Bài tổng quan
Mốc Thượng Cổ Giáp Tý, số tích tuế và vòng kỷ dư của Thái Ất
Muốn dựng một quẻ Thái Ất, việc đầu tiên là tìm ra con số của năm mình cần xem, tính từ một cái mốc có từ hàng chục triệu năm trước. Chỉ cần biết cách bỏ đi những vòng tròn đã quay xong thì sẽ còn lại một con số nhỏ dưới ba trăm sáu mươi…
Muốn dựng một quẻ Thái Ất, việc đầu tiên không phải là đặt sao mà là tìm ra con số của năm mình cần xem, tính từ một cái mốc có từ hàng chục triệu năm trước. Từ mốc ấy, người xưa xoay các ngôi sao vòng quanh bầu trời, và chỉ cần biết cách bỏ đi những vòng tròn đã quay xong thì sẽ còn lại một con số nhỏ dưới ba trăm sáu mươi, đủ để biết sao đang đứng ở đâu. Con số ấy mang tên vòng kỷ dư.
Thượng Cổ Giáp Tý: điểm xuất phát chung của các sao
Người xưa chọn một điểm xuất phát chung gọi là Thượng Cổ Giáp Tý, để lấy làm mốc gốc thời gian cho sao Thái Ất xoay quanh một vòng trời. Gọi là mốc gốc vì lúc ấy có hiện tượng bảy sao tụ hội, tức là mặt trời mặt trăng hợp bích và năm vì tinh liên châu, tất cả họp ở cung Tý. Cho nên năm, tháng, ngày, giờ, thiên chính, đông chính đều lấy cung Tý làm mốc đầu hết, và người ta gọi đó là Thượng Cổ Giáp Tý.
Các thư tịch cổ còn chép rằng đời vua Nghiêu cũng có hiện tượng bảy sao tụ hội. Vì vậy khi làm lịch pháp, người ta lấy thời điểm ấy làm Thượng Nguyên Giáp Tý. Lịch pháp của Thái Ất lấy năm Thái Ất, cùng ngày tháng giờ, theo con số gốc ấy mà gọi là Thượng Cổ Giáp Tý. Theo cách tính ấy, vua Nghiêu lên ngôi vào năm 3357 trước Công nguyên.
Tuổi Thái Ất của từng năm
Mỗi năm đi qua là thêm một con toán, và mỗi con toán ấy là một bước trên đường dài từ mốc gốc.
Từ Thượng Cổ Giáp Tý tính đến năm Nhâm Tý, tức năm 1972 dương lịch, người ta được tuổi Việt là 4851 và tuổi Thái Ất là 10.155.889. Tuổi Việt lấy năm dương lịch cộng với 2879, vì mốc của lịch Việt là năm 2879 trước Công nguyên: 2879 cộng 1972 thì được 4851. Những năm kế tiếp cứ cộng dần một toán mỗi năm. Năm Ất Mão, 1975, có tuổi Việt 4854 và tuổi Thái Ất 10.155.892. Năm Giáp Tý, 1984, có tuổi Việt 4863 và tuổi Thái Ất 10.155.901. Năm Bính Tý, 1996, có tuổi Việt 4875 và tuổi Thái Ất 10.155.913. Năm Đinh Sửu, 1997, có tuổi Việt 4876 và tuổi Thái Ất 10.155.914. Năm Mậu Dần, 1998, có tuổi Việt 4877 và tuổi Thái Ất 10.155.915. Năm Kỷ Mão, 1999, có tuổi Việt 4878 và tuổi Thái Ất 10.155.916. Năm Canh Thìn, 2000, có tuổi Việt 4879 và tuổi Thái Ất 10.155.917. Tất cả những con số ấy chỉ khác nhau đúng một toán cho mỗi năm trôi qua, nên chỉ cần nhớ một năm làm chuẩn là tính được mọi năm khác.
Đi về quá khứ thì làm ngược lại. Năm Canh Ngọ, 1570, có tuổi Việt 4449 và tuổi Thái Ất 10.155.487. Năm Tân Dậu, 1441, có tuổi Việt 4320 và tuổi Thái Ất 10.155.358. Nghĩa là mỗi năm đi tới thì thêm một toán, mỗi năm lùi lại thì bớt một toán. Khi tính nên để ý can chi của từng năm cho dễ theo dõi trong bảng bảy mươi hai khối âm dương của Thái Ất.
