Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Ứng dụng

Bài tổng quan

Con số toán nói về vua, hậu phi, tướng quân và dân thường

Bói Dịch - Ứng dụng03/10/202610 phút đọc2 lượt đọc
Con số toán nói về vua, hậu phi, tướng quân và dân thường

Số một là nhà vua, số mười là người dân dưới, và giữa hai đầu ấy là cả triều đình. Chọn một giờ mà con số không hợp với bậc của mình thì việc lớn đến mấy cũng dễ lỡ. Nhưng con số còn kể được cả chuyện một triều đại mới sẽ đổi gì và ngôi báu sẽ dài hay ngắn…


Trong bàn Thái Ất, mỗi con số từ một đến mười dành cho một bậc người: số một là nhà vua, số mười là người dân dưới. Chọn một ngày, một giờ mà con số không hợp với bậc của mình thì việc lớn đến mấy cũng dễ lỡ. Nhưng con số không chỉ dùng để chọn giờ, vì khi nhà vua mới lên ngôi, người ta còn xem số ấy để biết chính lệnh sẽ đổi hay giữ, và ngôi báu sẽ dài hay ngắn.

Năm âm đi theo cặp số

Người xưa gom các con số thành từng cặp ứng với năm âm. Cặp một và hai thuộc cung Trời, là ngôi vua. Khi toán hòa thì khí cũng hòa theo. Năm ấy nếu không có thế tính, thế bách chen vào thì nạn tan, trời đẹp, nhà vua được nhiều phúc khánh. Trái thế thì nhiều tai họa.

Cặp bốn và ba thuộc Hỏa, âm Chủy, nói về tôn miếu. Toán hòa thì thần linh hiển ứng, tôn miếu cao đẹp. Toán không hòa mà bị bách, bị kích thì miếu đường hư hao. Cặp năm và sáu thuộc Thủy, âm Vũ, nói về con cháu, tức không ứng vào nhà vua mà ứng vào người nối dõi. Nếu không có tính, tù, ếm, bách thì toán hòa đem lại niềm vui, toán không hòa đem lại nỗi lo. Cặp chín và mười thuộc Mộc, âm Giác, nói về dân bên dưới. Thần nào ứng chiếu thì dân vui hay rầu theo thần ấy. Toán hòa thì muôn vật thịnh, bốn hạng dân đều tốt. Nếu không hòa mà gặp tù, bách thì dịch bệnh lan, đói kém, khổ sở trăm bề.

Mười con số, mười bậc người

Giữa hai đầu vua và dân còn có những con số dành cho cả triều đình.

Phép xưa đặt rõ như sau. Số một là vua ngự trên điện chính, và con số này là điềm vua lên ngôi, thịnh vượng. Số hai là thân vương, thái tử, những người dựng ngôi nối nghiệp. Số ba là bề tôi quý, ở ngôi tể phụ, cũng là người công thần được ban chức tôn vinh, và việc ấy lành khi Kể giờ có toán ba. Số bốn là thượng thư. Số năm là hoàng hậu, nên việc lập hoàng hậu chọn số này. Số sáu là phi tần. Số bảy là đại tướng quân. Số tám là thiên tướng, tức phó tướng. Từ đại phu trở xuống các quan thì dùng số chín. Số mười dành cho người dân, kẻ ở bậc thấp nhất.

Điều kiện đi kèm cũng rõ. Không bị chặn, giam, cách, đối, mà toán lại hòa thì có đủ phúc khánh. Ngược lại khi các tính, tù, bách, cách không rời khỏi thì dù số hợp cũng khó yên.

Chọn giờ: ếm, cách, ép

Việc chọn giờ cũng dựa hết vào toán. Giờ nào cùng cung với Thái Ất thì gọi là ếm. Giờ nào đối xung với Thái Ất thì gọi là cách. Cách và đối mang theo lo lắng. Chẳng hạn khi Thái Ất ở cung tám thì giờ Ngọ là cách. Khi Thái Ất ở cung sáu thì giờ Dậu là ếm, và việc hung đến rất nhanh. Giờ đứng ngay bên trái hoặc bên phải cung Thái Ất là ép, tất có thương tổn; ví dụ khi Thái Ất ở cung hai thì giờ Tỵ, giờ Mùi là ép. Nếu Thái Ất bị ép mà giờ lại không ếm, không ép thì có niềm vui nhỏ.

Tướng quốc chính: khi vua mới lên ngôi

Một triều đại mới chưa kịp đặt tên cho mình thì bàn Thái Ất đã nhìn trước được nó sẽ đổi gì.

