Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Nhập môn

Bài tổng quan

Tính Kể tháng, ngày, giờ rồi đặt Văn Xương, Thủy Kích lên bàn

Bói Dịch - Nhập môn03/10/202611 phút đọc2 lượt đọc
Tính Kể tháng, ngày, giờ rồi đặt Văn Xương, Thủy Kích lên bàn

Một năm có thể tính trong chớp mắt, nhưng một tháng hay một giờ thì phải đi qua những phép nhân, phép chia dài hơn. Muốn đặt Văn Xương và Thủy Kích thì phải biết Thần Kể đang ở đâu, và từng bước đều có ví dụ cụ thể để làm theo…


Một năm có thể tính trong chớp mắt, nhưng một tháng hay một giờ thì phải đi qua những phép nhân, phép chia dài hơn. Người xem Thái Ất muốn biết lành dữ của việc làm ăn trong ngày thì phải đặt Thái Ất vào cung theo giờ, và muốn đặt Văn Xương, Thủy Kích thì phải biết Thần Kể đang ở đâu. Từng bước đều có ví dụ cụ thể, và chỉ cần làm đúng một lần là các lần sau sẽ nhớ.

Kể Tháng: nhân mười hai rồi thêm hai tháng chính

Muốn tính Kể Tháng, người xưa lấy số tích tháng từ Thượng Cổ Giáp Tý đến tháng muốn xem, cộng thêm hai tháng là tháng Giáp Tý và tháng Ất Sửu của năm Quý Hợi, năm đứng trước năm Giáp Tý, vì năm Giáp Tý khởi từ tháng Bính Dần. Hai tháng ấy được gọi là Thiên Chính và Địa Chính. Làm theo cách thực dụng thì lấy vòng kỷ dư, nhân với mười hai, rồi cộng thêm hai tháng. Sau đó lấy ba trăm sáu mươi mà trừ dần cho dễ chia, số không hết thì lấy bảy mươi hai mà trừ, và số dư là cục. Cuối cùng tính nguyên cục theo phép nguyên cục.

Tháng giêng của mỗi năm khởi từ can nào

Mỗi năm mở đầu bằng một cái tên khác nhau, và người tính phải nhớ năm câu ngắn.

Để lấy tên tháng cho đúng, trước hết phải nhớ năm câu: Giáp Kỷ hóa Thổ, Ất Canh hóa Kim, Bính Tân hóa Thủy, Đinh Nhâm hóa Mộc, Mậu Quý hóa Hỏa. Năm câu này dùng để tính tháng giêng của năm nào thì mang can nào. Tháng giêng nói chung là tháng Dần, tháng hai là tháng Mão, và cứ thế. Vậy cần biết tháng giêng theo từng can của năm để ghép với Dần. Năm có can Giáp hoặc Kỷ thì tháng giêng lấy chữ Bính. Năm có can Ất hoặc Canh thì lấy chữ Mậu. Năm có can Bính hoặc Tân thì lấy chữ Canh. Năm có can Đinh hoặc Nhâm thì lấy chữ Nhâm. Năm có can Mậu hoặc Quý thì lấy chữ Giáp. Chẳng hạn năm có can Giáp hay Kỷ thì tháng giêng là Bính Dần.

Giờ trong ngày cũng tính theo cùng một câu: ngày Giáp, Kỷ thì giờ Tý là Giáp Tý. Ngày Ất, Canh thì giờ Tý là Bính Tý. Ngày Bính, Tân thì giờ Tý là Mậu Tý. Ngày Đinh, Nhâm thì giờ Tý là Canh Tý. Ngày Mậu, Quý thì giờ Tý là Nhâm Tý. Sau đó với tháng thì tiếp từ Dần đi thuận hết mười hai số, với giờ thì tiếp từ Tý đi hết mười hai giờ. Vòng can có mười, hết thì quay lại. Vòng chi có mười hai, hết thì quay lại. Như tháng giêng năm Nhâm Tuất là Nhâm Dần, tháng hai là Quý Mão, tháng ba là Giáp Thìn, và cứ thế tính đến hết năm Nhâm Tuất.

