Bài tổng quan
Thần quý và các tướng bước vào cung, họa phúc hiện ra sao
Một vị thần bước vào cung Tốn thì gió lay cây đổ, bước vào cung Ly thì sét đánh vật cháy khô. Chín vị thần quý đi theo Thái Tuế qua các cung, mỗi vị mang một thứ khí trời riêng, và sau họ là những viên tướng quyết định vua tôi trung hay phản. Có vị đem sương lạnh, có vị chỉ cần đến là…
Mục lục · 17 phần
- 01Chín vị thần quý chuyển vận theo tiết khí
- 02Thái Nhất: sông tắc, nước dâng, mưa dầm
- 03Nhiếp Đề: gió sương lạnh lẽo, bệnh phù thũng
- 04Hiên Viên: muôn vật tươi tốt, nhưng hung thần cùng đến thì sấm sét
- 05Chiêu Dao: gió lay cây đổ, núi sông chấn động
- 06Thiên Phù: bụi trần bốn mặt, thuế nặng dân lầm
- 07Thanh Long: sương dày bụi trắng, hạn cháy theo binh
- 08Hàm Trì: lúa cháy, dân tàn, núi lở cây đổ
- 09Thái Âm: trăng mờ, đàn bà giữ chính
- 10Thiên Ất: nắng hạn, chướng khí, nóng uất
- 11Đại Chủ: ngôi tướng của đại thần
- 12Tham Chủ: nước to và binh ngoài biên
- 13Đại Khách: bậc đại tướng thuộc Thủy
- 14Khách Tham Tướng: lúa chín ít vì gió nhiều
- 15Văn Xương: người đỡ ngôi thượng tướng
- 16Thủy Kích: binh lửa và những chức quan cao
- 17Đại Du Thiên Mục: người đi tuần xét bốn bề
Chín vị thần quý đi theo Thái Tuế qua các cung, và vị nào bước vào cung nào thì khí trời ở nơi ấy đổi theo. Có vị đem sương lạnh phủ trắng bốn phương, có vị đem nắng nỏ cháy khô cây cỏ, có vị vừa đến thì gió đã lay cây đổ. Người xưa chép lại từng điềm một để nhìn trước mùa màng, bệnh tật và lòng người.
Chín vị thần quý chuyển vận theo tiết khí
Chín vị thần quý gồm Thái Nhất, Nhiếp Đề, Hiên Viên, Chiêu Dao, Thiên Phù, Thanh Long, Hàm Trì, Thái Âm và Thiên Hoàng, cũng gọi là Thiên Ất. Ở nơi nào các vị này đứng thì nơi ấy nhìn chung có phần may mắn. Các vị trải qua chín cung theo đúng thứ tự tiết khí. Lập xuân là lúc cung Cấn được dựng lên. Đến xuân phân thì khí về cung Chấn. Lập hạ ở cung Tốn, hạ chí ở cung Ly, lập thu ở cung Khôn. Cung Đoài ứng với trung thu. Lập đông khí đến cung Kiền, và đông chí chuyển sang cung Khảm thì đủ một vòng.
Chín vị thần quý bước theo chân Thái Tuế, và Thiên Ất đi sau cùng. Khi các vị gặp những thế đối, cách thì tai họa nặng thêm. Khi ấy phải tìm xem vị thần nào đang suy yếu, vì đó là đầu mối của họa. Nếu thần hung hội vào thì phúc đi và họa đến. Nếu thần lành hội vào thì phúc đến và họa tan. Nơi nào có phương Hòa, phương Mạnh gắn vào, thì họa giảm đi một nửa, và phải luận từng cung. Phương Thắng là nơi lợi cho việc đánh phạt công thành, còn phương Lo thì nên giữ vững, an lòng ba quân.
Hung thần đến thì phúc đi, thần lành đến thì họa tiêu.
Thái Nhất: sông tắc, nước dâng, mưa dầm
Mỗi vị bước vào là một cơn thời tiết khác, và vị đầu tiên mang theo nước.
Thái Nhất đến thì sông bị tắc, nước dâng, mưa dầm gây tai họa, lúa vừng tổn hao. Khi Du Lớn và Bốn Thần cùng vào, khí trời trở nên độc, dân mắc bệnh nặng. Nếu Du Lớn vào cung Kiền thì thổ công nhộn nhịp, băng sương và khí lạnh làm hại người, nước đóng thành băng. Lại có những điềm đi kèm như trùng lạ, tuyết đóng, mưa rơi, nước sông đầy rẫy, nơi nơi ngập tràn.
