Bài tổng quan
Tám lối nghĩ khi đọc quẻ và cách nhìn thẳng vào hình tượng
Hai người cùng nhìn một quẻ: một người loay hoay tra lời xưa mà không dám nói, người kia liếc qua đã kể ra cả một câu chuyện. Khác biệt không nằm ở kiến thức nhiều hay ít mà ở cách nghĩ. Có tám lối nghĩ giúp việc đọc quẻ bớt rối, và mỗi lối đều bắt đầu từ…
Hai người cùng nhìn một quẻ, một người loay hoay tra lời xưa mà vẫn không dám nói, người kia chỉ liếc qua là đọc ra được cả một câu chuyện. Khác biệt không nằm ở kiến thức nhiều hay ít, mà nằm ở cách nghĩ. Phép đoán dựa vào hình tượng và con số đòi hỏi một lối tư duy riêng, và lối tư duy ấy học được.
Đi thẳng từ hình tượng đến sự việc
Có những cách đoán buộc ta phải leo qua nhiều tầng quy tắc, và cũng có cách chọn đi thẳng đến chỗ cần đến.
So với lối đoán Mai hoa quen thuộc, phép này trực tiếp hơn nhiều. Nó đặt trọng tâm vào tâm pháp, vừa phân tích kỹ hình tượng của quẻ vừa không lệ thuộc vào lời quẻ và lời hào, cũng không dùng những phép huyền cơ phức tạp bên ngoài. Toàn bộ sức nặng của việc suy đoán nằm ở chỗ hiểu và nắm bắt ý nghĩa của quẻ tượng. Nó trung thành với phản ánh của hình tượng, lấy tượng số và lý để xem xét toàn bộ phương vị chứ không cố chấp vào một điểm, và không rập khuôn lý quẻ một cách giáo điều. Qua quan sát như thế, người đoán trở nên nhạy bén với mối liên hệ Dịch lý nằm trong hình tượng và con số, từ đó tìm ra vị trí của sự vật hoặc con người trong bản đồ ký hiệu của vũ trụ.
Điều đó có lý do. Tiên thiên bát quái vốn đến từ tự nhiên: người xưa nhìn trời, xét đất, lấy từ thân mình và từ các vật. Từ vật tượng hoặc con số mà suy ra quẻ tượng, rồi từ quẻ tượng quay lại hiểu vật tượng hoặc con số, nên tiên thiên không có lời quẻ lời hào. Sau này khi hậu thiên ra đời, mới cần lời để phụ trợ cho việc đoán. Phép đoán tượng số ưu tiên đọc thẳng quẻ tượng, vì nhờ đó người đoán không bị che khuất bởi lớp lời văn cổ.
Biến mà không loạn: không có phép cố định
Dịch là biến, nên bất kỳ công thức nào cứng nhắc cũng đi ngược lại nó.
Nguyên tắc của Dịch là biến đổi không ngừng, không dừng lại một chỗ. Đứng yên là vô dụng, nên phép của Dịch biến hóa rất lớn. Nó không có một quy luật cố định kiểu khoa học thực nghiệm, cũng không như một công thức một cộng một bằng hai. Con số trong Dịch có thể thay nghĩa tùy hoàn cảnh: một con số có thể bằng không, có thể bằng một con cá âm cộng một con cá dương làm thành vòng thái cực, có thể bằng hai người, một đôi vợ chồng gắn bó, có thể bằng ba, tức một nhà ba miệng ăn khi hai vợ chồng sinh thêm một đứa trẻ. Đó là cái ý trong câu “đạo sinh một, một sinh hai, hai sinh ba, ba sinh vạn vật”.
Sự vật trong vũ trụ cực kỳ phức tạp, không thể dùng thủ đoạn máy móc để tìm hiểu. Nếu dùng tư duy cứng nhắc, nhìn nhận một phép tắc cố định rồi học, thì không thể hiểu được. Người xưa nói phép vô định phép là vì thế: cách dùng cụ thể khi đoán không có phép tắc khô khan cố định. Phép tắc của Dịch chính là phép tắc căn bản của muôn vật. Sự phát triển và biến hóa của sự vật đều phải tuân theo nó, ngoài nó không có phép nào thay thế hay vượt qua, và đó là ý của “phép vô định phép”.
