Bài tổng quan
Chương Tị Loạn Và Đào Vong: Xem Lánh Nạn Và Tìm Người Bỏ Trốn
Khi giặc giã, loạn lạc làm đời sống đảo lộn, người xưa dùng quẻ để tìm phương hướng lánh nạn và đoán sự an nguy. Tị Loạn bàn cảnh cốt nhục ly tán, sự xuất hiện của quan binh, ý nghĩa của hào loạn động và cách tùy cơ ứng biến giữa thời binh lửa. Đào Vong hướng sang một nỗi lo khác: người bỏ trốn, dù là nô tì, thê thiếp hay đạo tặc, đang ẩn ở phương nào. Từ đó, phép đoán luận về việc bắt lại người trốn, tin tức và khả năng lần ra tung tích. Một bên là mình phải chạy, một bên là tìm người đã chạy, nhưng cả hai đều xoay quanh phương hướng. Quẻ thuộc bản cung hay tha cung trở thành manh mối để biết người trốn còn ở gần hay đã đi xa.
Tị Loạn: mở đầu và câu 1–22
Tị Loạn (tránh loạn) — xem phương hướng lánh nạn, an nguy khi gặp giặc giã, loạn lạc qua quẻ Bốc Dịch.
Mở đầu
人有窮通, - 世有否泰. - 自嗟薄命運當離亂之秋, - 每嘆窮途聊演變通之易 - 因緣已驗之卦爻 - 爲決當今之賊寇
Nhân hữu cùng thông
Thế hữu bĩ thái
Tự tha bạc mệnh vận đương li loạn chi thu
Mỗi thán cùng đồ liêu diễn biến thông chi Dịch
Nhân lục dĩ nghiệm chi quái hào
Vi quyết đương kim chi tặc khấu
Người có cùng thông - Đời có bĩ thái
Tự than mệnh bạc vận số gặp lúc li loạn
Khi gặp đường cùng hãy diễn Dịch lý biến thông.
Nhân lục những quẻ đã ứng nghiệm mà đoán được giặc cướp hiện nay.
Phương của quan Quỷ và nơi bị Quan Quỷ khắc chớ có đến. Phương của Tử Tôn và nơi sinh Ta thì nên đến. Như xem ở lại chỗ cũ, được Tử Tôn chỉ sinh một mình Ta, thì ở lại nơi đáng sợ đó (chỉ chỗ đang xảy ra giặc giã hay giặc cướp). Xem bỏ đi nơi khác cũng thế. Đó là yếu chỉ của thiên này.
1.
鬼位興隆賊勢必然猖獗 - 官交墓絕人心始得安康
Quỷ vị hưng long tặc thế tất nhiên xương quyết
Quan hào Mộ Tuyệt nhân tâm thủy đắc an khang
Quỷ vị hưng vượng, thế giặc tất hung hãn,
Quan hào bị Mộ Tuyệt, lòng người mới được yên vui.
Quan Quỷ vượng tướng phát động, giặc tất hung hãn. Nếu Quan Quỷ hưu tù an tĩnh, bị Nhật thần, động hào khắc chế, tất yên ổn chẳng đáng sợ.
2.
路上如逢休出外 - 宅中如遇勿歸家
Lộ thượng như phùng, hưu xuất ngoại
Trạch trung như ngộ, vật qui gia
Trên đường nếu gặp chớ ra ngoài
Trong nhà nếu gặp chớ trở về.
Nội quái là nhà, ngoại quái là đường. Quỷ ở ngoại quái động, ra ngoài tất gặp, nên ở trong nhà. Nếu Quỷ ở nội quái động, nên trốn ở ngoài.
3.
動來刑害總教知慧也難逃 - 變入空亡若被勾留猶可脫
Động lai hình hại, tổng giao trí huệ dã nan đào
Biến nhập Không vong, nhược bị câu lưu do khả thoát
Động mà hình hại, dù có trí huệ cũng khó tránh
Nếu nhập Không vong dù bị bắt giữ cũng thoát được.
Nếu Quỷ động mà không hại Thế, dù có hung hãn, cũng không gặp họa. Nếu bị hình xung khắc hại, tất rời đi mà lánh nạn. Nếu hào Quan biến nhập Tử Mộ Không Tuyệt, tất đầu voi đuôi chuột, tất gặp hung nhưng không phải là điềm xấu.
4.
日辰制伏何妨卦裏刑傷 - 月建臨持勿謂交中隱伏
Nhật thần chế phục, hà phương quái lý hình thương
Nguyệt kiến lâm trì, vật vị hào trung ẩn phục
Nhật thần chế phục, dù trong quẻ bị hình thương nào có hại gì
Nguyệt kiến lâm trì thì chớ bảo là đang phục dưới hào.
Quan Quỷ động hình khắc Thế hào, vốn là điềm hung, nếu được Nhật thần, động hào khắc chế xung tán, đều gọi là được cứu, tất chẳng bị hại. Chỉ sợ Nguyệt kiến, Nhật thần lâm Quỷ mà hình khắc Thế hào, tuy trong quẻ không có Quỷ, cũng không tránh được tai họa.