Vào cung Cấn thì nước và đất nhiều việc, dân mắc bệnh. Vào cung Chấn thì lúa bị nạn, trùng gai phá hại, sương rơi nước hạn không đúng kỳ. Vào cung Tốn thì kẻ bề tôi chuyên quyền, mưu nhiều, lúa hại, thổ công cũng nhiều việc. Vào cung Ly thì sưu thuế nặng nề, sấm sét đánh vật, nắng nỏ cháy khô. Vào cung Khôn thì binh nổi lên, nhưng ít nước mà nước lại đến to. Vào cung Đoài thì binh nổi lên đánh dân. Nước dâng, công việc quân lính nặng nề. Tháng Sửu, tháng Mùi nặng thêm, và sự tình lan sang những việc lớn của nhà vua.
Nhiếp Đề: gió sương lạnh lẽo, bệnh phù thũng
Nhiếp Đề đến thì lạnh lẽo, gió sương dày. Vật bị tai, lúa bị hại. Bệnh tật thương hàn, ôn dịch phát ra. Người ta lo chứng phù thũng, tay chân sưng, mặt vàng vọt, da thịt phồng lên. Nếu các thần hung hội cả vào thì lửa gây tai, nước hạn, binh nổi lên.
Nếu Thái Ất cùng vào các cung Khôn, Chấn, Đoài, Kiền thì dân suy yếu, lúa quý, nóng lạnh thất thường. Nếu vào các cung Tốn, Cấn, Khảm, Ly thì lạnh lùng làm chết vật, dân mắc dịch bệnh tai ương.
Hiên Viên: muôn vật tươi tốt, nhưng hung thần cùng đến thì sấm sét
Hiên Viên chăm lo tám phương, làm cho muôn vật tốt tươi và gió nhường chỗ cho gỗ lớn lên. Khi gặp thần lành thì khí trời ấm áp hòa thuận, cây xanh tốt, lúa năm ấy thu gấp bội. Nhưng nếu Du Lớn cùng đồng qua thì dân lo nóng lạnh thất thường, lúa sa sút nhiều. Sấm trời sét đánh làm vật tiêu điều, lại thêm trộm cắp không ngăn nổi. Khi chín cung chuyển ba mùa, sấm ran sét nổ càng dữ, gió to thêm nữa.
Chiêu Dao: gió lay cây đổ, núi sông chấn động
Chiêu Dao đến cung Tốn hành Mộc thì gió lay, cây đổ, lúa mùa hỏng thu hoạch. Nếu Bốn Thần và Du Lớn cùng khu vực thì sâu phá lúa, gỗ, dân xơ xác tàn tạ. Người chết lẫn trong những cơn bệnh bạo phát. Trẻ con mắc chứng sài đẹn. Đất đai chấn động, núi sông rung chuyển. Binh đao, nước hạn, dân không được an toàn.
Ở chín cung, hễ Chiêu Dao đến thì tháng ngày nhiều gió, mưa tràn, trời tối tăm. Người xưa chú rõ từng nơi: ở cung Tốn, gió làm vật cháy chín; ở cung Cấn, gió mưa liên miên; ở cung Ly, gió làm vật khô héo vì hạn; ở cung Chấn, sấm mưa sinh ra tai họa.
Thiên Phù: bụi trần bốn mặt, thuế nặng dân lầm
Thiên Phù gặp Bốn Thần cùng Du Lớn đồng cung thì bụi trần phủ kín bốn mặt, dân lầm than, thuế cao. Thổ công, nước, lửa, binh đao cùng nổi lên. Cây cấy bị ép, sâu hoàng phá, người phải chờ lao nhọc. Vào cung Khảm thì dân bệnh, sông vỡ. Sương ngưng chết vật vì ngang cung Cấn, Đoài. Cung Kiền thì rét cóng, cung Ly thì hạn tai, cung Tốn thì khô nỏ, mưa đá, lúa bị vùi, sấm nứt đất, lại thêm bọn thổ công làm khó. Ở cung giữa thì hương sắc quốc gia tàn phai, và tháng Sửu, tháng Mùi hại về khí âm.
Vào cung Chấn thì lúa tổn, hạn, sương âm; thêm mưa, sâu lúa lại dịch bệnh hoành hành. Vào cung Khôn thì cháy lúa, nắng hanh; mưa thừa thì người bệnh và công trình đắp xây gặp trở ngại.
