Bài tổng quan
Thứ tự xem một quẻ và con đường tự học cùng Dịch
Ai cũng biết hóa khắc là mất tiền, nhưng mất tới lúc nào thì còn tùy hào đang vượng hay suy. Chẳng ai tìm đủ mọi trường hợp nhánh trong một cuốn sổ, chỉ có thể tự thống kê mà ra…
Thứ tự ưu tiên khi đứng trước một quẻ
Để việc tiếp cận nhanh hơn, cần làm rõ thứ tự ưu tiên khi xem một quẻ.
Bước thứ nhất là chọn Dụng thần, rồi xét bản chất vượng suy của các hào. Khi xét Dụng thần vượng hay suy, cần chú ý tuyệt đối không kẹp Tuế vào. Dù Tuế có sinh hợp hay lâm Dụng cũng không làm tăng hay giảm lượng của hào. Tuế vẫn có dùng, tuy không phải trong mọi trường hợp, nhưng vẫn có; dùng thế nào thì để sau, đừng vội.
Bước thứ hai là quan hệ giữa Thế và Dụng. Vì sao cần chú trọng quan hệ Thế và Dụng cho những việc trực tiếp liên quan đến mình? Bởi mỗi người chỉ kiểm soát được tối đa là chính mình; những điều khác không chỉ do ý chí mà thành. Đôi khi có những sự may mắn kiểu bất chiến tự nhiên thành, nhưng cũng không phải tuyệt đối, chỉ là thiểu số, nên tư thế của bản thân hiện tại đối với câu chuyện vẫn là điều quan trọng. Trôi theo tự nhiên, hay theo số phận, thì xa thì loài người vẫn ở trong hang, gần thì chẳng có đèn điện. Thuận tự nhiên hay không là chuyện tương lai nhìn lại, không nằm ở hiện tại. Việc của tương lai cứ để tương lai tự giải quyết, đừng vội, vì ai cũng sẽ tự đến tương lai, dù muốn hay không.
Bước thứ ba là xét Thế vượng hay suy. Thế giới của con người phát triển theo quy chiếu đa chiều, tham chiếu theo chiều nào là sự lựa chọn của mỗi người. Lưỡng toàn kỳ mỹ, cả Thế lẫn Dụng đều động vượng và sinh hợp nhau thì thích quá, nhưng không phải lúc nào cũng tuyệt vời như thế. Điều đó tương đương với mâu thuẫn giữa sống và tồn tại, hay gần hơn là vì tiền hay vì vui, và đó là sự lựa chọn của mỗi người. Chẳng hạn Tài vượng mà Thế hưu thì tiền nhiều nhưng làm không vui. Nếu hỏi về lương trong công việc thì có thể xem thêm các hào từ 1 đến 5 để biết không vui vì đâu. Với Quan cũng tương tự, nhưng Quan báo tiềm năng thăng tiến trong tương lai chứ không báo hiện tại. Đó là chỗ khác nhau giữa xem Quan và xem Tài trong công việc. Lưu ý xem hai quẻ, không nhập chung mà xem cả Tài lẫn Quan, vì Tài là Nguyên thần của Quan: nếu tĩnh thì vô thưởng vô phạt, còn nếu động thì xét rất phức tạp, như Tài nhập Mộ là việc hỏng, chứ không phải chờ đến lúc xung Mộ là được lên chức. Việc xét Nguyên thần là việc nhạy cảm, không nằm ở ý chí, dù Dụng thần vượng đến mấy.
Nếu Thế suy (nhớ rằng đây là việc trực tiếp liên quan đến bản thân, không bao gồm những việc như sức khỏe người thân), thì việc vất vả, hao hơi sức; còn nếu Thế vô căn thì đành chịu cả mong cầu. Sự lựa chọn vẫn nằm ở mỗi người, dù lựa chọn là điều bất hạnh, nhưng ai cũng phải đối mặt lúc nào đó, và khi phải chọn thì không chọn cũng là một sự chọn. Vì sao lựa chọn là bất hạnh? Vì hai bên tương đương nhau ta mới phải chọn; nếu một bên áp đảo bên kia thì đó không còn là lựa chọn. Dưới con mắt người ngoài, những điều như vui hay tiền ta đều có thể có đủ, nhưng lựa chọn nào có phải chỉ là một và hai, mà còn có những điều đi kèm theo đó. Đã chọn thì đành tự nguyện chấp nhận cả những điều đi kèm, dù muốn hay không.
Hào biến và hào động: tương quan trong quẻ một, hai và nhiều hào động
Hào biến chỉ được xét khi có hào động, và nó cho thông tin nhiều hơn là sức mạnh.