5.
所戀者提起之神 - 所賴者死亡之地
Sở luyến giả đề khởi chi thần
Sở lại giả Tử Vong chi địa
Thích được hào đề khởi
Cậy vào ở Tử Vong (tuy trong vòng Trường Sinh có Tử, ở đây đề cập chính là Không Vong, tức Tuần Không).
Hào Quỷ phục tàng là tốt. Nếu được Nhật thần, động hào xung khai, Phi thần đề khởi, Phục thần vẫn tạo ra hại. Nếu Quan Quỷ thực Không, thực Phá mới không bị tai họa.
6.
自持鬼墓墳中不可潛藏 - 或值水神舟內猶當仔細
Tự trì Quỷ Mộ, phần trung bất khả tiềm tàng
Hoặc trị Thủy thần, chu nội do đương tử tế
Trì ở Quỷ Mộ chớ núp ở trong lăng mộ
Nếu ở hào Thủy cũng xem kỹ khi ở trong thuyền.
Hào Quan Quỷ nhập Mộ, phát động hình khắc hoặc trì Thế Thân là như nói trên. Phàm gặp như thế không thể trốn trong lăng mộ. Gặp Mộc Quỷ thì không trốn ở trong bụi cỏ, gặp Thủy Quỷ không trốn ở trong thuyền, Kim Quỷ không thể trốn ở chùa miếu, Hỏa quỷ không thể trốn ở nơi lò đúc, lò rèn…
7.
子交福德北宜行 - 午象官交南勿往
Tí hào Phúc đức bắc nghi hành
Ngọ tượng Quan hào nam vật vãng
Tí hào là Tử Tôn thì nên đi về phương Bắc
Ngọ hào là quan Quỷ thì tránh đến phương Nam.
Phương của Quan Quỷ là nơi ra vào của giặc nên tránh, phương của Tử Tôn là nơi giặc không đến thì nên đến đó.
8.
鬼逢冲散何須剋制之鄉 - 福遇空亡莫若生扶之地
Quỷ phùng xung tán, hà tu khắc chế chi hương
Phúc ngộ Không vong, mạc nhược sinh phù chi địa
Quỷ gặp xung tán, cần gì tìm phương khắc chế
Phúc gặp Không vong, thì không bằng ở phương sinh phò.
Phương của Tử Tôn vốn tốt vì có chế Quan Quỷ, nếu phát động thì lấy phương này. Nếu Phúc tĩnh, Quan động mà trong quẻ có hào xung tán Quan, thì lấy phương xung tán này là tốt, vì có là hào có thể dùng được. Nếu Tử Tôn lâm Không Phục, suy tĩnh, bị chế mà hào Quỷ không bị xung tán thì nên lấy phương sinh Thế, hợp Thế là tốt.
9.
旺興內卦終來本境橫行
Vượng hưng nội quái, chung lai bản cảnh hoành hành
Vượng hưng ở nội quái, kết cục là hoành hành ngay tại địa phương.
Phàm xem giặc cướp có đến địa phương ta không, nếu Quan tại nội quái của quẻ phát động, tất sẽ đến. Tại ngoại quái cung khác thì không xâm phạm ta. Nếu trì Thế lâm nội quái thì đến ngay nhà của ta, ở ngoại quái lâm hào Ứng thì tuy đến mà không vào nhà ta. Cũng kỵ lâm Quái thân.
10.
動化退神必往他鄉摞掠
Động hóa Thoái Thần tất vãng tha hương phiêu lược
Động hóa Thoái Thần tất đi cướp phá nơi khác.
Hào Quan phát động nếu hóa Thoái Thần, thì sẽ đi cướp phá nơi khác. Nếu hóa Tấn Thần, giặc sẽ ào đến nên trốn gấp.
11.
官運旺福動生身反凶爲吉
Quan vận vượng Phúc động sinh Thân, phản hung vi cát
Quan động, Phúc động sinh Thế, hung trở thành cát.
Hào Quan phát động khắc Thế tất gặp hại. Nếu hóa xuất Tử Tôn khắc Quỷ, hoặc Tử, Tài động đi sinh hợp Thế Thân, tất nhiên họa lại thành phúc.
12.
陽化陰財刑剋世弄假成眞
Dương hóa âm Tài hình khắc Thế, lộng giả thành chân
Dương hóa âm Tài hình khắc Thế, giả lại thành thật.
Quan hào phát động không thương khắc Thế, mà ngược lại bị Tài động khắc Thế, tất vì tham tiền của mà bị hại.
13.
賊興三合交中必投陷井
Tặc hưng tam hợp hào trung, tất đầu hãm tỉnh
Giặc nổi lên trong tam hợp cục, tất nhảy vào hố vào giếng.