Thanh Long: sương dày bụi trắng, hạn cháy theo binh
Thanh Long đến thì lạnh lẽo sương dày. Bốn phương đều bụi trắng, vật sẩy và binh đao theo sau. Thần hung hội họp thì cùng neo vào một chỗ; đó là Du Lớn, Du Nhỏ và Bốn Thần. Cả bọn cùng làm hạn cháy, dân ly tán và dịch hoành hành. Nếu vào cung Ly thì nước lụt, thêm binh. Nếu vào cung giữa thì tháng cuối năm đói rình, trời rét buốt. Còn các cung khác có Rồng vào thì vận trời lạnh buốt, thêm gió sương gào thét.
Hàm Trì: lúa cháy, dân tàn, núi lở cây đổ
Hàm Trì đến thì lúa năm ấy cháy, dân tàn, giặc cướp, nước dâng xa. Người mắc bệnh tật khó qua khỏi. Núi lở, cây đổ, bệnh thành trúng phong. Nếu thần Du cùng Thái Ất gặp nhau thì gió Tây hơi mặn, trùng lạ, yêu ma xuất hiện. Hàm Trì đến cung nào thì bốn mùa thay phiên nhau pha sương lạnh vào đó.
Thái Âm: trăng mờ, đàn bà giữ chính
Thái Âm tính khí nhiều mối. Trời trăng mờ mịt, vắng bóng sao. Khi thần Du yêu ác cùng vào thì đàn bà giữ quyền chính, thần ở ngôi cao chuyên quyền. Việc xây dinh cất viện làm dân phiền, gió mưa trái mùa, lúa bị tổn thương khắp miền. Khi Thái Âm mở đường đến chín cung thì mây xanh nhiều, ít khi tạnh, sương lạnh hòa vào.
Thiên Ất: nắng hạn, chướng khí, nóng uất
Thiên Ất đến thì khí gay gắt, hạn hán, chướng khí và ôn dịch nóng uất làm người đau. Sâu bay phá hại lúa. Gươm đao, khói lửa đến khi gặp thần Du, tức Du Lớn, Du Nhỏ, Bốn Thần. Nếu vào cung Khảm thì có điềm thu thuế, người không yên, lửa nóng nung. Các cung khác cũng nóng như lửa. Điềm ấy báo trời hạn khô nóng, trùng lạ bắt đầu thò chân ra.
Đại Chủ: ngôi tướng của đại thần
Mỗi năm Thái Ất còn dắt theo những viên tướng, và người xưa muốn biết họ sẽ trung hay sẽ phản.
Đại Chủ là ngôi tướng của đại thần: các bậc công khanh, tư mã, những chức quan cao đều thuộc phần của sao này. Nếu Đại Chủ đi vào nơi dương tuyệt thì nạn rơi vào thế của nhà vua, và đó là điềm Đại Tướng sinh lòng thoán nghịch. Nếu Đại Chủ đứng ở các cung bốn, chín, hai, bảy thì nạn rơi vào hàng tể tướng, và người phụ tá cũng bị coi nhẹ. Nếu Đại Chủ ngồi vào các cửa Thương, Đổ, Tử, Kinh, hoặc các sao Thiên Trụ, Thiên Bồng, Thiên Nhuế có tình hại nhau thì Đại Tướng sẽ chết.
Nếu Đại Khách và Thủy Kích cùng chạy với Đại Chủ thì Đại Khách chắc chết, và có màu tang. Nếu Đại Chủ, Đại Khách và Thủy Kích đều bị chặn giam ở dưới can Bính hay can Đinh thì Đại Tướng chủ bị trói buộc, khó tìm đường lánh. Nếu Đại Chủ vào cung Cấn thì người thiếp yêu trong trướng quân sinh chuyện chuyên quyền. Nếu Đại Chủ đối với cung Thái Ất thì vua tôi cách bức, nghi kỵ nhau. Nếu Đại Chủ bị bách bởi Thái Ất thì vị gián thần đi tìm cách dối vua.
Tham Chủ: nước to và binh ngoài biên
Tham Chủ vào nơi nào thì nơi ấy có nước to. Tham Khách vào nơi nào thì có binh đao nổi lên ở ngoài biên. Nếu Thái Tuế và Kể gặp Thái Ất cùng vai thì đại thần mất lễ, hoàng hậu nuôi âm mưu. Nếu Tham Chủ cùng Văn Xương và Đại Tướng chung một ngôi thì ở ngoài quan ải có đối phương mạnh hơn mình.
Nếu Tham Chủ rơi vào đất tuyệt thì chết và bị chôn. Nếu gặp cửa hung, tướng dữ và dồn về can Canh, can Tân thì ra quận hại đến cả ba quân, và Tham Chủ phải chết, đáng tiếc cho tình người.
