháng giêng. Năm Ất và Canh khởi Mậu Dần. Năm Bính và Tân khởi Canh Dần. Năm Đinh và Nhâm khởi Nhâm Dần. Năm Mậu và Quý khởi Giáp Dần. Các tháng tiếp theo cứ đếm tuần tự từ tháng Dần, hết vòng thì quay lại. Thí dụ năm Mậu Dần khởi Giáp Dần làm tháng giêng, tháng hai là Ất Mão, tháng ba Bính Thìn, tháng tư Đinh Tỵ, tháng năm Mậu Ngọ, tháng sáu Kỷ Mùi, tháng bảy Canh Thân, tháng tám Tân Dậu, tháng chín Nhâm Tuất, tháng mười Quý Hợi, tháng mười một Giáp Tý, tháng chạp Ất Sửu.
Can của giờ trong mỗi ngày cũng tính theo bài thơ ấy. Ngày Giáp hoặc Kỷ thì giờ Tý là Giáp Tý. Ngày Ất hoặc Canh thì giờ Tý là Bính Tý. Ngày Bính hoặc Tân thì giờ Tý là Mậu Tý. Ngày Đinh hoặc Nhâm thì giờ Tý là Canh Tý. Ngày Mậu hoặc Quý thì giờ Tý là Nhâm Tý. Thí dụ ngày hai mươi mốt tháng Ất Mão của năm Mậu Dần, tức ngày mười chín tháng ba năm 1998 dương lịch, là ngày Ất Sửu, thứ năm trong tuần. Theo câu Ất Canh Bính tảo sơ, giờ Tý của ngày ấy là Bính Tý, các giờ tiếp theo là Đinh Sửu, Mậu Dần, Kỷ Mão, cứ thế mà đi.
Mười can chia phận dã
Mười can còn dùng để chia vùng đất. Giáp ở phía Đông như đất Tề. Ất là đất Di. Bính là đất Sở. Đinh là đất Man, Miêu. Canh ở phía Tây như đất Tần, Tấn và Nam Di. Nhâm là đất Yên, Dực. Quý là đất Bắc Địch. Mậu và Kỷ ở trung ương, tức Trung Quốc.
Con toán ngũ âm báo biến
Con số cuối cùng của bàn Thái Ất rơi vào điệu nào thì điệu ấy chỉ vào người hoặc việc đang chịu sức nặng.
Số ngũ âm của Thái Ất sinh ở chỗ vô ảnh và thành ở chỗ hữu hình, cũng như mầm manh sinh ra lá nha. Con toán ngũ âm rút từ toán chủ ứng quẻ Ất và được xếp như sau:
- Toán số một và hai thuộc Cung, hành Thổ, tượng vua chúa, cha mẹ.
- Toán số ba và bốn thuộc Chủy, hành Hỏa, tượng tông miếu, mồ mả, núi non.
- Toán số năm và sáu thuộc Vũ, hành Thủy, tượng hậu phi.
- Toán số bảy và tám thuộc Thương, hành Kim, tượng con cháu.
- Toán số chín và mười thuộc Giốc, hành Mộc, tượng bệnh tật, dịch lệ.
Khi xét tên người, người xưa cũng dùng ngũ âm theo địa chi: Tý, Ngọ là âm Cung, Sửu, Mùi, Dần, Thân là âm Chủy, vốn có đức. Mão, Dậu là âm Vũ. Thìn, Tuất là âm Thương, vô đức. Tỵ, Hợi là âm Giốc.
Năm Kỷ Mão 619, đời Đường Cao Tổ, niên hiệu Vũ Đức thứ hai, Thái Ất đứng ở cung Khôn, Văn Xương ở Thiên Đạo, cung Mùi. Toán chủ chỉ một, thuộc Cung, tượng vua. Năm ấy yên ổn: nhà vua mới lên ngôi, thiên hạ vừa bình định xong và quy phục nhà Đường, nên chưa có biến lớn.
Năm Quý Mùi 683, đời Đường Cao Tông, niên hiệu Hoằng Đạo nguyên niên, Thái Ất đóng ở cung Cấn, Văn Xương ở Dương Đức, cung Sửu, toán chủ cũng là một. Năm ấy Thái Ất và Thái Tuế cách nhau, chủ có điềm băng vong. Ngày bốn tháng chạp, nhà vua băng hà ở Lạc Dương và bốn phía dị tộc nhân đó xâm chiếm.
Với toán ba và bốn thuộc Chủy, biến lớn nằm nơi tông miếu. Năm Giáp Thân 684, Thái Ất ở cung Cấn, số ba, cách Thái Tuế, Văn Xương ở Hòa Đức, tù, toán chủ ba không hòa. Năm ấy Võ Hậu, tức Võ Tắc Thiên, phế vị vua mới, đem em của vua lên ngôi, cung đình rối loạn.
Với toán năm và sáu thuộc Vũ, biến nằm ở hậu phi. Năm Bính Tuất 626, Thái Ất ở cung Tốn, Văn Xương ở Âm Đức, cung Kiền, toán chủ mười sáu, bỏ hàng chục lấy số đơn là sáu. Mùa thu năm ấy Lý Thế Dân, sau khi giết thái tử Kiến Thành, được lập làm thái tử rồi lên ngôi.
Với toán chín và mười thuộc Giốc, biến nằm ở dân chúng, như dịch bệnh, vì Tỵ và Hợi là âm Giốc chủ bệnh, hoạn nạn, tử tang. Năm Bính Tý 196, đời Hán Hiến Đế, niên hiệu Kiến An nguyên niên, Tào Tháo đón vua về đất Hứa, tự làm Tư Không. Thái Ất ở cung Kiền, Văn Xương ở cung Địa Chủ, Tý, toán chủ ba mươi chín, lấy số đơn là chín, tức âm Giốc. Năm ấy vua tôi đều bệnh, dân có dịch lớn, yêu tang nổi lên, thiên hạ chết vô kể.
Nguồn: Nguyễn Bỉnh Khiêm, Thái Ất thần kinh.
