Bài tổng quan
Số toán hòa hay lệch và cách an cung Mệnh Thân
Hai người cùng sinh một giờ, một người thuận buồm, một người long đong, và Thái Ất tìm lý do trong con số chẵn lẻ của mỗi người. Có số hòa, có số lệch, có số thiếu hẳn một trong ba tài Trời, Đất, Người. Từ đó hiện ra bảy thế bất thường, và mười hai cung nơi thân phận hiện hình…
Hai người cùng sinh một giờ mà một người thuận buồm, một người long đong. Môn Thái Ất giải thích bằng con số trời cho mỗi người: có số hòa, có số lệch, có số thiếu hẳn một phần của ba tài Trời, Đất, Người. Từ con số ấy, người xưa còn nhìn ra bảy thế bất thường rình rập suốt đời, và mười hai cung nơi mọi chuyện thân phận hiện hình.
Số Thái Ất chẵn lẻ và thế hòa
Kinh dạy rằng khi Thái Ất ở cung dương, toán được số chẵn. Khi ở cung âm, toán được số lẻ. Âm dương phối hợp nhau, chẵn gặp lẻ, thì gọi là toán hòa. Hòa thì cát, không hòa thì hung.
Người đời nếu được toán rất hòa, như mười bốn hoặc mười tám, thì trời đất hội nhau, âm dương giao thông: kẻ sĩ thi đỗ cao, người làm quan vinh hiển, người thường phát thịnh. Nếu được toán khá hòa, như hai mươi ba, hai mươi chín, ba mươi hai, ba mươi sáu, thì phúc lộc bền lâu, tai nạn không gặp. Nếu được toán hòa ở bậc thấp, như mười hai, mười sáu, hai mươi mốt, hai mươi bảy, ba mươi bốn, ba mươi tám, thì tài lợi đầy đủ, tai nạn ít. Ba loại toán hòa này, dù gặp lúc chín dương, một trăm lẻ sáu mà vận hạn xấu, người ta vẫn đổi được hung thành cát.
Những thế lệch: dương trùng, âm trùng, thuần dương, thuần âm
Chẵn lẻ không hòa nhau thì thành lệch, và mỗi kiểu lệch lại in vào tính nết một lối riêng.
Được số dương trùng và tạp, tức Văn Xương rơi vào các cung Khảm, Cấn, Chấn, Tốn mà toán ra mười ba, mười chín, ba mươi mốt, ba mươi bảy, thì là người tạp nhạp, chậm chạp. Gặp vận cùng số cực, gặp những năm chín dương, một trăm lẻ sáu, chắc chắn sẽ vướng quan tụng, hình ngục, bệnh tật ôn dịch. Nếu không thì cũng phải nghiến răng mà chịu chết, nên làm việc đức để cầu đảo.
Được số âm trùng và tạp, tức Văn Xương rơi vào các cung Ly, Khôn, Đoài, Kiền mà toán ra hai mươi bốn, hai mươi tám, thì là người phiêu lưu, tạp nhạp. Gặp vận cùng số cực hoặc những năm chín dương, một trăm lẻ sáu thì mất của, việc không thành, họa nằm trong chỗ mờ mịt, nếu quá thì mệnh tổn.
Được số dương trùng trong âm, tức Văn Xương ở Ly, Khôn, Đoài, Kiền mà toán ra mười một hoặc mười bảy, thì là âm loạn trong dương, cũng là người tạp nhạp, gặp nhiều trở ngại. Nếu có thêm thế giam hoặc ép thì là hạng giỏ cuồng, có ách hình ngục. Người nữ gặp thì sinh khó, huyết băng. Gặp năm chín dương, một trăm lẻ sáu thì tai họa đến không tránh được.
Được số thuần dương, tức Văn Xương ở Khảm, Cấn, Chấn, Tốn mà toán ra ba mươi ba, ba mươi chín, là người quá cường bạo. Gặp những năm hạn chín dương, một trăm lẻ sáu thì tai nạn tổn hại dồn dập, vàng lụa tán mất, nhẹ thì buồn thảm, nặng thì chết tuyệt vì tù hình.
Được số thuần âm, tức Văn Xương ở Ly, Khôn, Đoài, Kiền mà toán ra hai mươi hai, hai mươi sáu, là người nhu nhược. Gặp những năm hạn chín dương, một trăm lẻ sáu thì có tai họa tù ngục lâu dài. Người nữ gặp thì không chính, loạn phong tục, gặp trộm và bị trộm hại.
Khi ba tài còn thiếu một, hai hoặc cả ba
Ba tài là Trời, Đất, Người. Được ba tài mà không có toán, lại thêm ếm, kích, giam, cách, thêm yêu tinh phá phách, là người sáu thân xa lìa, phá nghiệp bại nhà, làm nhiều điều không chính.