Tám lối nghĩ khi đứng trước một quẻ
Không có một chiếc kính duy nhất, nhưng có thể thay nhiều chiếc kính khác nhau cho đến khi bức tranh trở nên rõ ràng.
Về thực hành, phép đoán dùng lối suy luận loại suy: dựa vào một số điểm tương đồng giữa hai hoặc hai nhóm đối tượng để suy ra những điểm tương đồng khác giữa chúng. Có thể gom thành tám cách nghĩ.
Nghĩ theo chỉnh thể
Nhìn vào toàn cục của quẻ, chứ không chỉ một góc. Xem quẻ tượng, thể dụng, khí vượng suy, ý nghĩa tên quẻ, các quẻ thác và quẻ tống của nó, loại suy, mối quan hệ bên trong giữa nó với sự việc, âm dương ngũ hành của nó.
Nghĩ theo lý tính
Quẻ được đoán phải phù hợp với lý của quẻ, và cách nghĩ về lý Dịch phải hợp tình hợp lý. Chẳng hạn cầu tài mà gặp Đại Hữu thì có lẽ khá dồi dào, vì ý của Hữu là có rất nhiều, giàu có.
Nghĩ theo biện chứng
Một quẻ tượng hay hào tượng đều chứa đựng âm dương ngũ hành mâu thuẫn, nên cần phân tích hai mặt. Chẳng hạn đoán có mang thai hay không mà gặp Tốn, nếu theo thể dụng thì tỷ hòa là cát. Nhưng ở đây thể dụng còn là quẻ âm, tính cách bài xích nhau, Tốn lại là gió, tượng không ổn định, cho nên đoán là không có thai. Nếu có cũng khó giữ được.
Nghĩ theo hình tượng
Xem quẻ đoán được, hình tượng của nó giống vật gì, việc gì. Ví dụ đoán nơi chốn hay kiến trúc, thượng quái Ly là lửa, là điện; hạ quái Cấn là núi, là bất động, đứng yên. Gộp lại, hình tượng ấy gợi nên một trạm điện.
Nghĩ theo vòng tròn
Phân tích quẻ tượng và hào tượng đi qua đi lại để tìm kết luận chính xác. Giả sử đoán xuất hành và hạ quái là quẻ thể Càn kim được thượng quái Ly hỏa sinh, xuất hành tốt, đồng thời có thu hoạch. Nhưng quẻ hổ của quẻ ấy là Đại Quá, bên trong ẩn tượng Khảm hiểm, nên đi phải cẩn thận, đề phòng hành vi quá đáng dẫn tới tai họa trắc trở.
Nghĩ theo linh cảm
Sau khi nhìn quẻ tượng, trong đầu lập tức ngộ ra, hiểu rõ mối liên hệ bên trong giữa quẻ và sự việc. Cách này cần tích lũy kiến thức cơ sở vững và nhiều kinh nghiệm thực tế. Linh cảm có thể bẩm sinh, có thể do tu luyện khí công, hoặc do ngộ ra khi học Dịch.
Nghĩ theo nhiều góc nhìn
Xem vấn đề không chỉ mặt chính diện mà còn thấy mặt trái và mặt trái của cạnh bên. Sau khi nhìn xong bốn bên tám hướng, còn phải xem biến hóa nội tại của quẻ, tức quẻ thác, quẻ tống, quẻ hổ.
Nghĩ theo hướng sáng tạo
Tôn trọng cổ nhân nhưng không câu nệ lời xưa; học và dùng bát quái cần dạn dĩ kết hợp với xã hội thực tại, phân tích vấn đề từ gốc, sáng tạo cái mới trên nền tảng lợi dụng và cải biến cái cũ. Thời xưa ngựa là thứ không thể thiếu trong đời sống con người, nên trong lời quẻ và lời hào ngựa xuất hiện nhiều lần, còn máy bay, ô tô hay tàu hỏa chưa từng có. Ngựa thực chất là tượng của sự đi lại mạnh mẽ, nên có thể mở rộng ra rất nhiều vật. Vì vậy khi học Dịch, không bắt chước ngôn từ cổ nhân một cách máy móc, mà cho quẻ những vật tượng và việc đời mới. Sự vật luôn phát triển, Dịch cũng vậy.