Thử tính tháng ba năm Nhâm Tuất

Muốn xem tháng ba, tức tháng Giáp Thìn, của năm Nhâm Tuất, người xưa lấy vòng kỷ dư của tích niên đến năm Tân Dậu, tức năm 1441 dương lịch, ngay trước năm Nhâm Tuất 1442. Vòng kỷ dư ấy là 118. Đem nhân với mười hai được 1416 tháng. Lại cộng hai toán của tháng thiên chính, địa chính, và vì tháng đang xem là tháng ba nên thêm ba số nữa. Tổng số là 1416 cộng 2 cộng 3 bằng 1421. Lấy ba trăm sáu mươi mà trừ thì được ba vòng và dư 341. Lấy bảy mươi hai mà trừ số dư, được bốn và dư 53. Vậy tháng Giáp Thìn của năm Nhâm Tuất vào nguyên thứ năm, cục năm mươi ba. Tính tiếp thì đến tháng mười năm Quý Hợi là đủ bảy mươi hai cục, rồi nguyên mới lại khởi từ cục một.

Kể Ngày và Kể Giờ

Kể Ngày không dùng cục âm. Sau tiết Đông Chí, người ta tìm ngày Giáp Tý đầu tiên gần nhất, lấy đó làm gốc đếm trở đi, tích cho đến ngày xem được bao nhiêu số thì đó là số tích. Rồi lấy bảy mươi hai mà trừ để xem được bao nhiêu nguyên, số dư là cục. Không phân chia âm dương. Như vậy, kể từ sau Đông Chí, ngày Giáp Tý thứ nhất là nguyên trên, sau bảy mươi hai ngày là nguyên hai, tức lấy bảy mươi hai mà trừ số ngày tích.

Kể Giờ là lối kể duy nhất dùng cho cả hai khối âm và dương. Với khối dương, sau ngày Đông Chí, người ta tìm ngày Giáp Tý hoặc Giáp Ngọ gần nhất, đếm từ giờ Giáp Tý của ngày ấy, tức nửa đêm, tích đến ngày xem thì được số tích giờ của khối dương. Với khối âm, sau tiết Hạ Chí cũng tìm ngày Giáp Tý hoặc Giáp Ngọ gần nhất, đếm từ giờ Giáp Tý của ngày ấy trở đi, tích đến giờ xem thì được số tích giờ của khối âm. Rồi dùng số tích giờ, thêm số âm dương doanh sai nếu có, đem chia cho số vòng của sao, dùng số dư để tính vị trí của sao rất dễ, không cần dùng vòng kỷ dư, rút số xuất cung, xuất quẻ cho phiền.

Cách dễ nhất là tìm số tích giờ như sau: tính từ ngày Đông Chí hoặc Hạ Chí tới ngày cầu việc được bao nhiêu ngày, giảm đi một ngày, rồi nhân với mười hai thì được số tích. Nên nhớ cứ ba giờ thì Thái Ất mới chuyển một cung. Một ngày một đêm có mười hai giờ, từ Tý, Sửu v.v. Tính từ nửa đêm sáng đầu ngày đến hết giờ Hợi, Thái Ất mới chuyển được bốn cung, nên phải mất hai ngày đêm Thái Ất mới đi hết một vòng bầu trời. Có số tích giờ rồi thì chia cho bảy mươi hai để tìm cục. Muốn an Thái Ất thì chia số tích giờ cho hai mươi bốn, số thành là số vòng, số dư nếu hơn ba thì lấy ba mà rút, phần còn lại là số an cung Thái Ất, như cách an ở Kể Năm.