Toán không có số Trời, từ một đến chín đơn: nhỏ thì cha chết, phá sản mất nghiệp, nhỏ không tập lễ nghĩa, lớn không giữ được điều chính. Toán không có số Đất, từ một đến bốn, mười một đến mười bốn, hai mươi mốt đến hai mươi bốn, ba mươi mốt đến ba mươi bốn: nhỏ thì mẹ chết, phá bỏ vườn đất, hại vợ. Toán không có số Người, tức các toán mười, hai mươi, ba mươi, bốn mươi, nghĩa là không có số một: có nghiệp không dựng nên, có quan không chính, đi học có lời mà không chính, việc làm thì dối trá, dại dột, ăn mặc thiếu thốn.
Trong ba tài mà thiếu hai tài thì dù mệnh ở ngôi cao, dù có sao phúc đến cũng không khỏi tai nạn hình ngục, hoặc thường gặp lở độc, ôn dịch. Nếu ba tài đều thiếu, chỉ được một mà thêm thế giam thì tai họa càng nặng. Nếu có thêm hai Mắt, bốn Tướng rơi vào đất ếm, cách, chặn, giam, gặp nạn chín dương một trăm lẻ sáu đuổi theo, hoặc nền quân mới kích cùng cung, lại thêm Thái Tuế gặp thế đâm đuổi, thì chắc chắn có tai nạn hình hiến.
Có một lời tổng kết đáng ngẫm: Thái Ất trong dương quá thì cứng, trong âm quá thì yếu. Lẽ tạo hóa của trời đất không bao giờ cho đủ mười phần, vì tại chỗ nở mòn.
Bảy thế bất thường chiếu vào đời người
Mỗi thế chiếu vào mỗi tuổi một kiểu, như cùng một cơn gió nhưng thổi vào trẻ nhỏ, người trung niên và kẻ già thì sinh ra những hệ quả khác nhau.
Bảy thế bất thường gồm ếm, kích, ép, cách, giam, chặn, đối, và người xưa dặn rằng chúng giữ việc tai nạn phát sinh trong năm đang xét. Khi tra, phải lấy Kể ngày, cung sống, thân, mệnh, rồi xem thêm gốc sống, ngày, giờ để định mấu chốt.
Ếm: khi sao Thủy Kích tới cung Thái Ất. Thái Tuế gặp thì cha con ly biệt, việc khóc lóc. Chín dương gặp thì trộm cắp, xâm lấn, hoặc thân bị giam hình ngục. Tuổi trẻ gặp thì mê rượu mê gái cuồng loạn. Người già gặp thì tật bệnh dẫn đến chết. Tuổi đứng gặp thì phá lui nghiệp nhà. Trẻ nhỏ gặp thì tổ ly, nhọt sảy. Người âm gặp thì sảy thai, mất con, huyết băng. Tất cả đều nên làm đức để miễn tai nạn.
Kích: Thủy Kích đứng trước Thái Ất là kích ngoài, đứng sau là kích trong. Ở cung gián hay cung tiếp liền Thái Ất là thời kích, cách Thái Ất một cung là cung kích. Thái Tuế gặp thì cửa nhà kinh quái, gió lửa, trộm cắp, chuyện dâm dật không chính, hoặc tai họa bị ai ôn dịch. Nếu không có ba tài thì năm ấy trúng gió chết bạo. Người giữ số hạn gặp thì mất quan chức, mất quyền. Thầy tăng gặp thì không trộm cắp thì cũng tục lụy, người dưới gặp thì ốm bệnh. Kích kèm lửa tiêu Kim thì hại đến thân. Cung kích: tai nạn đến chậm. Thời kích: tai nạn đến gấp.
Ép: Thủy Kích cùng bốn Tướng đứng trước hoặc sau Thái Ất. Thái Tuế gặp thì mọi tai họa cùng phát. Số hạn gặp thì tiền vải phá tan. Tuổi trẻ thì cuồng dâm mất nghiệp, tuổi già thì khí lui, tật bệnh. Quan lại thì mất quyền. Người âm thì sinh khó.
Cách: Thủy Kích và Thái Ất đối nhau. Hoặc Mắt khách và Tiểu Tướng đối cung Thái Ất. Thái Tuế gặp thì sinh nhiều ách nạn. Thân mệnh gặp thì họa đến thân. Số hạn gặp thì tai họa, ngục hình cùng phát. Ngày cách thì thê thiếp gặp ương. Giờ cách thì con cái tổn thương. Thiếu ba tài thì ắt gặp đồ hình. Người già gặp thì hạn hết.