Sợ nhất là động thành tam hợp Quỷ cục, tất chủ giặc bốn phía hợp lại, tuy muốn tránh cũng không tránh được. Quẻ có hai hào Quỷ đều động khắc Thế, cũng cần tam hợp thành Huynh cục, thân tuy vô sự mà tài vật đều mất, thành tam hợp Phụ cục thì thận trọng với con trẻ; tam hợp Tài cục sinh hợp Thế tất chủ cha mẹ thất tán; tam hợp Tử cục khắc chế hào Quỷ là tốt nhất.
14.
身在六旬空處終脫樊籠
Thân tại lục Tuần Không xứ, chung thoát phiền lung
Thân ở Không vong của 6 Tuần (Lục thập hoa giáp gồm 60 can chi, chia làm 6 tuần, mỗi tuần 10 can chi, và 2 chi bị Tuần Không), cuối cùng cũng thoát khỏi rắc rối.
Thân Thế lâm Không tránh đi tất tốt.
15.
官鬼臨身任爾潛蹤猶撞見
Quan Quỷ lâm Thân, nhậm nhĩ tiềm tung do tràng kiến
Quan Quỷ ở Thân, dù có trốn cũng tìm ra được.
Quan hào trì Thế là giặc cướp đến bên mình, làm sao tránh được? Như bị bắt đi cũng khó mà trở về được.
16.
子孫持世總然對面不相逢
Tử Tôn trì Thế, túng nhiên đối diện bất tương phùng
Tử Tôn trì Thế, dù có đối mặt cũng chẳng gặp được.
Tử Tôn trì Thế bất động cũng tốt, phát động càng hay hơn. Nếu lâm Nguyệt kiến hoặc Nhật thần, hoặc ở hào bên (tức không phải hào Thế) mà động cũng tốt. Trong quẻ tuy Quỷ động, cũng không đáng sợ.
17.
兄變官交竊恐鄉人劫掠
Huynh biến Quan hào, thiết khủng hương nhân kiếp lược
Huynh biến thành Quan, e sợ là người làng đến cướp.
Trong quẻ không có hào Quan mà hào Huynh lại biến thành Quan, nên phòng người làng thừa cơ cướp tiền của mà chẳng phải là giặc cướp. Huynh ở nội quái là hàng xóm, tại ngoại quái thì ở xa hơn.
18.
財連鬼煞須防藏獲私藏
Tài liên Quỷ sát, tu phòng tang hoạch tư tàng
Tài cùng Quỷ sát, nên phòng tôi tớ thu giấu.
Trong quẻ không có Quỷ, Tài biến thành Quan là nô bộc giả trộm cướp lấy của, hoặc trong lúc loạn lạc, bị chúng lấy đem giấu. Nếu ở ngoại quái là đàn bà trong làng.
19.
日辰冲剋財交妻孥失散 - 動象刑傷福德兒女拋離
Nhật thần xung khắc Tài hào, thê noa thất tán
Động tượng hình thương Phúc Đức, nhi nữ phao li
Nhật thần xung khắc hào Tài, vợ con thất tán
Động hào hình thương Phúc Đức, con cái rời xa.
Quan động tất có kinh hiểm. Không kể là Nhật Thần, hay động hào, hễ bị hình thương là không yên. Nếu xung khắc Thê Tài là chủ vợ con thất tán, xung khắc Tử Tôn tất chủ con cái ly tán.
20.
火動剋身恐有燎毛之苦 - 水興傷世必成滅頂之凶
Hỏa động khắc Thân, khủng hữu liệu mao chi khổ
Thủy hưng thương Thế, tất thành diệt đính chi hung
Hỏa động khắc Thế, e dễ dàng bị khốn khổ,
Thủy động hại Thế, hung hại đã đến bên đầu.
Trong quẻ Hỏa Quỷ động khắc Thế, chủ có hỏa tai, nếu Thủy Quỷ khắc Thế chủ có thủy tai.
21.
父若空亡包裹須防失脱 - 妻如落陷財物當虞遺亡
Phụ nhược Không vong, bao khảo tu phòng thất thoát
Thê như lạc hãm, tài vật đương lự di vong
Phụ hào lâm Không, cất giữ nên phòng mất mát,
Thê hào lạc hãm, cần lo để mất tiền của.
Hào Phụ lâm Không, nếu không mất của cất giữ thì phải lo có sự bất trắc đối với cha mẹ. Tài lâm Không phòng mất của, nếu không thì thê thiếp gặp tai ương. Tử Tôn lâm Không lo về trẻ nhỏ. Ngoài ra cứ thế mà suy.
22.
五位交重兩處身家無下落
Ngũ vị giao trùng, lưỡng xứ thân gia vô hạ lạc
Hào ngũ giao trùng, nhà và người hai nơi không chỗ trú thân.
Phàm gặp hào ngũ phát động, tránh loạn phải chạy đông chạy tây không yên. Người và nhà mỗi nơi. Nếu lại bị Nhật thần, động hào xung tán hào Thế, tất không có chỗ để an thân.
Tị Loạn: câu 23–42
23.
六交亂動一家骨肉各東西
Lục hào loạn động, nhất gia cốt nhục các đông tây
Sáu hào loạn động, cốt nhục trong nhà mỗi người một nơi.