Số tích tuế và vòng kỷ dư
Số tích tuế, tức số tích năm, chính là con số tuổi Thái Ất: số toán tính từ điểm xuất phát chung Thượng Cổ Giáp Tý đến năm muốn xem. Ví dụ năm Canh Thìn 2000 có tích tuế 10.155.917, và năm Nhâm Tý 1972 có tích tuế 10.155.889. Từ năm Nhâm Tý đến năm Giáp Tý 1984 nếu đếm thì thành mười ba năm, nhưng chỉ cần cộng thêm mười hai toán là ra tích tuế của năm Giáp Tý: 10.155.889 cộng 12 bằng 10.155.901. Từ đó cộng thêm mười hai nữa thì được năm Bính Tý 1996, tích tuế 10.155.913. Cộng thêm một giáp nữa, đến năm Mậu Tý 2008, thì được tích tuế 10.155.925.
Các cụ ngày xưa dùng một bội số chung của nhiều sao là ba nghìn sáu trăm và ba trăm sáu mươi, rồi loại bỏ sẵn các vòng ấy cho đến khi còn một số nhỏ hơn ba trăm sáu mươi. Số còn lại được gọi là vòng kỷ dư. Điểm khởi đầu của vòng kỷ này vẫn là điểm xuất phát của các vì sao. Số ba trăm sáu mươi gọi là vòng kỷ. Mỗi vòng kỷ có năm nguyên, và năm nguyên ấy lần lượt mang tên Giáp Tý nguyên một, Bính Tý nguyên hai, Mậu Tý nguyên ba, Canh Tý nguyên bốn, Nhâm Tý nguyên năm. Mỗi nguyên có bảy mươi hai khối, tức bảy mươi hai cục, ứng với bảy mươi hai năm; năm nguyên cộng lại đúng ba trăm sáu mươi năm. Mỗi khối dùng cho một năm, một tháng, một ngày hay một giờ.
Cách tính như sau: lấy số tích tuế của năm muốn xem đem chia cho ba trăm sáu mươi, số dư là vòng kỷ dư. Với năm Đinh Mão 1987, tích tuế là 10.155.904, chia cho ba trăm sáu mươi thì không hết và dư ba trăm lẻ bốn. Nói cách khác, 10.155.904 bằng ba trăm sáu mươi nhân hai mươi tám nghìn hai trăm mười, cộng thêm ba trăm lẻ bốn. Vậy vòng kỷ dư của năm Đinh Mão là 304. Muốn tính về tương lai thì mỗi năm thêm một toán, muốn tính lùi về quá khứ thì mỗi năm trừ một toán. Từ Đinh Mão đến Mậu Dần 1998 là mười một năm, cộng 11 vào 304 thành 315. Từ năm Đinh Mão lùi về năm Nhâm Tý 1972 là mười lăm năm, trừ 15 khỏi 304 thành 289. Còn năm Canh Thìn 2000 thì vòng kỷ dư là 317. Khi cần tìm số tích ngày thì phép trừ rất dễ sai một ngày, nên phải cộng thêm một hoặc đếm từng ngày thì mới đúng.
Số âm dương doanh sai
Một số ngôi sao trong năm Thượng Cổ Giáp Tý lại không đứng đúng ở điểm xuất phát chung. Với những sao ấy thì không thể chỉ dùng vòng kỷ dư. Phải dùng số tích tuế rồi cộng thêm khoảng cách giữa sao ấy và điểm Thượng Cổ Giáp Tý. Khoảng cách ấy gọi là số âm dương doanh sai.
Trung Cổ Giáp Dần: điểm xuất phát thứ hai
Người xưa còn tính từ Trung Cổ Giáp Dần đến năm 4851 tuổi Việt. Ta dùng lịch Việt phục hồi để tính Thái Ất sẽ đỡ mệt hơn các cụ xưa, vì lịch âm mà ta quen thuộc tính theo vành trăng, thường lệch với khí trời đất; khi lệch quá nhiều phải chêm thêm một tháng, gọi là tháng nhuận, và như vậy sẽ lủng củng giữa tháng thực với tháng nhuận. Lịch Việt rất hợp với mã số can chi, vì can chi là bội số chung nhỏ nhất của chu kỳ sáu mươi.
Từ Trung Cổ Giáp Dần đến năm Nhâm Tý 1972, tuổi Việt 4851, được mười bốn nghìn năm trăm bảy mươi chín năm. Còn từ Thượng Cổ Giáp Tý đến Trung Cổ Giáp Dần cách nhau 10.141.310 năm; hai số ấy cộng lại đúng bằng 10.155.889 của năm Nhâm Tý.