Giam: bốn Tướng cùng cung với Thái Ất. Cũng có lời nói khi Thái Ất cùng Văn Xương và bốn Tướng ở một cung thì cũng là giam. Chín dương gặp mà ở đất tuyệt dương, như đất Đại Linh tức Tốn, thì điên cuồng mất trí. Trăm lẻ sáu cùng Thái Tuế hợp nhau lại thiếu ba tài thì chôn vợ hại con, bệnh tật kinh sợ và tai nạn giam hình. Người âm nên phòng sinh khó hoặc nạn nhọt lở.
Chặn: Văn Xương và Thái Ất cùng cung. Cũng có khi Văn Xương gặp bốn Tướng cùng cung thì khách chặn chủ; Đại Tướng chủ phạm nhị tinh là chủ chặn khách; Đại Tướng, Tiểu Tướng khách cùng cung cũng là chặn. Thái Tuế gặp thì sáu thân không hòa. Ngày giờ gặp thì luôn có tiếng khóc. Số hạn gặp thì mệnh đến suối vàng. Nếu chặn vào cung cha mẹ thì tai họa khóc người trên. Vào cung nhà đất thì nhiều tổn hủy. Vào cung thê thiếp thì vợ không yên. Vào cung quan lộc thì mất chức.
Đối: Thái Ất và Văn Xương đối nhau, hoặc Thái Ất đối cung Đại, Tiểu Tướng. Văn Xương và Thủy Kích đối nhau là giam ngoại. Thái Tuế gặp thì có việc lo sợ. Hạn một trăm lẻ sáu gặp đối xung lại thiếu ba tài thì trong năm chết bạo, nhẹ thì bệnh hoạn. Hạn chín dương gặp thì năm ấy có tai nạn ngục lao. Người âm và trẻ nhỏ gặp thì kinh sợ và có thể chết thắt cổ. Đều nên làm đức mà cầu đảo.
An cung Mệnh, Thân và mười hai cung
Muốn đặt cung Mệnh, lấy tháng sinh đặt trên địa chi của năm, đếm đến giờ sinh thì an Mệnh. Muốn đặt cung Thân, lấy ngày sinh làm gốc: trai dương gái âm thì đi thuận, trai âm gái dương thì đi ngược. Mười hai cung thứ tự là: Mệnh, Anh em, Thê thiếp (hoặc Phu), Con cái, Của cải, Nhà đất, Quan lộc, Đầy tớ, Tật bệnh, Phúc đức, Tướng mạo, Cha mẹ.
Khi Nền Vua cùng Thủy Kích chiếu lên cung Thân, Mệnh, ngày hoặc giờ thì có bệnh tim, bệnh ung độc. Khi Du Nhỏ cùng Phép Tôn ở chung cung với Thân, Mệnh, ngày hoặc giờ thì có bệnh mủ huyết. Khi Ất Trời cùng Phép Tôn thì ho lao. Khi Ất Đất cùng Phép Tôn thì bệnh phổi, tật mắt.
Cung Mệnh: gặp Nền Quân, Nền Thần, Năm Phúc, Thần Kể là người quan thanh hiển. Gặp Nền Dân là chủ tiền lụa, dân lương thiện. Gặp Đại Chủ, Tham Chủ là chức võ, có binh quyền, gần vua. Gặp Đại Khách, Tham Khách là chủ binh quyền ngoài biên cương. Cung Anh em: nhiều sao cát chiếu thì được nhiều người phù trợ, sao hung thì không có sức. Cung Thê thiếp: gặp sao lành thì được lành, sao hung thì xấu, không thì mất đoàn tụ. Cung Con cái: sao cát thì con quý, sao hung thì con hại, con xa. Con trai, tính theo mười hai sao: Nền Quân, Nền Thần, Năm Phúc được ba con; Nền Dân, Thần Kể, Đại Khách được hai con; Bài Văn, Ất Trời được bốn con; Đại Chủ được năm con; Tiểu Chủ, Tiểu Khách được một con. Con gái, tính theo bốn sao: Bùa Bay, Mới Kích được ba con; Ất Đất, Bốn Thần được hai con.
Cung Của cải: sao cát thì rộng và dày, sao hung thì tụ rồi tán. Cung Nhà đất: sao cát hưởng nhiều nghiệp tổ, sao hung phá tổ rồi tự gây dựng lại. Cung Quan lộc: gặp lành thì quý hiển, gặp hung thì hóa bại. Cung Đầy tớ: lành thì được việc, hung thì không được việc. Cung Tật bệnh: lành thì ít bệnh, hung thì nhiều bệnh thêm tật đau. Cung Phúc đức: cát thì phúc dày, hung thì lao khổ. Cung Tướng mạo: cát thì đẹp đẽ, hung thì xấu xí. Cung Cha mẹ: cát thì toàn vẹn, hung thì hại, xa. Nếu gặp đủ bốn sao hung cùng Mới Kích thì thành người côi cút.
Nguồn: Nguyễn Bỉnh Khiêm, Thái Ất thần kinh.