Quẻ lục xung hay sáu hào loạn động, chủ cha mẹ xung tán, anh em, vợ chồng, những người cốt nhục tự lo trốn tránh, không thể tụ tại một nơi.
24.
福臨鬼位刑冲帶煞則官兵不道
Phúc lâm Quỷ vị hình xung đới sát, tắc quan binh bất đạo
Phúc lâm Quan Quỷ lại hình xung đới sát, thì quan binh vô đạo.
Tử Tôn động vốn là điềm tốt, nếu bị hình hại, gặp Bạch Hổ, Đằng Xà lại biến thành Quan Quỷ tất quan binh thừa loạn mà cướp bóc.
25.
官變兄交剋合傷財必妻妾遭淫
Quan biến Huynh hào khắc hợp thương Tài, tất thê thiếp tao dâm
Quan biến Huynh khắc hợp với hào Tài thì thê thiếp bị dâm ô.
Quan động hình khắc Thế, hợp với hào Tài thì thân bị bắt, vợ bị dâm ô. Nếu không thương Thế mà chỉ hợp với hào Tài thì thân tuy vô sự nhưng vợ bị nhục. Nếu lại hóa Huynh thì bị dâm ô mà khó trở về.
26.
妻去生扶只爲貪財翻作禍
Thê khứ sinh phù, chỉ vi tham tài phiên tác họa
Nếu Tài đi sinh phò, thì chỉ vì tham tiền mà sinh họa.
Quỷ động thì mừng nhất là bị suy tuyệt. Nếu được Tài động đi sinh phò thì vì tham tiền mà sinh họa. Thế thì lấy mình mà nói, Ứng thì lấy người mà nói.
27.
子來冲動佳人而哭慈成災
Tử lai xung động, giai nhân nhi khốc nhạ thành tai
Tử mà xung động, nhân vì con khóc mà thành họa.
Quỷ yên tĩnh là rất tốt, nếu bị Tử Tôn xung động, tất vì tiếng khóc của trẻ con nên giặc biết mà bị hại. Phúc vượng mà quan suy thì chẳng hại gì.
28.
得值六親生旺雖險何妨 - 如臨四絕刑傷逢屯即死
Đắc trị Lục thân sinh vượng, tuy hiểm hà phương
Như lâm Tứ tuyệt hình thương, phùng truân tức tử
Được ở Lục thân mà sinh vượng, gặp hiểm cũng chẳng hại gì,
Nếu ở Tứ Tuyệt bị hình thương, gặp hại tất chết.
Dụng thần bị khắc tất có tai ương. Nếu hào bị khắc đó mà sinh vượng thì không đến nỗi hại mệnh. Chỉ sợ hào mày lâm Tuyệt địa, mà suy nhược tất táng mệnh.
29.
世遇亂離既已逐交而決矣 - 時遭患難亦當隨象以推之
Thế ngộ loạn ly, ký dĩ trục hào nhi quyết hỹ
Thời tao hoạn nạn, diệc đương tùy tượng dĩ suy chi
Đời gặp loạn ly, đã dựa vào từng hào để quyết đoán,
Lúc gặp hoạn nạn, cũng nên tùy quẻ mà suy đoán.
Ở yên không việc gì, có gì mà bói. Nếu bị hình phạt, bị tội giam giữ, hoặc bị quan phủ tróc nã, người thù tìm hại, hoặc gặp họa không biết dựa vào đâu, tai ương đột xuất. Nếu không tránh tất sẽ bị hại. Vì thế không thể không xem bói mà tránh. Đại khái cũng tương tự với thiên Tị Loạn này. Cho nên chép các câu này phụ vào.
30.
最怕官交剋世則必難迴避
Tối phạ Quan hào khắc Thế, tắc tất nan hồi tị
Sợ nhất là hào Quan khắc Thế, tất khó tránh được.
Phàm xem tránh họa, thoát họa mà gặp Quỷ động khắc thương Thế đều không tránh được. Quan trì Thế cũng vậy. Nếu Quỷ lâm Không Tuyệt hoặc không động, như Phục dưới hào Thế thì trước mắt chẳng hại, nhưng sau đến khi Quỷ được vượng sẽ phát tác.
31.
太宜福德臨身則終可逃生
Thái nghi Phúc Đức lâm Thân, tắc chung khả đào sinh
Hợp nhất là Phúc Đức lâm Thân, cuối cùng có thể sống được.
Tử Tôn có thể chế được Quan Quỷ, là thần giải ách. Nếu Tử Tôn lâm Thân Thế hoặc ở bàng hào phát động, hoặc là Nguyệt kiến Nhật thần, tuy gặp Quan Quỷ cũng chẳng hại gì, chỉ sợ Không vong, Mộ Tuyệt tất bị chế.
32.
官化父冲必有文且挨捕
Quan hóa Phụ xung, tất hữu văn thư ai bổ
Quan hóa Phụ xung, tất có văn thư đi bắt.