Phép này đặt vị thần Lã Thân, tức cung Dần, lên địa chi của năm nhà vua mới lên ngôi. Rồi xem năm ấy rơi xuống dưới vị thần nào thì biết nước sẽ đổi gì. Dưới Nhóm Cả, tức cung Dậu, là năm nước đổi mới, chính lệnh thay, phong tục đổi, màu áo mặc cũng đổi. Dưới Dương Cả, tức cung Thìn, kỷ luật bị buông lơi, ách vận và binh đao họp lại. Dưới Chủ Âm, tức cung Tuất, kẻ gian giấu mưu, có tang lớn, họa lớn. Dưới Chủ Đất, tức cung Tý, lễ nghĩa mất, lời dâm tục nổi lên. Dưới Đức Võ, tức cung Thân, dời đất thay nền, xây cung dựng thất. Dưới Nghĩa Lớn, tức cung Hợi, bỏ phế, đổ gãy.

Nhanh hay chậm, gần hay xa thì lấy số can chi của năm ấy mà suy. Toán dài và hòa thì việc ứng ở xa, toán ngắn và không hòa thì việc ứng ở gần. Toán hòa dài thì năm trường, xa nhất là chín mươi năm, hoặc một trăm tám mươi năm. Toán ngắn mà không hòa thì gần là trong chín năm. Lấy ví dụ một năm Giáp Tý có vị vua mới nối ngôi: nếu toán hòa và dài thì ứng vào chín mươi năm, hoặc một trăm tám mươi năm; nếu toán ngắn và không hòa thì hoặc hai lần chín, tức mười tám năm, hoặc chỉ chín năm. Lại cần xem các vị thần Nhóm Cả, Dương Cả, Chủ Âm, Đức Võ, Nghĩa Lớn và Thần Lớn rơi vào cung nào, có bị giam, ép, kích, cắp, cách, đóng, đối hay không. Nếu có thì việc cải cách không hay, thành ra hung. Nếu Đại Thần ở nơi không có những thế ấy thì mọi hung đều lánh được, rất vui mừng.

Người phụ tá nước có hiền hay không

Muốn biết vị đại thần phụ tá nhà vua có hiền hay không, đặt Lã Thân trên ngôi Thái Tuế rồi nhìn xuống dưới Văn Xương. Nếu dưới Văn Xương là nơi khí sống, phương mạnh thì vua có phụ tướng hiền lương, đủ tài giúp nước. Nếu là đất chết, giam, thôi, bỏ thì bề tôi bên cạnh nhà vua không đáng làm người.

Với người phụ tá đến từ nước ngoài thì xem dưới Thủy Kích. Nếu dưới Thủy Kích là nơi khí sống, phương mạnh thì vị đại thần ấy trung lương, trí tuệ, kham được việc lớn của người ký thác. Nếu là đất chết, giam, thôi, bỏ thì đó là kẻ nhỏ nhen, chuyên quyền, không phải kẻ sĩ trung lương. Với tướng soái trong nước thì xem ngôi Đại Tướng chủ: ở đất sống mạnh có khí thì là bậc trung lương, trí dũng, gánh vác được việc lớn. Ở đất chết, giam, thôi, bỏ thì người ấy không trí dũng, và dưới cửa chết thì có điềm bỏ mình. Tất cả những nhận xét ấy đều lấy vị thần Lã Thân đặt trên ngôi Thái Tuế làm điểm khởi đầu.

Hán Cao Tổ và Đường Cao Tổ: hai ngôi vua dưới ánh Thái Ất

Muốn đoán ngôi báu dài ngắn, lấy bản mệnh của vị vua sáng nghiệp đặt lên năm lên ngôi, rồi xem vị thần đứng trên bản mệnh. Nếu gặp Thần Lớn, Nghĩa Lớn thì là âm trùng, số từ một đến bốn. Gặp Dương Cả, Chủ Âm là số dương, từ hai đến năm. Gặp Tùng Cao, Nhóm Cả là đối âm, từ ba đến sáu. Gặp Lã Thân, Đức Võ là dương trùng, từ bảy đến một. Gặp Đức Dương, Đạo Trời là số âm, từ tám đến hai. Gặp Chủ Đất, Oai Lớn là đối dương, từ chín đến ba. Nếu khí mạnh khá thì số nhân đôi, nếu chết bỏ thì bớt đi. Sau đó lấy năm lên ngôi đặt trên Nghĩa Lớn; khi gặp Dương Cả hoặc Chủ Âm là gặp hội ách. Từ năm lên ngôi, dương thì chạy xuôi, âm thì chạy ngược, cứ thế tích lại cho đến hội ách thì dừng. Nếu không có hội ách thì đến Thái Ất, xem số toán bao nhiêu mà đoán lành dữ.