Tám lối nghĩ ấy có liên hệ và cũng có khác biệt, hợp lại thành một thể hữu cơ nhất quán. Khi phân tích một quẻ cụ thể đều phải vận dụng, và sau khi dùng nhiều thì cảm nhận bằng cảm tính của kinh nghiệm sẽ chuyển thành nhận thức quen thuộc của lý tính. Quan trọng là khi nghĩ, phải thoát khỏi sự trói buộc của lối nghĩ cũ để bước vào tư duy hình tượng và linh cảm, đừng suy xét sự việc quá phức tạp hay phô trương quá mức. Hãy tìm hiểu nhận thức trực quan giản dị của người xưa: thời ấy họ quan sát chất phác, thật thà, chưa có “kiến thức hậu thiên” như chúng ta hôm nay. Chuyện đời vốn giản dị, minh bạch, nên hãy gạt bỏ mọi lớp vỏ ngoài mà đi thẳng vào gốc. Nếu bị hiện tượng bên ngoài mê hoặc thì càng biến hóa càng phức tạp, càng nghĩ phức tạp càng dễ sai lầm.
Nhìn thẳng vào quẻ tượng
Quẻ không tự nhiên mà có, và hào không tự nhiên mà động, nên mỗi hình tượng đều đang muốn nói một điều.
Nguyên tắc nền ở đây là quẻ không hình thành bừa bãi, hào trong quẻ cũng không động bừa bãi. Mọi sự hình thành và biến động đều có nguyên nhân nội tại, nhất định là để thể hiện điều gì, báo cho ta biết điều gì. Việc cần làm là tìm ra bước ngoặt chuyển tiếp, phân tích ra ý nghĩa thực chất của hình tượng, rồi nhất định biết được kết quả mà quẻ muốn báo.
Có một ví dụ thú vị. Vào buổi sáng ngày 3 tháng 10 năm 1996, một người họ Tăng hỏi tình hình kinh doanh của mình hôm mồng 1 tháng 10. Quẻ được lập theo giờ Ngọ ngày 21 tháng 8 năm Bính Tý là Nhu. Người đoán nói ngay: hôm đó anh mất của trước, tổn thất năm mươi đồng, về sau lãi một trăm sáu mươi đồng, doanh thu cả ngày ba nghìn hai trăm. Người ấy kinh ngạc, nói quẻ thật là thần kỳ, rồi lấy sổ ghi chép kinh doanh cho xem. Đó không phải thần kỳ, mà là hình tượng quẻ hiện ra, cho biết rõ ràng.
Khi quẻ đã lập, cần gắn chặt biểu hiện của quẻ tượng với sự việc được hỏi. Thông qua quẻ tượng suy ra xu thế phát triển của sự việc, nhưng không rập khuôn lý Dịch theo kiểu giáo điều. Ví dụ gặp quẻ Càn khi đoán người thì là ông già, người có quyền chức, nắm giữ quyền hành, không thể đoán là vật hình tròn. Nếu đoán động vật, thông thường có thể đoán là ngựa, không thể là sư tử, trừ phi ở sở thú hay thảo nguyên châu Phi.
Về nhà cửa, người đoán từng xem quẻ Cấu để kết luận một nhà vệ sinh ở hướng Đông Nam. Thượng quái Càn là ông già, tức là người, hạ quái Tốn có một hào âm ở dưới nên là miệng hố quay xuống, hai hào dương là chỗ đặt chân. Cả quẻ giống hệt hình một người ngồi xổm trên hố, và Tốn thuộc phương Đông Nam. Đó chỉ là hình tượng của quẻ hiện ra trực tiếp.
Bốn loại tượng cần nhìn
Cùng một quẻ nhưng có nhiều tầng tượng, và người đoán giỏi biết chọn tầng phù hợp với câu hỏi.
Tượng của quẻ đơn là tính chất: Càn kiện, Khôn thuận, Chấn động, Tốn nhập, Khảm hãm, Ly lệ, Cấn chỉ, Đoài duyệt. Tượng của hào là hình tượng do vị trí hào âm, hào dương trong sáu hào. Nếu đoán hình dáng người, chia chiều cao cơ thể thành sáu phần ứng với sáu hào: hào âm ở trên cùng ứng phần đỉnh đầu, và vì hào âm không liền mà đứt, nên người ấy chắc chắn có chỗ khuyết trên tướng mạo. Tượng của đại tượng là hình dạng của cả quẻ giống cái gì. Ví dụ quẻ Bác chỉ có một hào dương ở trên, năm hào âm ở dưới, hình giống một đầu tàu kéo rất nhiều toa, nên khi đoán vật thì có thể là một đoàn tàu. Tượng của trung hào là tượng của quẻ hổ, tức các hào 2, 3, 4, 5. Ngoài ra còn tượng đối ứng với việc đang hỏi: ví dụ hỏi thi đậu mà gặp quẻ Đỉnh, thì đó là tượng đoạt chức, giành huy chương vàng.