Vượng hào phát động, tên đã vào danh sách, hoặc quan đã phê ở ngoài. Hào quỷ cũng động, việc đã khẩn cấp. Phụ hóa Quan, Quan hóa Phụ hình khắc hào Thế, tất đã khiến công sai đi bắt.
33.
日冲官散必有多親友維持
Nhật xung Quan tán, tất đa thân hữu duy trì
Nhật xung Quan tán tất níu được nhiều thân hữu.
Quan động vốn khó tránh thoát, nếu được Nhật thần động xung tán khắc chế Quan Quỷ, tất có tâm phúc thân hữu giải thoát lo liệu cho ta.
34.
鬼伏而兄弟冲提禍由骨肉
Quỷ phục nhi Huynh Đệ xung đề, họa do cốt nhục
Quỷ phục mà được Huynh Đệ xung khởi, họa do cốt nhục sinh ra.
Quan phục mà được Huynh Đệ xung, Phi thần đề bạt, hoặc Huynh Đệ xung động Quan Quỷ đến hình khắc, là do cốt nhục trong nhà mà tìm ra tung tích, sợ khó tránh được.
35.
官靜而旁交刑剋事出吏且
Quan tĩnh nhi bàng hào hình khắc, sự xuất lại thư
Quan hào tĩnh mà bàng hào hình khắc, việc do thư lại.
Quan Quỷ tĩnh mà trong quẻ động hào hình khắc Thế hào là bọn dưới quyền của quan, hoặc kẻ thù hãm hại. Nếu hóa thành hào Huynh là muốn cướp của cải.
36.
應若遭傷當累累
Ứng nhược tao thương đương lụy chúng
Ứng nếu bị hại thì liên hệ đến người khác.
Quan Quỷ thương khắc hào Ứng, tất liên quan đến người khác. Nguyệt kiến, Nhật thần thương khắc Ứng cũng thế.
37.
妻如受剋定傷財
Thê như thụ khắc định thương tài
Thê Tài như bị khắc thì hại tiền bạc.
Như gặp Huynh động tất chủ phá hao tiền bạc.
38.
偏喜六交安靜
Thiên hỉ lục hào an tĩnh
Riêng mừng sáu hào an tĩnh.
Sáu hào bất động, Quan hào không bị xung thì có thể tránh hoạn nạn. Lại nên trong quẻ không có hào Quan, không Quan Quỷ tất chủ việc bình an, Quan Quỷ gặp Không vong cũng thế.
39.
又宜一卦無官
Hựu nghi nhất quái vô Quan
Lại nên một quẻ không hào Quan.
Không có hào Quan thì quan coi việc không có tất bình an, Quan lâm Không cũng tốt.
40.
或身世之逢空
Hoặc Thân Thế chi phùng Không
Hoặc Thế Thân lâm Không.
Thế Thân gặp Không vong, trăm việc đều tiêu tan. Tuy gặp Quỷ động cũng vô sự.
41.
或用神之得地
Hoặc Dụng thần chi đắc địa
Hoặc Dụng thần được đắc địa.
Dụng thần vượng tướng mà không bị hình xung khắc hại, không hóa Tử Mộ Không Tuyệt, đều là điềm tốt.
42.
天來大事也無妨 - 海樣深仇何足慮
Thiên lai đại sự dã vô phương
Hải dạng thâm cừu hà túc lự
Việc lớn như trời cũng chẳng hại
Thâm cừu như biển cũng khôn lo.
Hai câu này tóm lại ý của 4 câu trước. Tóm kết mà nói trong quẻ có một cát thần, chắc chắn không việc gì.
Việc có trăm đường, lý chỉ có một. Biết suy xét kỹ càng mà có thể hòa hợp thông suốt, theo lý mà suy thì tất đạt được thần diệu.
Đào Vong: mở đầu và câu 1–14
Đào Vong (bỏ trốn) — xem phương hướng, nơi ẩn náu của người bỏ trốn (nô tì, thê thiếp, đạo tặc) qua quẻ Bốc Dịch.
Mở đầu
寬以御眾侮慢斯加 - 嚴以治人逃亡遂起 - 故大聖之有容尚謂小人之難養
Khoan năng ngự chúng vũ mạn tư gia
Nghiêm dĩ trị nhân đào vong toại khởi
Cố đại thánh chi hữu dung thượng vị tiểu nhân chi nan dưỡng
Cai trị khoan dung, gia tăng khinh nhờn
Nghiêm khắc trị người, mà sinh bỏ trốn
Cho nên đại Thánh rộng lượng cũng bảo tiểu nhân khó nuôi.
1.
須察用交 - 方知實跡
Tu sát Dụng hào
Phương tri thực tích
Phải xét hào Dụng
Mới rõ sự thật.
Dụng hào tức như xem nô tì, thê thiếp bỏ trốn thì dùng hào Thê Tài chẳng hạn.
2.
若臨午地必往南方 - 或化寅交轉移東北
Nhược lâm Ngọ địa tất vãng nam phương
Hoặc hóa Dần hào chuyển di Đông Bắc
Nếu lâm ở Ngọ tất đến phương Nam
Còn hóa hào Dần chuyển đến Đông Bắc.