Bước thứ tư là tương quan giữa hào biến và hào động. Hào biến là hào xuất hiện tương ứng với một hào đang động. Khi ấy hào biến tác động duy nhất vào hào động tương ứng, buộc phải xem vượng suy; ở phần xa hơn, nó đóng vai trò bổ trợ thông tin để báo những phần liên quan. Phải nhớ tuyệt đối: có hào động mới xét hào biến, không có trường hợp nào gọi là hào biến của một hào không động, dù ở phương diện bổ trợ thông tin. Hào biến sinh gọi là hồi đầu sinh, khắc gọi là hồi đầu khắc, hợp gọi là hợp trói. Biến ra chính hào động thì gọi là quẻ Phục ngâm, xung gọi là quẻ Phản ngâm.
Hào biến có sự thú vị riêng. Ví như Nhật Nguyệt động sinh Dụng thần, một hào động nào đó khắc Dụng, thì chờ đến lúc xung mất hào động ấy là việc thành. Nhưng nếu Dụng vượng nhờ Nhật Nguyệt mà hóa khắc thì chờ lúc hào khắc thực là hỏng luôn. Đó là sự khác nhau giữa tác động của hào động và hào biến. Trường hợp động khắc hóa sinh lại khác, gọi là chín phần chết một phần sống, lay lắt qua được nhưng thiệt hại lớn.
Với quẻ đơn động: xét chuỗi biến động đối với Dụng và Thế. Lưỡng toàn kỳ mỹ thì chẳng có gì để nói. Nhưng đôi khi gặp tình huống sinh Dụng khắc Thế; khi ấy biết rằng khi làm chung có người hại mình. Sinh Thế khắc Dụng: người làm chung vô dụng. Tiết Dụng sinh Thế: người làm chung biển thủ. Tiết Thế sinh Dụng: bản thân không có khả năng làm, dù cố chạy theo. Điều này vẫn không ngoài việc định lượng bản thân trong câu chuyện để chọn tư thế hợp với số phận. Còn chuyện thuận tự nhiên ở thời điểm hiện tại, tạo ra lửa đã là việc nghịch tự nhiên rồi. Việc xét thuận nghịch tự nhiên ngang như việc cho mình chơi với trời, như loài người xây tháp Babel. Con người hãy tự nắm lấy đời mình, đừng giao vào tay ai, cũng đừng đổ thừa cho ai. Vì đến khi có thể xét được thuận hay nghịch số phận thì cũng có thể là lúc sắp nhắm mắt xuôi tay, lãng phí vô cùng.
Với quẻ hai hào động: xem kết quả của nhóm hai hào động. Quẻ động càng nhiều, càng dễ nhầm. Khi xem cặp hào động, cần lưu ý các tình huống: nếu vượng nhập Mộ thì không bỏ mà chờ xung rồi xem kết quả của cặp, dù đó là Nguyên thần thì cũng khác chút so với trường hợp đơn động. Hai hào xung nhau thì động biến mất; hai hào hợp nhau thì ứng theo thứ tự xung mà lần lượt tác động, thay vì tác động lẫn nhau.
Với quẻ nhiều hào động: thứ nhất, nhóm được thành hai nhóm ngũ hành thì xét tương quan hai nhóm dựa trên nguyên lý hào mạnh ra kết quả, rồi lấy kết quả quy chiếu với Thế và Dụng. Thứ hai, đa động bất đối xứng thì chế ra nhiều kỹ thuật, nhưng tựu chung là tác động ngược theo cặp; lưu ý xung nhau là mất.
Tư duy với Dịch: đừng để quẻ thay mình hiểu người hỏi
Cùng một quẻ, người hỏi đang muốn gì quyết định cách đọc hơn bất cứ quy tắc nào.
Một người bạn gửi một quẻ lấy trong một cuốn sách nọ, hỏi xem đọc đúng hay sai: Quy Muội hóa Càn, hỏi về con, ngày Bính Ngọ tháng Dần.
Quẻ này dễ thấy có ba hào động, nhưng sẽ xem hợp thành hai nhóm hào. Kỹ thuật xem từ ba hào động trở lên thường là: nếu hợp thành hai nhóm hào thì xem tác động của hai nhóm rồi lấy nhóm mạnh để quy chiếu với Dụng và Thế mà đoán. Ở đây có hai nhóm gồm Kỵ và Nguyên, nhưng Nguyên bị Phá nhập Mộ, mà Nguyên lại là Mộ của hào động. Khi xem quẻ về sức khỏe, có mấy điểm cần lưu ý: Nguyên thần động mà nhập Mộ là chết; ngoài ra Phá hóa Tuyệt hay hóa Mộ thì hào ấy xem như biến mất. Vì vậy cách xem thông thường cho quẻ này là hỏng.
Nhưng có thể cho rằng người này vừa mắc một bệnh gì đó nên vội đi hỏi, và rốt cuộc là thoát, vì quẻ hóa Lục xung nên không nằm ở tính chất các hào trong quẻ. Người chơi chưa đủ, chỉ hỏi nôn nóng.