Quẻ thác và quẻ tống
Nếu muốn đến trình độ cao hơn, phải nhìn thêm quẻ thác và quẻ tống, vì ở đó thường chôn giấu nhiều thông tin sâu sắc. Quẻ thác là âm dương đổi chỗ cho nhau: hào âm biến thành dương và ngược lại. Quẻ tống là quẻ lộn ngược lại. Trong sáu mươi tư quẻ, chỉ có Càn, Khôn, Khảm, Ly, Đại Quá, Di, Tiểu Quá, Trung Phu, tám quẻ lật ngược vẫn y như cũ, nên chúng đối nhau theo lối thác. Năm mươi sáu quẻ còn lại đều lật ngược thành quẻ khác và tạo ra hai mươi tám cặp tống.
Ví dụ gặp quẻ Ích khi đoán vận mệnh. Quẻ Ích thuộc hỏa nên là tốt, nhưng bên trong ẩn tượng xấu, và từ quẻ tống của nó là quẻ Tổn thì biết có chuyện thương tổn tay chân do ngã. Cấn là cao, ở vị trí nguy hiểm, Đoài là khuyết, hao tổn, nên Cấn còn là tay chân. Việc ấy dễ xảy ra ở tuổi hai đến bảy. Vì vậy khi học và dùng, không thể bỏ qua tượng của quẻ thác và quẻ tống.
Quẻ lớn có thể là tượng của quẻ nhỏ
Một số quẻ trông như phiên bản phóng to của một quẻ đơn, và biết điều ấy giúp bớt rối khi đọc.
Lượng thông tin trong vật tượng của bát quái là vô hạn, nên khi chọn để dùng sẽ có tính ngẫu nhiên khá lớn. Chọn thế nào là dựa vào phạm trù dự đoán, quẻ nào áp dụng vật tượng gì thì nhất định phải đối ứng với sự việc được hỏi, không thể tùy tiện nói bừa. Những chữ đa âm đa nghĩa, như chữ “hành” hay chữ “hàng”, khi dùng vào trường hợp nào thì áp dụng nghĩa và cách đọc ấy. Trong “hành” của “ngân hàng”, “trường” của “trường đoán” hay “sinh trưởng”, cách đọc và nghĩa đều khác nhau, vừa nhìn đã biết, không cần mất công suy nghĩ để chọn.
Cũng cần chú ý một số quẻ có hình tượng đặc biệt. Quẻ Cấn nghĩa là dừng lại, giới hạn, còn quẻ Quan chính là tượng của đại Cấn, Cấn lớn. Quẻ Đoài là khuyết, là tổn, có thương tổn, còn quẻ Đại Tráng là tượng của đại Đoài. Quẻ Khảm là hiểm, là tai bệnh, còn quẻ Tiểu Quá là tượng của đại Khảm, hiểm lớn. Nắm những đối ứng này, người đoán có thêm một lối đi tắt khi gặp quẻ lạ.
Bát quái huyền tượng để làm sáng tỏ, nghĩa là qua hình tượng hiện ra của quẻ để đạt tới cảnh giới sáng tỏ, nên đoán quẻ chỉ cần dùng mắt nhìn, dùng mắt đọc. Cũng như đọc một quyển sách, nhìn thấy câu chữ là hiểu nghĩa nó biểu đạt. Xem quẻ cũng dùng mắt nhìn để đọc, dựa vào phương pháp trực quan đơn giản ấy, lại kết hợp với việc quan sát tượng của quẻ thác, quẻ tống và hạ quái, thì càng hoàn thiện và chính xác. Điều quan trọng là biết rằng không phải mọi nhiệm vụ đều cần kiến thức phức tạp: biểu thị việc ra sao, giản dị, minh bạch, xem là hiểu ngay.
Nguồn: Hoàng Giám, Dịch Hồn – Bát Quái Tượng Số Dự Trắc Pháp.