Dụng thần an tĩnh, nơi hào này lâm là phương hướng bỏ trốn. Cho nên mới bảo: Lâm Ngọ là phương Nam. Nếu Dụng thần phát động dùng biến hào để định hướng. Chuyển đi là chuyển đến nơi nào đó. Tức như Ngọ biến Dần chắc chắn trước đến hướng Chánh Nam sau đến Đông Bắc.
3.
木屬震宮都邑京城之內 - 金居兌象菴觀寺院之中
Mộc thuộc Chấn cung đô ấp kinh thành chi nội
Kim cư Đoài tượng am quán tự viện chi trung
Mộc thuộc cung Chấn thì ở trong kinh thành trong ấp đông đúc
Kim ở cung Đoài là trong am miếu chùa quán.
Dụng thần như thuộc hào Mộc cung Chấn tất ở tại ấp lớn, nếu ở hào cửu ngũ thì tại kinh đô. Nếu ở hào kim cung Đoài tất trốn trong am miếu tự viện.
4.
鬼墓交重廟宇中間隱匿 - 休囚死絕墳陵左右潛藏
Quỷ Mộ giao trùng miếu vũ trung gian ẩn nặc
Hưu tù Tử Tuyệt mộ lăng tả hữu tiềm tàng
Quỷ Mộ giao động thì trốn núp trong am miếu
Hưu tù Tử Tuyệt tất ẩn gần bên mồ mả.
Dụng thần trì Quỷ Mộ, người trốn tất núp trong am miếu, nếu lâm Tử Tuyệt tất trốn gần bên mồ mả.
5.
如逢四庫當究五行
Như phùng tứ Khố đương cứu ngũ hành
Nếu gặp Tứ Khố nên xét ngũ hành.
Tứ Khố tức 4 Địa chi Thìn, Tuất, Sửu, Mùi. Như Dụng thần thuộc Mộc mà trong quẻ có Mùi động chẳng hạn (Mộc có Mộ tại Mùi. Khố tức là "Kho chứa". Thủy Thổ thì Khố tại Thìn; Kim thì Khố tại Sửu; Hỏa thì Khố tại Tuất). Thìn là Khố của Thủy và Thổ tất ở ven dòng nước; Tuất là Hỏa khố thì ở bên cạnh chùa miếu; Sửu là Kim khố thì ở nhà thợ bạc thợ rèn; Mùi là Mộc khố thì ở vườn rừng, trong củi trong cỏ hoặc ở nhà thợ mộc, thợ tre… Phàm xem đào vong, đạo tặc nếu gặp hào Mộ chắc chắn khó tìm, phải chờ ngày tháng xung phá hào Mộ mới có thể tìm được.
6.
倘伏五鄉豈宜一類
Thảng phục Ngũ hương khởi nghi nhất loại
Nếu phục dưới Ngũ hương (chỉ Lục thân: Phụ Mẫu, Quan Quỷ, Huynh Đệ, Tử Tôn, Thê Tài), nào phải giống nhau.
Quẻ không có Dụng thần nên xem phục dưới hào nào, thì có thể biết người bỏ trốn ở tại nơi nào.
7.
木興水象定乘舟楫而逃
Mộc hưng Thủy tượng, định thừa chu tiếp nhi đào
Mộc động ở cung Thủy, chắc dùng thuyền để trốn.
Dụng hào thuộc Mộc tại cung Khảm, động tất dùng thuyền trốn đi. Mộc hóa Thủy, Thủy hóa Mộc hoặc Mộc tại Thủy cung động hay Thủy động ở cung Mộc đều như vậy.
8.
動合伏財必拐婦人而去
Động hợp phục Tài tất quải phụ nhân nhi khứ
Động mà hợp với Tài phục là đem đàn bà mà trốn đi.
Dụng hào động đến hợp với hào Tài của bản cung, người này tất mang theo đàn bà mà bỏ trốn. Tài hào nếu phục ở Thế tất là thê thiếp của ta, tại Ứng là phụ nữ của nhà hàng xóm.
9.
內近外遠生世則終有歸期
Nội cận ngoại viễn, sinh Thế tắc chung hữu qui kỳ
Nội thì gần, Ngoại thì xa, sinh Thế hào tất cuối cùng cũng có ngày lui về.
Dụng hào tại nội quái của bản cung thì người bỏ trốn ở bản địa, tại Ngoại quái của bản cung là ở cùng phủ khác huyện. Nếu Dụng thần ở Tha cung Nội quái thì huyện bên, nơi tiếp giáp hai huyện; Tha cung Ngoại quái thì ở châu huyện của phủ khác. Nếu ở hào lục thì bỏ đi phương xa. Mừng nhất là sinh hợp Thế hoặc trì Thế, người này tuy bỏ đi, ngày sau sẽ tự về, tìm cũng dễ thấy.
10.
靜易動難坐空則必無尋路
Tĩnh dị động nan, tọa Không tắc tất vô tầm lộ
Tĩnh thì dễ, động thì khó, lâm Không thì không có đường mà tìm.