Ngoài ra, việc tư duy để kết nối Dịch với cuộc đời nằm ở vốn sống của mỗi người và ở việc đối thoại. Có người hỏi khi nào bán được đất thì xem ứng kỳ, bất kể Tài vượng hay suy. Điều đó chưa chắc đã đúng. Một người cần bán đất mà chưa bán được ngay thì mới hỏi. Bán đất nghĩa là cần tiền lớn, mà tiền lớn thì không nằm ở sự thuận lợi nhất thời. Nên người ấy thực chất muốn bán ngay hơn là hỏi khi nào bán được. Khi đó hào Tài suy báo giá bán chưa hợp lý; Tài vượng mà Ứng suy báo giá hợp lý nhưng chưa tiếp cận được khách hợp lý. Thế suy nghĩa là bản thân chưa đủ sẵn sàng, vậy thôi.
Cách tự học nhanh nhất cùng Dịch
Sai một lần chưa biết, sai vài lần cũng vậy, nhưng số liệu càng nhiều thì điểm cuối càng dễ thấy.
Dịch cũng như nhiều thứ khác, chưa gặp thì chưa biết. Nhưng không có nghĩa là sai; biết ngay vì sao mình sai thì lại khác. Sai một lần chưa chắc đã biết, vài lần cũng thế. Muốn đến tận cùng của Dịch phải trải qua quy trình thống kê dựa trên bộ khung. Bỏ qua bộ khung, chưa gặp sẽ chưa biết, và lúc ấy mọi phán đoán mang tính chủ quan, tựa vào kinh nghiệm. Số liệu thống kê càng nhiều thì việc suy diễn ra điểm cuối càng dễ.
Giả sử Huynh đệ động hóa khắc trong việc hỏi tiền. Ai cũng biết hóa khắc là mất, nhưng ứng kỳ tới đâu? Nếu Huynh suy thì ứng kỳ tới Tài; Huynh vượng thì ứng tới Quỷ; Huynh Không Phá ứng tới Huynh. Nhưng Huynh vượng, Tài suy thì lại mất tiền cho đến khi thực Quỷ. Còn nếu hỏi về công danh, Tử tôn động hóa khắc thì thời điểm ứng kỳ của khắc lại là lúc được thăng quan.
Điều đó cho thấy tuy gần giống nhưng không giống tuyệt đối. Ở mức bề mặt, chỉ cần xét vượng suy của Dụng, Thế và hào động là suy ra được công thức chung cho mọi việc; nhưng ở mức vi mô hơn, các trường hợp nhánh sẽ không hoàn toàn giống nhau. Muốn tự nắm các tình huống nhánh ấy thì không thể tìm đâu ra đầy đủ cả, chỉ có thể thông qua thống kê mà tự tìm ra. Vì cuộc đời muôn hình vạn trạng, chuyện nghìn năm trước và nghìn năm sau nào có giống nhau. Ngày xưa nào có điện thoại, nào có công ty tư nhân, nên việc xin việc ngày xưa chỉ xem Quan, và chia văn võ mà ra Phụ và Quỷ. Tương tự như thế, con đường tự bước của mỗi người vẫn phải đi qua những lần tự thống kê như vậy, cho đến khi không cần gì để tìm nữa. Đừng làm việc một ngày cho trăm năm. Tất nhiên điều đó vẫn tùy mong cầu của từng người khi lựa chọn.
Các trường hợp nhánh nên ghi nhớ gồm:
Hỏi tiền mà Huynh động hóa khắc: Tài vượng Huynh suy thì ứng kỳ ở Tài; Tài suy Huynh vượng thì ứng kỳ là lúc khắc Huynh kết thúc; Tài vượng Huynh vượng thì ứng kỳ thực khắc mà có; Tài suy Huynh suy thì ứng kỳ ở Huynh. Huynh hóa Không Phá thì trước lúc ứng kỳ mất liên tục; Huynh Không Phá hóa khắc cũng tương tự.
Hỏi con: Huynh hóa Tử, Huynh hình thì con có tật.
Hỏi tiền trong ngày: Nhật Nguyệt khắc mà hào động vượng sinh thì trong ngày có tiền.
Hỏi chuyện đi xa: lúc xung hào động, biết là trắng tay.
Hỏi bệnh: Kỵ hóa khắc thì không chết cho đến lúc thực Kỵ là hết; ứng kỳ Kỵ là bệnh nặng. Hỏi bệnh mà Cừu vượng thì mất vào lúc ứng kỳ của Dụng.
Hỏi trộm: Quan tĩnh thì lấy Quan; Kỵ và Thế động thì lấy Kỵ.
Ứng kỳ Mộ là lúc xung Mộ, nhưng chưa tới thì chưa tính.
Nguyên tắc tạo ra cuộc chơi với Lục hào không ngoài các nguyên tắc trên, và mỗi người sẽ tự tìm ra con đường riêng của mình.
Nguồn: Vi Nhất Sơn, Bốc Dịch Đại Toàn.