Đại Khách: bậc đại tướng thuộc Thủy
Đại Khách thuộc Thủy, tinh Thìn, là bậc đại tướng oai hình, là quân sư. Nếu Đại Khách đồng cung với các cung ba, bảy của Thái, hoặc đồng cung với Đại Chủ, Đại Tiểu, hoặc cùng ngôi với hai sao Tâm và Phòng, thì nơi gặp nhau ấy đều có sấm sét. Khi Đại Khách gặp con số một và tám thì nước tràn, khi gặp sáu và bảy thì quận khởi quân về triều phía Tây Nam.
Khi Đại Khách và Thiên Mục cùng một cung thì gọi là Đề dẫn; bề tôi ở ngoài nước mưu toan hai lòng. Khi Đại Khách chặn Đại Chủ, hai bên cùng chạy chung. Khi Đại Khách và Kể Thần cùng đồng bài thì có điềm mưu thoán giết, bầy tôi chuyên quyền. Nếu đứng ở trước hay sau Thái Ất thì bầy tôi áp lấn quyền trên. Nếu có thêm Thần Gián ở đó thì nước ngoài ngày ngày ngóng trông khẩn khoản.
Khách Tham Tướng: lúa chín ít vì gió nhiều
Khách Tham Tướng đến thì thóc lúa chín ít vì giông gió nhiều. Nếu gặp thêm tù, bách, hiệp, hoặc ngồi dưới can Ất, hoặc chầu về can Canh, can Tân, và nếu gặp cửa hung, tướng ác thì đều không lợi cho tướng quân giữ phòng. Khi Khách Tham và Chủ Tham cùng đứng một chỗ thì ngoài biên không có giặc giã mà vẫn có tranh hùng, chẳng yên. Khi cùng Đại Tiểu chặn nhau thì phải suy nghĩ đến sinh vượng của mỗi bên mới mong thắng mà về.
Văn Xương: người đỡ ngôi thượng tướng
Văn Xương đỡ ngôi thượng tướng, mọi điều lành dữ của năm đều xoay quanh việc dở hay mà ra. Văn Xương đến đâu thì điềm phát ở giữa trong nước. Nếu Văn Xương hoặc các thế tính, tù đứng ở cung Kiền, hoặc bị bách và kích, thì bề tôi dưới mưu hiếp vua. Nếu Văn Xương cùng ở với Di, Tuyệt thì Tiểu Du được vượng tướng và tội của bề tôi dưới thuộc vào vua. Khi Văn Xương cùng Thái Ất ở cùng một cung trong các cung một, chín, hai, sáu, bốn, tám, và Thái Ất mang vượng tướng thì vua giết bề tôi dưới.
Khi hai vị chạy cạnh nhau, Văn ở tám và Thái ở ba thì nạn đến thẳng với vua. Văn ở chín và Thái ở một thì cùng nhau tranh. Văn ở bốn và Thái ở sáu thì nạn đẩy tới tướng thần. Cửa hung, tướng dữ cùng can Canh, can Tân làm cho trung cung sai lệch nặng. Nếu ở đối xung thì nạn nhẹ hơn. Nếu Bách đứng trước hoặc sau Thái Ất thì bầy tôi nội gián, đồng tình âm mưu.
Thủy Kích: binh lửa và những chức quan cao
Thủy Kích là sao của binh lửa, tung hoành khắp nơi. Các chức Hồng lô, tư mã, tư không thêm dìu dắt theo. Thủy Kích vào đâu thì nơi ấy có nước, hạn, hoang vắng, hung. Dịch tai, binh lửa cũng đều ứng ở cung đối. Thủy Kích còn ghét ba sao Thất, Tâm, Phòng. Nếu phạm vào ba sao ấy thì sinh việc thoán đoạt, cùng neo với Thái Ất. Nếu Thái Ất có Thủy Kích theo bên tả bên hữu, và bị Bách, Phế thì thua chạy, vua và tướng đều phải kiêng.
Khi Văn Xương và Thủy Kích cùng làm hai vị đồng đò thì nếu vượng sinh thắng được mưu mô khác nhau. Nếu Thủy Kích ếm Đại Chủ, hoặc phế, hoặc tù thì có lợi cho việc công phạt để chế người.
Đại Du Thiên Mục: người đi tuần xét bốn bề
Đại Du Thiên Mục thuộc Thổ, mang oai nghiêm xét hỏi, đi tuần coi cả bốn bề. Nó đến đâu, người ở đấy đội ơn. Quân tướng dựng phép tắc nghiêm thì can gián được cả vua. Gặp tuần ấy cũng chẳng thiệt thua. Nếu thêm sưu dịch thì thừa sức làm tốn hại sinh linh.
Nguồn: Nguyễn Bỉnh Khiêm, Thái Ất thần kinh.