Dụng hào không động dễ tìm người này, động thì di chuyển bất thường, khi đông khi tây, hoặc đổi tên cải họ, rất khó tìm thấy. Nếu lâm Không thì hoàn toàn vô tung tích.
11.
合起合住若非容隱必相留
Hợp khởi, Hợp trú nhược phi dung ẩn tất tương lưu
Hợp khởi, Hợp trú nếu không che giấu tất lưu giữ.
Dụng tĩnh gặp Hợp là Hợp khởi. Dụng động gặp Hợp tất Hợp trú. Nếu Nhật thần, động hào Hợp khởi Dụng thần tất có việc oa trữ, che giấu, lưu giữ. Muốn biết người che giấu, lưu giữ, lấy hào hợp mà đoán. Như là Tử Tôn tất tăng đạo, Phụ Mẫu là bậc tôn trưởng chẳng hạn. Hào hợp với Thế xung khắc chắc chắn không khai báo.
12.
冲動冲開不是使令當敗露
Xung động, xung khai bất thị sử lệnh đương bại lộ
Xung động, Xung khai, nếu không bị sai khiến tất bại lộ.
Hào tĩnh gặp xung là Xung động, động hào gặp xung là Xung khai. Dụng hào gặp Nhật thần, động hào xung động thì trong nhà tất có người khiến bỏ trốn. Nếu là Phụ Mẫu thì là bậc tôn trưởng.
13.
動交刑剋有人阻彼登程 - 日建生扶有伴糾他同去
Động hào hình khắc, hữu nhân trở bỉ đăng trình
Nhật kiến sinh phù, hữu bạn củ tha đồng khứ
Động hào hình khắc, có người cản trở đường đi
Nhật thần sinh phò, có người rủ rê cùng đi.
Dụng hào gặp xung bị người phá, gặp khắc thì bị người bắt lại. Được phò, được sinh, được tính tất có người rủ rê cùng đi. Nếu hào hình khắc với Dụng có tình với Thế (ý nói sinh hợp Thế) tất đến báo cho ta biết.
14.
間交作合原中必定知情
Gian hào tác hợp nguyên trung tất định tri tình
Hợp với gian hào tức vốn trung gian đã có người biết sự tình.
Gian hào vốn là người chịu trách nhiệm, không có người này thì đoán là người trong xóm. Nếu gian hào hợp với Dụng thần, tất biết sự tình; nếu xung khắc với Thế thì người này dụ dỗ người ấy bỏ đi.
Đào Vong: câu 15–29
15.
世應相生路上須當撞見
Thế Ứng tương sinh lộ thượng tu đương tràng kiến
Thế Ứng tương sinh thì phải bắt gặp trên đường.
Thế Ứng đều động xung nhau thì gặp nhau trên đường. Dụng hào và Thế động xung cũng vậy. Thế hào động khắc Dụng hào hoặc Thế vượng Ứng suy tất nhiên bắt được. Ứng vượng Thế suy hoặc Dụng hào khắc Thế tuy gặp nhưng không thể bắt được (ý nói bắt được người bỏ trốn).
16.
無冲無破居六位則一去不回 - 有剋有生在五交則半途仍走
Vô xung vô Phá cư lục vị tắc nhất khứ bất hồi
Hữu khắc hữu sinh tại ngũ hào tắc bán đồ nhưng tẩu
Không xung không Phá ở hào lục tất đi không trở lại,
Bị khắc được sinh tại hào ngũ nửa đường bỏ chạy.
Dụng hào không chịu hình khắc, lại không được sinh hợp, Thế hào lại không khắc Dụng hào thì trốn đi không nghĩ quay về, tìm không ra. Nếu động hào, Nhật thần khắc chế Dụng hào là điềm có thể bắt lại. Nếu gặp hào biến đi sinh hợp Dụng hào thì giữa đường vẫn bỏ chạy tiếp.
17.
主象化出主將歸亦難留
Chủ tượng hóa xuất, chủ tương qui diệc nan lưu
Chủ tượng hóa xuất, chủ sắp quay về khó giữ lại.
Quẻ có Dụng hào không nên hóa Thoái thần, tức hóa khứ tất khó bắt được. Như bị Thế hào, động hào, Nhật thần khắc chế, nếu bắt về được cũng khó giữ được lâu.
18.
本宮化入本宮去應不遠
Bản cung hóa nhập bản cung, khứ ứng bất viễn
Bản cung hóa nhập bản cung, thì đi không xa.
Quẻ trong bản cung lại hóa ra quẻ trong bản cung, thí như quẻ Càn biến thành các quẻ của cung này như Cấu, Độn, Bĩ, Quán… (64 quẻ Dịch phân thành 8 cung, mỗi cung gồm 8 quẻ, đứng đầu là quẻ Bát Thuần. Như ở cung Càn gồm các quẻ: Thuần Càn, Cấu, Độn, Bĩ, Quán, Bác, Tấn, Đại Hữu) chủ người này trốn ở trong địa phương, tất không xa. Nếu Dụng hào ở tha cung động mà hóa nhập tha cung thì đi xa mà lại chuyển hướng.