Trung Cổ Giáp Dần là điểm xuất phát của một số nhỏ các vì sao, những sao không cùng xuất phát từ điểm chung Thượng Cổ Giáp Tý. Nếu dùng Trung Cổ Giáp Dần để tính những sao xuất phát từ Thượng Cổ Giáp Tý thì phải thêm số âm dương doanh sai. Hầu hết các vận hạn đều tính lịch từ Trung Cổ Giáp Dần, vì trước Trung Cổ Giáp Dần không có điều gì để kê cứu, kiểm xem vận hạn sai hay đúng. Phần lớn các sao Ngũ Phúc, Quân Cơ, Thần Cơ, Dân Cơ dùng Trung Cổ Giáp Dần cộng với số âm dương doanh sai để tính.
Hai mốc, hai cách dùng
Tóm lại, người xưa có hai cái mốc để tính. Với đa số các sao, họ lấy Thượng Cổ Giáp Tý làm gốc, tính số tích tuế rồi bỏ dần từng vòng ba trăm sáu mươi để còn lại vòng kỷ dư, từ đó biết cung sao đứng. Với một số sao khởi từ chỗ khác, họ phải cộng thêm số âm dương doanh sai. Còn với những vòng dài của vận hạn, họ không đi từ Thượng Cổ mà lấy Trung Cổ Giáp Dần làm gốc, vì từ điểm ấy trở về sau mới có chỗ để đối chiếu, kiểm chứng.
Sáu Kể của Thái Ất
Cùng một bàn sao, nhưng mỗi tầng người nhìn vào là thấy một dải việc riêng.
Thái Ất có sáu Kể: Kể Năm gọi là Tuế Kể, Kể Tháng gọi là Nguyệt Kể, Kể Ngày gọi là Nhật Kể, Kể Giờ gọi là Thời Kể hoặc Thần Kể, Kể Định hay Kể Mục hay Định Mục, và Thần Kể hay Kể Thần. Bốn Kể đầu, năm, tháng, ngày, giờ, là bốn phép xem, gọi là thuật dùng Tứ Kể. Bốn phép ấy không đồng đều, mà chia cao thấp.
Xem về năm là Tuế Kể. Đó là phép xem lành dữ trước nhất, liên quan đến quốc gia dân tộc, mà thời quân chủ thì thuộc việc của vua chúa và hoàng hậu. Nó xem cơ phát sẽ làm sáng chính hóa, sửa mới và thay đổi đức giáo, lại xét cơ phát về động tĩnh, an nguy, thịnh vong của quốc gia và vua chúa, qua bốn phương động tĩnh. Xem về tháng là Nguyệt Kể. Đó là xét lành dữ của kẻ sĩ và các bậc công khanh, xét sự được mất trong việc giúp nước, tìm ra lẽ hòa trong mối trị loạn, suy cứu sự giàu sang, còn mất.
Xem về ngày là Nhật Kể. Phép này mọi người dân gian dùng để đo lường họa phúc cho mình: dựng nghiệp lớn hay nhỏ, hưng hay suy, biết mấu chốt mà định luận không sai về vận hạn sống trong đời, sao cho hợp đạo nhà, đạo nước và đạo học, tức đạo người. Xem về thời giờ là Thời Kể. Thời giờ trong Thái Ất chú trọng con toán nhất, rồi xét các chướng ngại. Phép này dùng cho việc làm ăn hằng ngày, nhất là để xem việc binh bị, chủ khách thắng thua, nước ngoài động tĩnh, vận trù mưu kế; đặc biệt xem thiên văn đổi thay, xã hội lớn nhỏ bị ảnh hưởng về mưa nắng, bão gió, động đất, giặc cướp có ập đến hay không, và nhiều chuyện bất ngờ có thể xảy ra, đều được phép Thời Kể dự báo trước.
Ngoài bốn Kể ấy còn hai lối Kể nữa. Kể Định, cũng gọi là Kể Mục hay Định Mục, là phép tính độ số còn u minh của Thái Ất trong tương lai, và Kể Định sinh ra toán Định. Kể Thần tính độ số sở tại của Thái Ất khi đóng cung, còn là sự dung hòa giữa hai sao Văn Xương và Thủy Kích, lại là việc đo lường sự việc trời đất, nhân gian, vạn vật còn ở vòng u minh.
Lệ chung khi cho Thái Ất chuyển cung
Với cả bốn Kể, năm, tháng, ngày, giờ, lệ chung đều giống nhau: Thái Ất cứ ba số thì rời một cung, tức ba năm, ba tháng, ba ngày hay ba giờ thì rời một cung. Đều lấy Giáp Tý làm Nguyên trên. Chỉ riêng Kể Giờ mới dùng thêm khối cục âm. Dương cục khởi cung một và đi thuận, không vào cung giữa, hết vòng thì trở lại. Âm cục khởi cung chín và đi nghịch, cũng không vào cung giữa, hết vòng thì trở lại.
Nguồn: Nguyễn Bỉnh Khiêm, Thái Ất thần kinh.