Hán Cao Tổ có bản mệnh Giáp Dần, lên ngôi năm Ất Mùi. Đặt Giáp Dần trên cung Mùi, xét vị thần trên Dần là Lã Thân thì gặp Chủ Âm, thuộc số dương từ hai đến năm. Vì bản mệnh khắc vị thần ấy nên thành khí giam, không được nhân đôi, nên được hai mươi lăm năm. Lại lấy năm lên ngôi đặt trên Nghĩa Lớn, thấy Chủ Âm tới Dần. Từ Mùi khởi một rồi chuyển ngược qua Đạo Trời, Oai Lớn, Sáng Lớn, Tùng Cao, được mười sáu toán. Nhưng đến năm thứ mười hai, Kể của năm gặp Thái Ất ở khối sáu mươi bảy, năm Bính Ngọ, cung Thái Ất cách Chủ thì nhà vua băng hà. Lại lấy cung Mùi đặt trên Nghĩa Lớn, thấy Chủ Âm tới Dần. Về sau Vương Mãng thoán ngôi vào năm Bính Dần.

Đường Cao Tổ có bản mệnh Bính Tuất, lên ngôi năm Dần. Đặt Tuất trên Lã Thân là cung Dần. Thần trên Tuất là dương đối, từ chín đến ba. Bản mệnh gặp khí khá nên số nhân đôi hai lần chín thành mười tám. Lại đặt Dần trên Nghĩa Lớn, Dương Cả tới Sửu. Từ Dần khởi một rồi chuyển ngược về cung Cấn thì được bốn số. Khí mạnh nên nhân đôi thành tám. Đến năm thứ chín thì truyền ngôi.

Tính Kể tháng từ năm Giáp Tý

Muốn biết Kể của một tháng, người xưa bắt đầu đếm từ năm Giáp Tý của thượng nguyên cho đến năm đang dùng, xem được bao nhiêu toán. Số ấy bớt đi một toán, rồi nhân với mười hai. Cộng thêm hai toán Thiên Chính và Địa Chính. Nếu đang xem tháng năm thì cộng thêm năm toán nữa của tháng, tổng ra bao nhiêu thì đem trừ mãi cho ba trăm sáu mươi. Số còn dư thì lấy phép khối mười hai mà trừ tiếp, còn lại bao nhiêu thì đó là số toán vào cung.

Bốn góc thần định chủ khách

Muốn biết bên chủ hay bên khách sẽ được thua, người xưa xem ở Thiên Mục gần bốn góc thần nào. Khi quân ra phương Đông thì lấy Đức Âm, ngôi Kiền, làm thần mới phát. Khi ra phương Nam thì lấy Đức Hòa, ngôi Cấn. Khi ra phương Tây thì lấy Sáng Lớn, ngôi Tốn. Khi ra phương Bắc thì lấy Vẽ Lớn, ngôi Khôn. Lấy các thần ấy mà định chủ khách lúc khởi quân và lúc về quân. Xét như vậy mà dùng thì tránh được họa đổ quân.

Thái Ất đứng đầu ba nhà thuật số

Người xưa nói rằng lời của các nhà thuật số vốn nghiêm chỉnh. Sáu Kinh không có ai dẫn lối, mà các nhà tổ thì bảo là do Tiên Thái. Tiên Thái đi rồi, Sáu Kinh không ai truyền. Đạo tản mát trong mọi nhà, mỗi nhà dùng một thuật mà vận hành. Vận hợp với đạo thì nghiệm, nghiệm thì truyền lại. Trong số ấy, ba nhà truyền lại rõ nhất là Thái Ất, Lục Nhâm và Kỳ Môn, đều bảo do Tiên Sinh Tề dựng nên rồi để lại cho đời sau, nhưng chẳng khảo cứu vào đâu được.

Với Thái Ất, lý lẽ đầy đủ, hợp với thuyết của các nhà khác. Vì thế khi nói đến ba nhà thì phải lấy Thái Ất làm gốc, thống suất tất cả. Lời Thái Ất có chín, tức chín số của Lạc Thư. Những tên như chủ, khách, Đại Tướng, Tham Tướng, Thủy Kích đều dựa vào việc binh mà đặt tên. Đó là mượn việc binh để gọi năm hành, chứ không phải dùng năm hành để gọi việc binh, vì việc binh là việc thiết thực nên mới dựa vào đó mà soạn ra.

Sáu Kinh dạy rằng việc bói toán, cáo thần mình mà đã gặp lẫn rối thì làm bùa phép tế đảo là thế tất phải đến vậy. Cho nên Thái Ất chỉ giữ cho mình những phép ước lược, không dạy điều mơ hồ không rõ ràng.

Nguồn: Nguyễn Bỉnh Khiêm, Thái Ất thần kinh.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Ứng dụng