19.
歸魂卦用仍生合不捕而自回 - 遊魂卦應又交重能潛而會遁
Qui Hồn quái Dụng nhưng sinh hợp bất bổ nhi tự hồi
Du Hồn quái Ứng hựu giao trùng năng tiềm nhi hội độn
Quẻ Qui Hồn, Dụng sinh hợp không bắt mà tự về
Quẻ Du Hồn, Ứng lại động núp được mà lại bỏ trốn.
Được quẻ Qui Hồn thì người trốn đi ý muốn quay về, nếu sinh hợp hào Thế, người này tự quay về nên dễ tìm thấy. Gặp quẻ Du Hồn thì người này không có ý về có thể ẩn trốn khó mà tìm được.
20.
世剋應交任爾潛身終見獲 - 應傷世位總然對面不相逢
Thế khắc Ứng hào nhậm nhĩ tiềm thân chung kiến hoạch
Ứng thương Thế vị tổng nhiên đối diện bất tương phùng
Thế khắc hào Ứng dù có trốn rồi cũng bắt được
Ứng thương Thế hào, nói chung có đối mặt cũng không gặp được.
Thế khắc Dụng hào thì ta chế được người, đi không thể xa, tìm dễ gặp. Dụng khắc Thế là người chế ta, tượng được tự do, tìm khó gặp.
21.
父母空亡杳無音信
Phụ Mẫu Không vong diểu vô âm tín
Phụ Mẫu lâm Không không một chút tin tức.
Phụ Mẫu chủ tin tức, lâm Không tất không có tin, Nếu động sinh hợp Thế tất có người đến báo tin.
22.
子孫發動當有維持
Tử Tôn phát động đương hữu duy trì
Tử Tôn phát động tất có níu giữ.
Tử Tôn lâm Thân Thế bỏ đi tự nhiên thuận lợi. Nếu được Nhật thần sinh hợp Thế hào tất có sự lưu giữ. Nói chung là dù có nghịch cảnh cũng không thể làm hại mình. Câu này dùng cho người bỏ trốn tự xem.
23.
眾煞傷身竊恐反遭刑辱
Chúng sát thương Thân thiết khủng phản tao hình nhục
Các Sát (từ gọi chung Nhật Nguyệt, động hào, Kỵ thần… khắc hại Thế) hại Thân e sợ ngược lại bị hình nhục.
Động biến Nhật Nguyệt hình xung khắc hại Thế hào gọi là "chúng sát thương Thân", thì gặp hình phạt, không trốn tất tốt.
24.
動兄持世必然廣費貲財
Động Huynh trì Thế tất nhiên quảng phí ti tài
Huynh động trì Thế tất hao phí nhiều của cải.
Huynh Đệ trì Thế hao phí tiền của thì có thể tìm được, hoặc hao phí tiền của thì có thể trốn đi. Nếu thêm Huyền Vũ vượng động khắc Thế nên phòng bị người lường gạt.
25.
父動遇官必得公人捕捉
Phụ động biến Quan tất đắc công nhân bổ tróc
Phụ động biến Quan tất được người của quan bắt giữ.
Phụ hóa Quan, Quan hóa Phụ hoặc Quan Phụ đều động tất nên đưa đơn cáo quan để quan sai người bắt tất sẽ được.
26.
世投入墓須防窩主拘留
Thế đầu nhập Mộ tu phòng oa chủ câu lưu
Thế nhập Mộ thì nên phòng người oa trữ bắt giữ.
Phàm xem gặp Thế nhập Mộ thì ngược lại bị nhục vì người bắt giữ hoặc về sau bị tai bệnh.
27.
世應比和不空必潛于此
Thế Ứng tị hòa bất Không tất tiềm vu thử
Thế Ứng tị hòa không bị Không tất trốn ở đây.
Phàm xem người bỏ trốn còn ở nơi này hay không nên được Thế Ứng sinh hợp, tị hòa (tức cùng Ngũ hành), Dụng hào xuất hiện mà không lâm Không, tất còn trốn ở đây.
28.
世應空亡獨發徒費乎心
Thế Ứng Không vong độc phát đồ phí hồ tâm
Thế Ứng đều lâm Không chỉ khiến phí tâm vô ích.
Thế lâm Không tất không hết sức đi tìm, Dụng lâm Không thì tìm không thấy được. Thế Ứng đều Không chủ không thể tìm, người trốn không trở về. Huynh Đệ độc phát tất láo khoét không thực rồi cũng tìm không ra.
29.
但能索隱探幽 - 何慮深潛遠遁
Đãn năng sách ẩn thám u - Hà lự thâm tiềm viễn độn
Nếu biết được nơi ẩn náu - Lo gì giấu kỹ trốn xa.
Nguồn: Tăng Bổ Bốc Phệ Chính Tông (增補卜筮正宗) – Vương Hồng Tự, bản dịch và chú thích của Vĩnh Cao.