Ví dụ xem giờ Đinh Sửu, ngày Canh Thìn, tức ngày mười sáu tháng mười một âm lịch, năm Canh Ngọ, niên hiệu Chính Trị thứ mười ba. Từ Giáp Tý đến ngày Canh Thìn đếm được mười bảy số, giảm một còn mười sáu, nhân mười hai thành 192 số. Lại đếm từ giờ Tý đến giờ Sửu được hai số, cộng thành 194 số. Ngày Canh Thìn thì giờ khởi từ Bính Tý, nên giờ Đinh Sửu. Vậy giờ Đinh Sửu, ngày Canh Thìn, năm Canh Ngọ có số tích giờ là 194 toán. Chia cho bảy mươi hai thì được hai, dư năm mươi. Lấy hai mươi bốn mà chia số dư thì được hai, dư hai; hoặc lấy hai mươi bốn chia thẳng 194 thì được tám, dư hai. Số hai ít hơn ba nên là cung đầu vòng của Thái Ất. Vì vậy khối dương an Thái Ất tại cung Kiền một, còn khối âm an tại cung Tốn chín, dương đi thuận từ một đến chín, âm đi nghịch từ chín về một, không vào cung giữa.

Thần Hợp: sáu cặp địa chi đứng chung

Năm có Thần Hợp theo bảng sáu cặp: Tý hợp Sửu, Dần hợp Hợi, Mão hợp Tuất, Thìn hợp Dậu, Tỵ hợp Thân, Ngọ hợp Mùi. Năm Tý thì Thần Hợp tại Sửu, năm Sửu thì Thần Hợp tại Tý, và các cặp khác cũng đổi chỗ lẫn nhau như vậy.

Kể Định: toán còn ẩn trong cõi u minh

Kể Định còn có tên Định Mục hay Kể Mục. Toán Kể Định là toán tính từ ngôi Kể Định đến sát ngôi Thái Ất, đếm được bao nhiêu toán thì đó là con số. Cách an: tính từ cung Thần Hợp đi thuận tới cung có Văn Xương đóng, xem có bao nhiêu ngôi, rồi khởi từ Thái Tuế của năm cầu mà đếm đủ số ngôi ấy theo chiều thuận thì an Kể Định. Vì Kể Định làm ra toán Định, hay Kể Mục, nên cần biết trước toán Văn Xương và Thái Tuế. Toán Định chính là cách tính độ số còn ở cõi u minh của Thái Ất trong tương lai, và người ta lấy toán ấy mà quyết định.

Thần Kể: vòng mười hai năm

Muốn tính Thần Kể, tức Kể Thần, người xưa lấy vòng kỷ dư của năm cần xem trừ dần từng vòng mười hai năm, số dư là số để an Thần Kể. Với năm Nhâm Tý 1972, vòng kỷ dư là 289, chia cho mười hai được hai mươi bốn vòng, còn dư một, tức năm đầu của vòng thứ hai mươi lăm.

Khối âm đặt Thần Kể khởi từ Thân và chuyển ngược mười hai vị: Thân, Mùi, Ngọ, Tỵ, Thìn, Mão, Dần, Sửu, Tý, Hợi, Tuất, Dậu. Khối dương khởi từ Dần và cũng chuyển ngược mười hai vị: Dần, Sửu, Tý, Hợi, Tuất, Dậu, Thân, Mùi, Ngọ, Tỵ, Thìn, Mão. Vậy năm Nhâm Tý thì Thần Kể ở khối âm an tại Thân, ở khối dương an tại cung Dần. Với năm Đinh Mão 1987, vòng kỷ dư 304 chia cho mười hai được hai mươi lăm, dư bốn. Ở khối âm đếm Thân một, Mùi hai, Ngọ ba, Tỵ bốn nên Thần Kể ở cung Tỵ. Ở khối dương đếm Dần một, Sửu hai, Tý ba, Hợi bốn nên Thần Kể ở cung Hợi.

Thái Tuế, tức Tuế Cả

Muốn tìm Thái Tuế, lấy số tích niên đến năm cầu việc, trừ dần cho sáu mươi. Số còn lại thì khởi từ Giáp Tý đếm hết số dư, và đó là thần nơi Thái Tuế đóng. Theo Kể Ngày thì Thái Tuế chính là can chi của ngày sinh, được gọi là Nhật Kể.

Văn Xương: vị phụ tướng nắm quyền sinh sát

Thiên Mục Văn Xương gọi tắt là Chủ Mục. Muốn an sao, người xưa dùng vòng kỷ dư, trừ dần cho mười tám, và số dư dưới mười tám dùng làm số an sao. Ở khối dương, sao Văn Xương khởi từ Thân, tức cung Vũ Đức, chuyển xuôi qua mười sáu thần. Khi gặp Kiền và Khôn thì lưu hai toán, còn ở các cung khác mỗi năm một toán. Ở khối âm thì khởi từ Dần, tức cung Lã Thân, đi xuôi mười sáu thần, gặp Cấn và Tốn thì lưu hai toán.

Với năm Đinh Mão, vòng kỷ dư 304 chia cho mười tám được mười sáu vòng dư mười sáu. Lấy mười sáu để an. Ở khối âm, khởi từ Dần chuyển xuôi: Dần một, Mão hai, Thìn ba, Tốn bốn, Tốn năm, Tỵ sáu, Ngọ bảy, Mùi tám, Khôn chín, Thân mười, Dậu mười một, Tuất mười hai, Kiền mười ba, Hợi mười bốn, Tý mười lăm, Sửu mười sáu. Vậy Văn Xương đóng tại Sửu ở khối âm. Ở khối dương khởi từ Thân và gặp Kiền thì lưu toán nên số mười sáu rơi vào cung Mùi.

Với năm Nhâm Tý, vòng kỷ dư 289 chia cho mười tám được mười sáu, dư một, nên Văn Xương an ở đầu vòng cho cả hai khối: ở Thân trong khối dương và ở Dần trong khối âm. Với năm Mậu Dần 1998, vòng kỷ dư 315 chia cho mười tám được mười bảy, dư chín. Lấy chín để an thì Văn Xương ở khối âm đóng tại cung Khôn, ở khối dương đóng tại cung Cấn.

Thiên Mục Văn Xương là phụ tướng của Thái Ất, thuộc về hàng thượng tướng của bên chủ, nắm quyền sinh sát. Vì thế mới có thêm Chủ Đại Tướng và Chủ Tham Tướng. Văn Xương khởi từ Đức Võ, vị thần cầm đầu, rồi đi thuận chiều và lưu toán, lưu hai toán ở cặp Kiền Khôn và cặp Cấn Tốn.

Thủy Kích: người đếm từ Thần Kể đến Văn Xương

Địa Mục Thủy Kích còn gọi là Khách Mục. Để an Thủy Kích, người xưa tính từ ngôi có Thần Kể đóng, đếm tới ngôi có Văn Xương được bao nhiêu ngôi, rồi lại tính từ cung Cấn trở đi thuận cho đủ số ngôi ấy thì đó là ngôi an Thủy Kích.

Với năm Nhâm Tý ở khối dương, Thần Kể ở Dần, Văn Xương ở Thân. Từ Dần đếm xuôi tới Thân được chín ngôi. Lại đếm từ Cấn đi xuôi đủ chín ngôi thì tới cung Khôn, và đó là chỗ Thủy Kích đóng. Ở khối âm, đếm từ Thần Kể ở Thân đến Văn Xương ở Dần cũng được chín ngôi, rồi tính từ Cấn cũng đến Khôn. Vậy năm Nhâm Tý, Thủy Kích ở cả khối âm lẫn khối dương đều an tại cung Khôn.

Với năm Đinh Mão, vòng kỷ dư 304. Ở khối dương, Thần Kể tại Hợi, Văn Xương tại Mùi. Từ Hợi tới Mùi có mười một ngôi. Tính từ Cấn đến Dậu được đủ mười một ngôi, vậy Thủy Kích an tại cung Dậu. Ở khối âm, Thần Kể tại Tỵ, Văn Xương tại Sửu, từ Tỵ tới Sửu cũng có mười một ngôi, và tính từ Cấn đến Dậu cũng đủ mười một ngôi, nên Thủy Kích cũng an tại Dậu.

Nguồn: Nguyễn Bỉnh Khiêm, Thái Ất thần kinh.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Nhập môn